30-4-1975 - 30-4-2006:

Nhớ Đau Thương, Nhìn Hiện Tại, Càng Đấu Tranh

Diệu Trí

Chỉ còn vài ngày nữa là kỷ niệm ngày đau thương 30-4. Đã 31 năm rồi, nhưng mấy ai quên được những ngày đen tối đó.

Nhắc lại để đối chiếu với hiện tại, và nhìn về tương lai. Làm sao quên được hình ảnh những người tị nạn chạy từ Trung vô Nam, qua mọi nẻo đường đầy lửa đạn nghịch thù, hay trên những chiếc thuyền nghẹt cứng.

Làm sao quên được Vũng Tàu, với Bến Cá, cảng Alaska, Bãi Trước nơi người tị nạn đau đớn lặng lẽ cập bờ.

Làm sao quên được những người tị nạn ở sân vân động, ở các viả hè, ở làng cô nhi Long Thành, ở rừng cao su dọc quốc lộ 15.

Làm sao quên được bầu trời đen tối ảm đạm, với trận mưa như xối, với sấm chớp hãi hùng chiều ngày thứ Thứ Hai, khi Dương văn Minh nhậm chức. Điềm trời báo hiệu một tương lai đen tối, ghê rợn, đầy nước mắt và tang tóc.

Làm sao quên được tiếng rào rào liên tục của đoàn trực thăng Chinook Hoa Kỳ di tản, trong sự bàng hoàng của dân chúng, và sự ngỡ ngàng của người lính cộng hòa.

Làm sao quên được cái im lặng rợn người ập xuống, khi chiếc trực thăng cuối cùng bay đi, khi tiếng xe tăng Cộng Sản bắt đầu tràn vào thành phố.

Làm sao quên được nét mặt hốt hoảng của người dân Sài Gòn chạy tìm đường tẩu thoát, những tai nạn không phương cứu chữa, trong một bầu không khí tuyệt vọng.

Và cũng làm sao quên được nét mặt u buồn, dáng đi uể oải của người lính Cảnh Sát Dã Chiến đầy ngỡ ngàng, hay xác của người lính Dù nằm chết ở chân cầu Tham Lương.

Làm sao quên được cái cảm giác bị phản bội, bị thả vào một thế giới xa lạ, rợn người và kinh dị. Cái cảm giác rờn rợn khi mà chỉ một sớm một chiều, phải sống từ một thế giới này sang một thế giới khác, một xã hội này sang một xã hội khác, ở ngay trên Đất Nước mình mà không có quyền chọn lựa. Biết bao nhiêu người đã khóc, đã than, đã lặng người, đã tự sát. Tự sát vì uất, tự sát để khỏi bị nhục.

Làm sao quên được những hình ảnh xa xôi nhưng thân thiết, những bạn bè quen thuộc, những người còn sống và những người đã chết.

Làm sao quên được những nấm mồ phủ lá quốc kỳ ở giữa cánh đồng bao la, hay bên sườn núi, hay ở nghĩa trang quân đội. Làm sao quên được những người lính can trường nhưng chân thật, những người quả phụ chịu đựng gian khổ, âm thầm nuôi con, hy sinh tất cả mà không đòi gì cả.

Làm sao quên được hình ảnh những thương binh QLVNCH bị đuổi ra khỏi các quân y viện. Đau đớn tủi nhục nào bằng! Và tội ác nào bằng tội ác đó! Những người thương binh đó, đã hy sinh một phần thân thể mình cho VNCH, bỗng dưng không được săn sóc, không được cấp dưỡng, bị vứt ra đường, giữa cơn lốc đang tràn ngập toàn bộ Miền Nam. Vết thương tinh thần đè nặng lên vết thương thể xác, trong cơn tuyệt vọng của một sự bỏ rơi. Con người nào chịu đựng nổi niềm đau đó? Chắc chắn khi họ nằm ở Tổng Y Viện Cộng Hòa, và nghe tiếng động ồn ào của cuộc bỏ chạy, tâm hồn họ đã phải trải qua những giờ phút bi thảm nhất của cuộc đời. Người ta đã để lại bao nhiêu chiến hữu trong đau thương, trong tủi nhục, trong tận cùng của tuyệt vọng và oán hờn. Và làm sao quên được bộ mặt đầy kiêu ngạo, huênh hoang, khoác lác của những người tự cho là kẻ chiến thắng, vào miền Nam, nói là để giải phóng, nhưng coi tất cả là chiến lợi phẩm!

Làm sao quên được những sự chiếm đoạt nhà cửa, xe cộ, những sự kỳ thị trắng trợn, những độc quyền thụ hưởng nham nhở, những sự ăn chặn bỉ ổi, hoặc làm tiền công khai, của những người tự xưng là cách mạng.

Họ là những người đạo đức giả, cách mạng giả. Thực chất họ là một lớp người tham lam, thèm thuồng đủ thứ, coi thường đạo đức, mù quáng tin theo một số giáo điều, mang nặng tác phong của cường hào ác bá, của những người bóc lột trắng trợn.

Làm sao quên được những lời hứa hẹn xảo trá về học tập cải tạo, sự lật lọng, sự trở mặt của nhà cầm quyền cộng sản khi họ cưỡng chiếm Miền Nam bằng xe tăng và đại bác.

Làm sao quên được nỗi lo sợ khi nghe tiếng động về đêm, tiếng xe thắng lại gần nhà, tiếng đập cửa, mà người Tây Âu đã trải qua dưới thời Đức Quốc Xã.

Làm sao quên được những lúc phải đốt sách, đốt ảnh, đốt bao kỷ niệm của một thời.

Làm sao quên được những nỗi đắng cay, những thổn thức nhức nhối tim can, khi phải đốt những vật thiết thân. Rõ ràng tự do đã một sớm một chiều bị hủy diệt.

Làm sao quên được những vụ đổi tiền nghiệt ngã, những vụ chiếm nhà, đuổi dân đi "vùng kinh tế mới", những vụ bắn giết bừa bãi ở giữa lòng đô thị, những chiến dịch "cải tạo công thương nghiệp" đầy man trá, mà thực chất là tước đoạt trắng trợn.

Làm sao quên được những lời lẽ ngọt như đường và tiếp đó là những hành động cực kỳ xảo trá và tàn nhẫn.

Làm sao quên được những tiếng thở dài não nuột oán sầu, những ánh mắt hờn căm, những sự im lặng nặng trĩu tâm hồn, đầy uất nghẹn của người dân miền Nam, những giọt nước mắt chảy dài trên má của những người mẹ, người vợ, người chị, người em, của những trẻ thơ hay của những người già cả, đang lặng lẽ nguyện cầu cho những người thân trong lao tù, trong trại tập trung, hay đã ra đi tìm một chân trời rộng mở.

Làm sao quên được hình ảnh những trại tập trung, với những chòi canh, với những toán lính canh lạnh lùng nham hiểm, và những người bị canh giữ, áo quần xốc xếch, rách rưới, xanh xao gầy gò vì thiếu dinh dưỡng, vì bệnh hoạn mà không được săn sóc.

Làm sao quên được những đoàn người, dưới ánh nắng như thiêu như đốt, chậm chạp lê chân vì đói lả, đi làm rẫy mà không được trang bị dụng cụ để làm rẫy, đi làm rẫy bởi đó là lao động khổ sai. Chúng tôi nhìn nhau đầy cảm thông và thống hận. Thân ái dù không quen, thân thiết dù xa lạ, chỉ vì đồng cảnh ngộ, chỉ vì đồng thân phận, thân phận người dân miền Nam.

Làm sao quên được những chuyến xe đò chật ních thân nhân đi thăm người thân ở các trại tập trung, mang nặng những u buồn của những bà mẹ từ ruộng đồng miền Tây xa xôi, của các người chị từ miền Trung nghèo khó cách trở, của các người vợ, người em ở Sài Gòn nghiệt ngã, mà những tiếng thở dài trong đêm, tưởng chừng như những lời oán than sâu đậm, xuất phát tự chiều sâu của tâm tư, hay nét mặt ngơ ngác, cặp mắt buồn bã của những trẻ thơ, khi phải từ giã cha, anh. Chắc chắn trong tâm tư mỗi người đều nhúm lên ý chí giải phóng, ý chí đấu tranh để tìm lại tự do cho mình và cho Đất Nước.

Làm sao quên được những ngày dài lao động nhọc nhằn và vô ích, mà mục đích chính là để đày đọa con người. Dưới chế độ độc tài bạo ngược cuả cộng sản, người ta đã làm rất nhiều chuyện ngu xuẩn, người ta đã đày đọa con người đến chỗ tận cùng của khốn khổ, lầm than.

Ba mươi mốt năm sau, chế độ cộng sản ác độc, dối trá vẫn còn đó, và tự do dân chủ vẫn còn là một ước mơ đối với đồng bào trong nước. Bây giờ thì không còn chủ trương man rợ dùng đói khổ để cai trị như những năm đầu sau 1975, không còn phải bị chói tai nhức óc vì những lời tuyên truyền ngây ngô, không còn thấy cảnh những loại "người cách mạng 30", nịnh nọt những người đi dép râu ngồi "chò hỏ" trên ghế nệm xe hơi, để hù họa đồng bào bị sa vào sự thống trị của chế độ cộng sản. Bây giờ thì cũng hết cảnh chùa chiền vắng bóng, nhà thờ thanh vắng, đi đâu cũng phải "tụng niệm Mác Lê và Bác Hồ anh minh". Thế giới đổi thay, thời đại đổi thay, nên bộ mặt, phong cách của chế độ cũng phải đổi thay để tồn tại. Những người ở trong nước bây giờ đã có thể ăn ngon mà khỏi sợ, mặc đẹp mà khỏi lo, đi lễ nhà thờ, đi chùa cúng bái mà không ngại. Người có nhiều tiền có thể mua sắm xe hơi đắt giá, xây cất biệt thự, đi du lịch các nuớc tư bản cũng không phải là ít. Thế nhưng, bên cạnh những đổi thay bề mặt đó, bản chất độc đoán độc quyền của chế độ không những không thay đổi, mà còn để lộ nét những đặc tính vô cùng bỉ ổi có thể làm di hại đến tương lai của dân tộc.

Chế độ vẫn tiếp tục cấm đoán mọi biểu hiện của tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do tôn giáo, đàn áp những ai không chấp nhận chủ nghỉa xã hội, đòi hỏi, nhân quyền, nhân phẩm. Chế độ coi tất cả những người đó là kẻ thù phải trấn áp, dù đó là những nhà tu hành chân chính, muốn hành Bồ Tát Đạo, dù đó là những người trí thức có lương tri, những sĩ phu hiếm có của thời đại, dù đó là những cựu đảng viên, những cựu chiến binh đã có thời chấp nhận hy sinh gian khổ để họ nắm trọn đất nước, hay dù đó là những bà mẹ ở nông thôn đã từng nuôi dưỡng họ mấy chục năm về trước. Nói chi đến những người trước đây là dân miền Nam, thì cho đến bây giờ vẫn còn là công dân hạng hai, được sống yên thân nhưng phải cúi mặt. Ba mươi mốt năm về trước những người cộng sản vào Nam thống trị, chỉ biết đánh tư sản dân tộc,đánh tư sản mại bản, đánh đia chủ, đánh trí thức tiểu tư sản, đánh dân ngụy đã có tội sống dưới chế độ tự do và kinh tế thị trường. Đánh để tước đoạt. Đánh để cướp đoạt. Ba mươi mốt năm sau, những con người cộng sản đó đã trở thành những trùm tư bản đỏ, chỉ biết tôn sùng đô la, tập tành sống theo kiểu trưởng giả quan liêu, phong kiến của thời thực dân phong kiến, trước sự ghê tởm của nhân dân. Bây giờ đã thấy lại hình ảnh quan ông, quan bà tập tành đài các bệ vệ, cậu ấm, tiểu thư vênh váo xì lô xì la tiếng Mỹ tiếng Anh, "con sen, bồi bếp, tài xế" lăng xăng làm người giúp việc cho quan lớn v.v. Xã hội không tiến mà lại còn thụt lùi thê thảm...

Đã ba mươi mốt năm rồi, những người di tản, những người vượt biên vượt biển, những người tù cải tạo trong rừng sâu núi thẳm, có người đã bỏ mình ở núi rừng quê hương từ Bắc chí Nam, có người đã vùi thây trong biển cả hay trên các đảo san hô cô quạnh ở Thái Bình Dương, có người đã thênh thang siêu thoát, nhưng cũng có người uổng tử, vong hồn còn lẩn quất ở Quê Hương và chỉ có thể thanh thản về nơi an lành, khi oan nghiệt đã được trả. Những oan hồn đó đang ngày đêm ám ảnh những người đã phản bội họ và những người lãnh đạo chế độ này. Hàng triệu người đến được bến bờ tự do, đã lập nghiệp. Ở xứ người nhưng lòng vẫn không quên quê tổ. Ngoại trừ phường giá áo túi cơm mà thời đại nào cũng có, đại đa số người Việt lưu vong, tạm cư hoặc định cư nơi xứ người, đều giữ lửa, khi bùng cao, khi âm ỉ, nhưng lửa vẫn còn đó, chỉ đợi dịp là bùng lên rực sáng. Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, vẫn hiên ngang lộng gió trên mọi vùng trời tự do của thế giới. Không ai bắt buộc, không ai xui khiến, không ai mua chuộc, thế mà người Việt có lòng vẫn tự mình hãnh diện và trân quý trưng cao. Càng xa Đất Nước càng gần Quê Hương. Văn Hoá Dân Tộc, Truyền Thống Tổ Tiên chưa bao giờ được đề cao như hiện nay trong lòng cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản.

Đã ba mươi mốt năm rồi thế mà các công cuộc đấu tranh cho Dân Chủ, Tự Do, Nhân Quyền nhằm loại bỏ chế độ bất nhân bất nghiã đang ngự trị ở Quê Nhà, vẫn sống động không mệt mỏi. Người này nằm xuống, kẻ khác đứng lên, người này ngừng nghỉ, kẻ khác dũng mãnh tiến lên. Thế hệ trẻ nhập cuộc một cách chững chạc sâu sắc, mặc dầu xa lạ với ngày 30-4-75, quả là một nhiệm mầu của tinh thần dân tộc. Phép lạ của tình tự dân tộc thể hiện rõ nét hơn nữa với sự tham gia tích cực đấu tranh cho dân chủ tự do của những đồng bào đã từng sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ. Truyền thống đấu tranh cho đại nghiã của dân tộc vẫn tiếp tục lưu chuyển trong máu huyết người Việt.

Người Việt Nam có lương tri làm sao không thấy những người cầm quyền hiện nay,miệng thì nói vì dân vì nước nhưng thực chất chỉ vị tiền vị lợi riêng tư.

Làm sao không thấy những người tự xưng là xã hội chủ nghiã nhưng đã trở thành những tên tư bản đỏ, những trùm mafia, những tên mại bản tay sai cho tư bản rừng rú, bóc lột người lao động Việt Nam, hoặc kềm kẹp đàn áp đồng bào mình để được lòng tư bản ngoại quốc, trục lợi trên mồ hôi nước mắt của chính đồng bào mình. Họ chiếm đoạt tài nguyên của đất nước, họ tước đoạt công lao của đồng bào, họ thiết lập một giai cấp thống trị vô liêm sĩ, giàu có hưởng thụ nham nhở, buồn nôn.

Làm sao không thấy xã hội trụy lạc, đầy dẫy bất công, đạo tặc hoành hành, xì ke, ma túy, đĩ điếm lan tràn, người dân lương thiện bị trăm ngàn khổ ách.

Làm sao không thấy các tôn giáo bị kềm kẹp, những người đấu tranh cho dân chủ bị đàn áp thô bạo, những người có lý tưởng, có lương tri bị đe dọa trắng trợn, trù dập, quản thúc,hết năm này qua năm khác, nối tiếp nhau vào tù, ra tù rồi lại vào tù, để đến nỗi nhà thơ Bùi Minh Quốc đã phải than "trong phòng thẩm vấn": "Ôi Tổ Quốc vào tay quỉ dữ, Tiếng hát Tự Do uất nghẹn khắp thân mình".

Làm sao không biết đảng cộng sản bỏ tù tiếng nói, đảng độc quyền cai trị, đảng là trên hết, trên cả quốc hội, trên cả nhà nước, trên cả toà án. Luật Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp đều không bằng một nghị quyết của đảng. Mà đảng, thực chất là "đảng cướp" như nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã viết trong tập thơ Hoa Địa Ngục.

Làm sao không biết những lảnh tụ của đảng đều làm tay sai của ngoại bang, không Trung Quốc thì Liên Xô, hết Liên Xô thì trở lại Trung Quốc, và ngày nay thì lăm le khấu đầu Mỹ Quốc để mong giữ được quyền lực cai trị nhân dân. Nếu cái thời đại ca tụng nham nhở tổ quốc xã hội chủ nghiã Liên Xô, hay tư tưởng Mao Trạch Đông vĩ đại đã qua rồi, thì cái thủ tục đi chầu thiên cung Trung Nam Hải vẫn phải thực hiện theo đúng vai trò gia nô của chế độ Hà Nội. Bắc Kinh nói không thì Hà Nội nói không, Bắc Kinh nói có thì Hà Nội nói có, Bác Kinh chửi Mỹ thì Hà Nội chửi Mỹ, Bắc Kinh tươi cười với Mỹ thì Hà Nội tươi cười với Mỹ, trò bắt chước thầy một cách rõ nét. Thiên hạ trên thế giới đều thấy cái quan hệ gia nô của Hà Nội đối vớí Trung Quốc. Dẫu được ngụy trang với những lời giải thích huê dạng, thì cũng chẳng ai tin và uy tín của nước Việt Nam cộng sản hiện đang tuột dốc thê thảm.

Làm sao không biết đảng đã bán đứng quần đảo Hoàng Sa cho Trung Quốc khi những người Việt quốc gia đã quyết tử để bảo vệ hải đảo của đất nước; làm sao không biết lãnh tụ của đảng là Hồ Chí Minh đã bán đứng cụ Phan Bội Châu cho mật thám thực dân Pháp. Ngày nay đảng lại bán tài nguyên đất nước, phụ nữ, lao động Việt Nam cho ngoại quốc như một món hàng. Đây là một quốc nhục.

Làm sao không thấy đảng chạy ngược chạy xuôi để xin làm ăn với Mỹ mà trước đây đảng cộng sản đã hy sinh hàng triệu người Việt Nam để "đánh cho Mỹ cút", để "xây dựng thiên đàng xã hội chủ nghĩa". Nói khác đi đảng sẵn sàng bán mình với bất cứ ai, miễn là được nắm quyền cai trị trên đầu trên cổ nhân dân, cho dù phải phản dân, phản nước.

Một số người Việt Nam, vì hèn nhát, vì ham lợi, muốn quên nhưng những oan hồn tử sĩ Việt Nam, những người Việt Nam đã gục ngã ở các trại tập trung, ở biển cả, ở đồng ruộng, ở phố phường một cách tức tưởi, sẽ mãi mãi ám ảnh lương tâm họ. Chỉ khi nào người Việt Nam tìm lại được sự thanh thản của tâm hồn, chỉ khi nào những hy sinh của người Việt Nam không còn là những hy sinh vô ích và oan uổng, chỉ khi nào Tự Do, Dân Chủ ngự trị trên quê hương Việt Nam, thì khi đó người ta mới có quyền lật qua trang sử đau thương uất nghẹn đó.

Hôm nay đây, xin thành tâm hướng về Quê Mẹ, để nhớ đến tất cả, và hứa sẽ không bao giờ quên. Xin đừng quên những người đang sống những ngày dài tăm tối trong các trại tập trung, trong các nhà tù ghê rợn, hay đang bị quản thúc nghiệt ngã trong nhà tù lớn bao trùm cả nước.

Cũng xin đừng quên tám mươi triệu đồng bào, từ Bắc chí Nam, đang sống trong một xã hội không có tự do dân chủ nhân quyền, và hàng ngày vẫn nguyền rủa chế độ, một chế độ dối trá, vô đạo, và gia nô ngoại bang một cách vô liêm sĩ. Xin đừng quên những người Việt Nam, đã chiến đấu, đã gục ngã hoặc đang chiến đấu trên mọi lãnh vực, tại quê nhà hay ở hải ngoại, để đem lại Dân Chủ Tự Do, Nhân Quyền, Nhân Phẩm cho mọi người Việt Nam.

Xin đừng bao giờ quên quê Mẹ và cũng xin đừng bao giờ quên những lỗi lầm quá khứ, những chia rẽ, tị hiềm, những độc quyền đấu tranh, những đầu óc bè phái, những thái độ vọng ngoại, thờ ơ, trùm chăn, chỉ biết hưởng thụ, lo cho quyền lợi cá nhân, gia đình, đảng phái, mà quên đi quyền lợi của Tổ Quốc và Dân Tộc... mà hậu quả là những ngày đen tối với bao tai họa của Quê Hương, để cùng nhau tay nắm tay, góp phần xây dựng lại Đất Nước, để nhân dân Việt Nam được sống Hạnh Phúc, Tự Do và Thái Hòa, trong một nưóc Việt Nam độc lập và thân hữu với cộng đồng thế gìới.

Xin đừng quên Việt Nam.

Tháng 4-2006

Diệu Trí