32 năm nhìn lại
Lữ Giang
Tính đến ngày 30 tháng tư này, nóii chung người Việt đã sống trên đất Mỹ 32 năm. Nhưng từ ngày Miền Nam hợp tác với Mỹ để chống cộng sản đến nay là đã 52 năm.
Ngồi đọc lại vài chục ngàn trang tài liệu về chiến tranh Việt Nam từ 1954 đến 1975 do chính phủ Hoa Kỳ giải mã, người ta khám phá ra rất nhiều bí ẩn lịch sử mà chúng ta chưa từng biết đến, kể cả vụ đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1963 đến vụ mất miền Nam năm 1975. Mặc dầu còn một số văn kiện chưa được công bố, nhưng với chừng đó tài liệu, người ta cũng có thể hiểu được người Mỹ đã đi vào cuộc chiến Việt Nam như thế nào, điều hành cuộc chiến đó ra làm sao, và tại sao họ đã quyết định số phận của miền Nam nghiệt ngã như thế, v.v...
"Anh Hai Nhân Quyền"!
Nếu nói vể cơ hội để biết và hiểu người Mỹ cũng như chính sách của chính quyền Mỹ, có lẽ không ai bằng người Việt trên đất Mỹ, vì họ đã chiến đấu với người Mỹ 20 năm và đã sống trên đất Mỹ 32 năm. Thời gian 52 năm đồi với lịch sử không nghĩa lý gì, nhưng đối với đời người, đó là một khoảng thời gian khá dài và đủ để rút ra được nhiều bài học.
Gần như người Việt nào cũng thuộc câu
“Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bách thắng”, tức biết người biết mình trăm trận trăm thắng, và một số người Việt lưu vong còn gọi chính quyền Mỹ là “Siêu Cộng Sản”, nên chúng ta tưởng họ đã biết khá rõ người Mỹ, nhưng nhìn lại cuộc đấu tranh chống cộng của người Việt hải ngoại trong suốt 32 năm qua, chúng ta nhận thấy rất nhiều người và nhiều tổ chức chưa hiểu về người Mỹ và chính sách của Mỹ từng giai đoạn một cách chính xác.
Thế giới đã đổi thay và đang tiến tới giai đoạn toàn cầu hoá, vượt qua biên giới của nước nọ nước kia, nhưng nhiều người Việt đấu tranh vẫn cứ tưởng thế giới đang ở trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Họ vẫn coi chính quyền Mỹ là
Anh hai chống cộng và
Anh hai nhân quyền , nên nhât định tiếp tục lội ngược dòng.
Tuần này, nhân kỷ niệm 32 năm ngày miền Nam thất thủ, chúng tôi xin ghi lại dưới đây một số sự thật lịch sử với ước mong những người đang chống cộng có thể rút ra được những bài học lịch sử.
Chuyện Tổng Lãnh sự Francis
Trong cuốn
“Can trường trong chiến bại, hành trình của một thủy thủ” mà chúng tôi đã giới thiệu kỳ trước, ở Chương 26, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại có kể lại rằng sau khi rút khỏi Đà Nẵng, ông đưa hải đội về đến Vũng Tàu rồi dùng trực thăng về trình diện Đô Đốc Chung Tấn Cang và làm phúc trình về cuộc hành quân vừa qua. Sau đó ông được chỉ định ra Vũng Tàu thay thế Phó Đề Đốc Vũ Đình Đào đang đi chỉ huy lực lượng Hải Quân tại Phan Rang. Trong thời gian đó, một vài sự kiện lạ xẩy ra đã làm ông ngạc nhiên. Trước hết là chuyện Tổng Lãnh Sự Đà Nẵng Albert Francis muốn gặp ông. Ông kể lại câu chuyện này như sau:
Trước khi tôi về Sài Gòn để trình diện Đô Đốc Chung Tấn Cang, ông Albert Francis, Tổng Lảnh Sự Hoa Kỳ Đà Nẵng, có đến nhà Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn tại khu sĩ quan Hải Quân nhờ Đại Tá Sơn trao lại cho tôi ba hộp thuốc Amphora, loại cho ống vố, mà ông Francis biết tôi rất thích. Ông nhắn với Đại Tá Sơn là khi tôi về Sài Gòn phải liên lạc ngay với ông.
Khi tôi gọi điện thoại cho ông tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ thì ông mời tôi lên văn phòng ông nói chuyện chơi. Khi tôi tới phòng khách Tòa Đại Sứ thì tôi gặp ông Lê Văn Bình, nhân viên tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Đà Nẵng đang ngồi tại đó. Một lúc sau ông Francis ra phòng khách gặp tôi và đưa tôi vào thang máy lên luôn tới nóc Tòa Đại Sứ. Trên đó có một trực thăng của Air America, có phi hành đoàn ngồi chờ sẵn trong phi cơ.
Tôi không hiểu chuyện gì hết. Ông Francis đã biết tôi thắc mắc nhưng vẫn không nói gì hết mà lại ra dấu hiệu cho tôi lên trực thăng. Khi chông chóng trực thăng quay, tiếng rất ồn, ông Francis xoay qua tôi từ trên ghế trực thăng nói qua máy vô tuyến của trực thăng: “Tôi muốn anh chỉ cho trực thăng biết cái trailer nào vợ con anh đang ở trong Hải Quân Công Xưởng và một chút nữa chúng ta sẽ bay ra Vũng Tàu, tôi muốn anh chỉ cho phi công từ trên nhìn xuống chỗ nào là văn phòng làm việc của anh.” Lúc bấy giờ tôi mới hiểu ý ông Francis, một người đã đến phút chót vẫn tìm mọi cách giúp tôi.
Khi trực thăng bay trên Hải Quân Công Xưởng tôi chỉ trailer vợ con tôi đang ở, ông Francis nói là tốt lắm vì kế bên đó có sân quần vợt nên trực thăng sẽ đáp dễ dàng. Khi chúng tôi bay từ Sài Gòn ra Vũng Tàu, nhìn xuống thành phố Sài Gòn và cảnh bến tàu, và con sông Lòng Tảo mà tôi rất quen thuộc trong thời gian phục vụ trên chiến hạm, con sông mà tôi thuộc lòng từng khúc quanh, từng lùm cây mà tôi thường quan sát từ chiến hạm, sợ nơi địch có thể đặt súng bắn vào chiến hạm. Đất nước miền Nam sao mà quen thuộc và dễ thương! Sống hơn 40 năm trên mảnh đất mà mình lớn lên, lặn lội với đời sống với binh nghiệp, để rồi đến giờ phút này trên một trực thăng Mỹ nhìn xuống, mình mới thật sự thưởng thức cái đẹp của quê hương.
Đến Vũng Tàu, trực thăng bay lượn trên căn cứ Hải Quân Cát Lở, tôi chỉ văn phòng làm việc của tôi và của Phó Đề Đốc Vũ Đình Đào cho phi công và ông Francis.
Chiều hôm đó tôi trở ra Vũng Tàu để chỉ huy các đơn vị Vùng I Duyên Hải di tản vào Nam.
Vài ngày sau tôi được tin từ Đại Tá Sơn ở Bộ Tư Lệnh Hải Quân cho biết là ông bà Francis đã được lệnh rời Việt Nam...
Hai người bí mật...
Ngày 26 tháng 4, tôi đến Bà Rịa mượn trực thăng của Tướng Hinh và bay ra biển để xem tình hình ngoài khơi Vũng Tàu. Phía ngoài xa khoảng 6 tới 10 hải lý thì rất nhiều chiến hạm Mỹ sẵn sàng nhưng không nhận ai cả lên chiến hạm. Trong lãnh hải thì có một số chiến hạm Việt Nam hải hành tới lui chờ lệnh. Gần bờ hơn thì thấy mấy trăm chiếc ghe chở đầy người những ở sát bờ và không ghe nào đi đâu cả. Một cảnh tượng hết sức cảm động cho thấy các người trên các ghe này đã sẵn sàng nhưng không muốn rời bỏ xứ sở nếu quân đội còn giữa được quê hương của họ, họ chờ tới phút chót khi không còn hy vọng gì nữa họ mới khởi hành. Ngày 29 tháng 4, quân đội Bắc Việt bắt đầu tấn công Vũng Tàu thì các ghe này bắt đầu chạy ra các chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội Mỹ.
Chiều ngày Chúa Nhật 27 tháng 4, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn 3, đi cùng Đại Tá Tạo, Tỉnh Trưởng Vũng Tàu, đến căn cứ Hải Quân Cát Lở thăm tôi. Sau đó Tướng Toàn mời tôi lên xe Jeep chính ông lái để cùng đi với ông mà ông không nói với tôi ông sẽ đi đâu. Xe chạy một lúc lâu thì ngừng lại trước một nhà riêng sát bờ biển. Trước khi xuống xe, Tướng Toàn xoay qua tôi và nói: “Anh Thoại, tôi có hai người thân nhất của tôi, đến giờ phút này tôi chỉ nhờ anh một việc cuối cùng xin anh giúp tôi, vì tôi và anh không biết còn gặp nhau nữa không. Nếu anh có phải ra đi thì anh cho hai người này đi theo anh, tôi sẽ mang ơn anh lắm.” Giọng nói rất buồn của Tướng Toàn làm cho tôi đoán cò lẽ là cha mẹ của ông, vì nếu chỉ có hai người thì không thể là vợ con được.
Ông Toàn và tôi bước vào nhà, tôi chuẩn bị tư tưởng nhưng không cách nào đoán được hai người đó là ai. Khi vào trong, nhìn ra cửa ngó ra biển có hai người mà tôi chỉ thấy từ phía sau, ngối trên ghế xếp bằng vải bố, đang nhìn ra biển. Khi nghe tiếng ông Toàn, hai người này đứng dậy quay lại phía chúng tôi, tôi bị bất ngờ vì không đoán trước được, đó là cựu Tướng Hoàng Xuân Lãm và Chuẩn Tướng Phan Hoà Hiệp mà tôi đã từng phục vụ chung ở Quân Khu I, cả hai thuộc binh chủng thiết giáp. Ông Toàn biết tôi rất thân với Tướng Lãm và Hiệp nhưng muốn làm cho tôi bị bất ngờ. Tướng Lãm và Hiệp cùng rời Vũng Tàu với tôi trên cơ xưởng hạm Vĩnh Long trong ngày cuối cùng.
Những tiếng nổ bất thường
Tối đêm 28 tháng 4, 1975, tại căn cứ duyên đoàn ở Vũng Tàu, Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Chẩn Tướng Trần Văn Nhựt và tôi, đang bàn tính việc phối trí lực lượng và duyệt xét tình hình địa phương, thì có một quân xa chở một sĩ quan cấp tá Không Quân vào căn cứ duyên đoàn xin gặp tôi.
Vị sĩ quan không quân vào duyên đoàn lúc tôi và các tướng lãnh đang ngồi ngoài sân sau căn cứ. Vị này cho biết hiện có một số trực thăng đang đậu ở phi trường Vũng Tàu, trong đó có Chuẩn Tướng Huỳnh Bà Tính, Sư Đoàn Trưởng Sư Đoàn 3 Không Quân đóng tại Biên Hoà. Vị đại diện này hỏi chúng tôi có cho phép vị Chuẩn Tướng này đến gặp được không để ông ấy trình bày một sự việc quan trọng.
Tôi nói với sĩ quan này là tại sao ông lại quá cẩn thận, cùng là tướng lãnh với nhau sao lại có vụ xin gặp. Tôi nói với ông ta trở ra phi trường mời Chuẩn Tướng Tính và các sĩ quan trong phái đoàn cứ vào gặp chúng tôi.
Độ nửa tiếng sau, một quân xa chở Chuẩn Tướng Tính vào kể chuyện xẩy ra tại căn cứ Sư Đoàn 3 Không Quân với vẻ mặt rất bi thảm. Ông không biết lệnh từ đâu mà bổng nhiên một số phi cơ phát nổ, sau đó được biết có lệnh của Saigon cho phá hủy các phi cơ của Không Quân.
Chuẩn Tướng Tính phân vân không biết phải làm gì. Ông không muốn về trình diện Bộ Tư Lệnh Không Quân khi ông không biết chắc ai ra lệnh phá nổ phi cơ thuộc Sư Đoàn của ông.
Tướng Hinh, Nhật và tôi đều đồng ý Chuẩn Tướng Tính phải nói chuyện thẳng với Trung Tướng Trần Văn Minh, vì dù sao sự thật vẫn là sự thật. Chúng tôi thuyết phục Tướng Tính một lúc lâu thì Tướng Tính đồng ý. Tôi bắt điện thoại gọi vể Bộ Tư Lệnh Không Quân và tôi nói với Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân rằng Tướng Tính hiện có mặt tại căn cứ duyên đoàn ở Vũng Tàu có chuyện cần nói với ông.
Tướng Minh hết sức ngạc nhiên vì sao Tướng Tính lại đang ở Vũng Tàu. Tôi trao điện thoại cho Tướng Tính nói chuyện với Tướng Minh. Hai người nói chuyện rất lâu. Theo câu chuyện Tướng Tính kể và những câu trả lời của ông này với Tướng Minh, thì tôi có thể đoán là lệnh phá hủy phi cơ không phải từ Tướng Minh. Hai người đang nói chuyện thì tôi nghe Tướng Tính nói: “Thôi, chào Trung Tướng!” Tướng Tính quay lại chúng tôi và nói Trung Tướng Minh phải ngưng nói chuyện vì dịch bắt đầu pháo vào Tân Sơn Nhứt.
Ra khơi lần cuối
Sáng hôm sau, địch pháo kích và tấn công vào thị xã Vũng Tàu. Đại Tá Nguyễn Công Hội, vị Tư Lệnh Phó của tôi, từ chiến hạm ngoài khơi, thi hành trách vụ cuối cùng của đời hải nghiệp của ông là chỉ thị một khinh tốc đỉnh PCF (Swift) vào một cái ponton (cầu nổi nhỏ của hãng RMK) neo ở giữa sông mà địch đang pháo vào bằng súng cối 60 ly từ bên kia sông, trên ponton đó chỉ có hai quân nhân, tôi và tướng Trần Văn Nhựt, một “cọp biển” và là “người hùng An Lộc”, để rước và đưa chúng tôi lên chiến hạm Vĩnh Long HQ 802 để ra khơi lần cuối của đời binh nghiệp của chúng tôi.
 |
Chiến hạm Vĩnh Long, HQ-802 Nguồn/Ảnh: Cyberus.ca
|
Ngày 30 tháng 4, 1975, sau khi nghe đài phát thanh truyền lịnh của Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh cho Quân Đội bỏ súng, Đô Đốc Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân cuối cùng, đích thân chỉ huy Hạm Đội Việt Nam Cộng Hoà, gồm khoảng 26 chiến hạm, hải hành trực chỉ căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ tại Subic Bay, Phi Luật Tân, trong trật tự và kỷ luật theo đúng truyền thống của quân chủng.
Để thúc đẩy Tổng Thống Thiệu ra đi, Đại Sứ Martin đã đến gặp ông ta và nói rằng ông muốn nói chuyện với tư cách cá nhân chứ không phải thay mặt Tổng Thống hay Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và cũng không phải với tư cách Đại Sứ Hoa Kỳ (
1). Ông nói rằng tình hình quân sự cực kỳ xấu và dân chúng đổ cho ông ta. Những người cùng phe với ông Thiệu hay phe đối nghịch với ông ta đều nói ông bất lực trong việc đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay. Các tướng lãnh của ông ta, mặc dầu quyết tâm chiến đấu, đều cho rằng không còn hy vọng gì nữa nếu không có một cuộc đàm phán với phía bên kia. Các tướng sẽ yêu cầu ông ra đi nếu ông không chịu từ chức lúc này. Cuộc nói chuyện kéo dài một tiếng rưỡi. Khi ông từ biệt, ông Thiệu có nói
“Ông ta sẽ làm điều mà ông ta nghĩ là có lợi nhất cho đất nước.” (He would do what he though was the best for the country).
 |
21/4/1975, Tổng thống Thiệu từ chức, vĩnh biệt Sài Gòn! Nguồn/Ảnh: © Dirck Halstead
|
Ngày 21/4/1975, Tổng Thống Thiệu đã lên hệ thống truyền thanh và truyền hình trong nước tuyên bố từ chức sau khi chửi Mỹ phản bội.
Sau này khi ra điều trần trước Quốc Hội, khi được hỏi rằng
“Ông đã đóng vai trò nào trong việc thúc đẩy Tổng Thống Thiệu từ chức?”, Đại Sứ Martin trả lời rằng
“Không đóng vai trò nào cả”. Lại hỏi rằng
“Có khi nào ông Thiệu hỏi ông có nghĩ ông ta phải từ chức không?”, Đại Sứ Martin nói:
“Có, ông ta có hỏi... Tôi nói với ông ta rằng đó là điều ông ta phải quyết định tùy theo quyền lợi của dân chúng Sài Gòn, của toàn thể Việt Nam, của tất cả những cái mà ông ta đã bảo vệ, và theo tình cảm cũng như văn hoá của người Việt Nam”!
Mục đích của Hoa Kỳ khi đưa Tướng Dương Văn Minh lên thay Tướng Thiệu
là để tuyên bố đầu hàng cộng sản, nhưng để tránh rối loạn có thể xẩy ra trong lúc Hoa Kỳ thực hiện cuộc di tản, họ phải giả vờ tuyên bố đưa Dương Văn Minh lên để “nói chuyện với phía bên kia”, vì Hà Nội chỉ chịu nói chuyện với Dương Văn Minh chứ không chịu nói chuyện với Nguyễn Văn Thiệu!
 |
30/4/1975, 11g30 Đại sứ Graham Martin trên chiến hạm USS Blue Ridge Nguồn/Ảnh: © Dirck Halstead
|
Để làm cho việc
“nói chuyện với phía bên kia” có vẻ thật, sáng 20/4/1975, Đại Sứ Martin đã đi gặp Đại Sứ Mérillon của Pháp và xin tiếp một tay. Ông nói với Đại Sứ Mérillon rằng ông được phái bộ CIA cho biết tình hình không còn cứu vãn được. Nếu Hà Nội quyết định đánh nhanh, không giữ nổi một tháng, dù có bảo vệ tốt. Mặc dầu Hà Nội muốn chiếm Sài Gòn nguyên vẹn chứ không muốn thấy Sài Gòn đổ nát, nhưng không nên loại trừ khả năng thứ hai nếu không đi đến thương lượng. Đại Sứ Mérillon đã giúp rất tận tình trong vấn đề này.
Frank Snepp nói rằng không ai tin đến giờ phút đó Việt Cộng còn chấp nhận đàm phán. Nhưng các chính khách của miền Nam, nhất là
“thành phần thứ ba”, vốn có thói quen suy nghĩ và hành động theo cảm tính như đa số người Việt chống cộng ở hải ngoại ngày nay, tin rằng Dương Văn Minh có thể thương lượng được!
Cái khó khăn mà người Mỹ đã gặp phải khi thi hành kế hoạch của họ sau khi Tổng Thống Thiệu từ chức là ông Trần Văn Hương không hiểu gì về tình hình, tưởng cờ đã đến tay nên nhất định đòi phất, không chịu trao quyền lại cho Tướng Dương Văn Minh. Frank Snepp mô tả như sau:
Tổng Thống mới Trần Văn Hương, 71 tuổi, bị liệt, gần như mù, thề đứng vững cho đến khi “quân đội bị tiêu diệt hay là nước mất”! (tr. 396).
Nhưng rồi mọi việc vẫn phải được tiến hành như kế hoạch đã dự tính. Câu chuyện này rất dài dòng, chúng tôi chỉ xin tóm lược như sau:
Do sự thúc đẩy của CIA, ngày 26/4/1975 lưỡng viện Quốc Hội họp tại Thượng Viện dưới quyền chủ toạ của ông Trần Văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện, để đưa Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống. Có 136 trong số 219 nghị sỉ và dân biểu đến họp. Sau khi Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH, và Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tổng Giám Đốc CSQG trình bày về tình hình, Quốc Hội bắt đầu thảo luận về việc trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh. Có rất nhiều sự bất đồng về việc trao quyền, nhiều người cho rằng sự trao quyền này là bất hợp hiến. Nhưng các nhóm vận động hậu trường đã hoạt động rất ráo riết. nên cuối cùng, lúc 20 giờ 54 phút, Quốc Hội đã biểu quyết chấp thuận trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh với số phiếu 147/151.
Ngày 28/4/1975, Tướng Dương Văn Minh đã nhận chức Tổng Thống. Chiều hôm đó, lễ bàn giao được diễn ra tại Phòng Khánh Tiết, Dinh Độc Lập, lúc 17 giờ 1 phút. Tướng Minh cử Luật sư Vũ Văn Mẫu thuộc
“thành phần thứ ba” làm Thủ Tướng. Đáng lẽ ra chính phủ Vũ Văn Mẫu làm lễ ra mắt trong ngày 29/4/1975, nhưng Bác Sĩ Hồ Văn Minh coi bói và cho biết ngày 30/4/1975 ra mắt chính phủ mới tốt, nên cả Tướng Dương Văn Minh lẫn Luật sư Vũ Văn Mẫu đồng ý như vậy! (...) Tính lại, Dương Văn Minh đã làm Tổng Thống được 40 tiếng đồng hồ.
Rút được bài học gì?
Trước hết, chúng tôi cám ơn Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại đã cho chúng tôi biết thêm một số sự kiện lịch sử mà từ trước chúng tôi chưa hề biết đến.
Qua một vài sự kiện lịch sử được chúng tôi ghi lại nói trên, chúng ta có thể thấy rõ kể từ khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết, "Anh Hai Chống Cộng" đã điều khiển hoàn toàn cuộc chiến Việt Nam và điều hành luôn cả chuyện đầu hàng!
Trong 32 hai năm sống trên đất Mỹ, không ngày nào người Việt hải ngoại ngưng tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do dân chủ. Nhưng cuộc tranh đấu này cũng lại do "Anh Hai Chống Cộng" và "Anh Hai Nhân Quyền" lãnh đạo và lèo lái, còn chúng ta cũng chỉ “ăn theo”. Số phận của người “ăn theo” như thế nào, ai cũng thấy rõ, nhưng không ai nghĩ phải làm thế nào để có thể tiến dần tới chủ động đấu tranh.
Đạo Phật có 84.000 pháp môn, hay nói đúng hơn, có vô lượng pháp để giải phóng con người khỏi kiếp luân hồi. Người Tàu có “tam thục lục kế” mà ta thường gọi là “trente six modes”, trong đó có cả kế “dĩ đào vi thượng sách”. Vì thế, chúng ta thấy tại mỗi nơi, các nước Tây Phương cũng như Giáo Hội Thiên Chúa Giáo đã áp dụng những phương pháp khác nhau, tùy theo hoàn cảnh, để loại bỏ dần các chế độ áp bức trên thế giới. Chẳng hạn như ở Zimbabwe, các nước Tây phương đã áp dụng các biện pháp rất cứng rắn để gây áp lực. Giáo Hội Thiên Chúa Giáo cũng đã chọn con đường đó.
Trong Thư Chung Lễ Phục Sinh vừa qua, với tiêu đề “Thiên Chúa nghe tiếng kêu của những người bị áp bức”, các Đức Giám Mục Zimbabwe kêu gọi dân chúng ăn chay và tham gia vào buổi lễ cầu nguyện cho đất nước này cho đến khi tổng thống Robert Mugabe bị lật đổ.
Sau đó, bất chấp những đe dọa của cảnh sát Zimbabwe, Đức Tổng Giám Mục Pius Ncube và các Đức Giám Mục Zimbabwe đã tổ chức hai buổi canh thức cầu nguyện cho tự do dân chủ tại Zimbabwe.
Một buổi cầu nguyện thứ nhất đã được tổ chức hôm thứ năm 12/4/2007 tại Vương Cung Thánh Đường Đức Maria tại Bulawayo vào lúc 5 giờ 30 chiều. Trong buổi cầu nguyện này có sự hiện diện đông đảo của các đảng đối lập và các nhân vật chính trị tại Zimbabwe. Hai vị Giám Mục Nam Phi đã đồng tế với Đức Tổng Giám Mục Pius Ncube.
Trong bài giảng, Đức Tổng Giám Mục Buti Tlagale của tổng giáo phận Johannesburg đã so sánh tình trạng của Zimbabwe với thời kỳ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tại Nam Phi và nhận định rằng Giáo Hội có nghĩa vụ đấu tranh giành tự do dân chủ cho người dân được sống xứng với phẩm giá con người. Đức Giám Mục Kevin Dowling của giáo phận Rustenburg, Nam Phi, lên tiếng chỉ trích các nước phương Tây đã áp đặt cấm vận lên Zimbabwe mà không quan tâm đến tình trạng lầm than của dân chúng nước này. Theo ngài, lệnh cấm vận đó chưa làm sụp đổ được chế độ độc tài của Robert Mugabe thì đã cướp đi mạng sống bao nhiêu người yếu thế và trẻ thơ tại quốc gia này.
Trái lại, ở Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Hàn, Hoa Kỳ và các nước trên thế giới lại áp dụng chiến thuật khác. Hai tay chống cộng can trường nổi tiếng ở Á Châu là Đài Loan và Nam Hàn đã đầu tư hàng trăm tỷ vào Trung Quốc. Cai thầu chống cộng của thế giới là Anh Hai Chống Cộng, cũng đã bỏ vào đó trên 150 tỷ. Hiện nay, Nam Hàn đang thương lượng để được đầu tư vào Bắc Hàn!
Mặc dầu ở Zimbabwe, Giáo Hội Thiên Chúa Giáo đã cứng rắn như đã nói trên, tại Trung Quốc và Việt Nam, Giao Hội đang tiếp tục thương lượng để tái lập bang giao.
Có thể dự đoán rằng, tất cả những hành động nói trên đều có tính toán với mục tiêu cuối cùng là làm biến mất dần các chế độ cộng sản còn lại.
Nhiều người Việt hải ngoại chỉ có một chiêu duy nhất là “đánh phèng la” và lúc nào cũng nhất quyết phải “đánh cho chúng nó sặc máu”. Nhưng tiếng phèng la của người Việt chống cộng lại quá nhỏ nên lúc nào cũng phải nhờ "Anh Hai Hoa Kỳ" tiếp ứng. Nhưng "Anh Hai" lại thuộc loại “Siêu Cộng Sản” nên thỉnh thoảng chơi đá giò lái những đòn rất đau khiến phong trào chống cộng của người Việt lưu vong cứ bị đẩy lui dần. (...)
Cho thế hệ tới
Làm chính trị là tiêu liệu. Chúng tôi không làm chính trị, nhưng “viết mà chơi” cũng phải nhìn thấy được mặt sau của từng biến cố xẩy ra mới có thể viết đúng được. Từ trước đến nay, những cái nhìn của chúng tôi lúc đầu bao giờ cũng bị phản đối, có khi rất mạnh mẻ, nhưng từ vụ Trần Trường với “thùng tiền chính nghĩa”, vụ Đảng Nhân Dân Hành Động của Nguyễn Sĩ Bình, vụ chính phủ Việt Nam Tự Do của Nguyễn Hữu Chánh, vụ Liên Đảng Cách Mạng Việt Nam của Hoàng Việt Cương, vụ Linh mục Lý, vụ Ải Nam Quan... đến vụ Đảng Dân Chủ Nhân Dân, Đảng Thăng Tiến, Đảng Vì Dân, Liên Đảng Lạc Hồng... đều xẩy ra đúng như chúng tôi đã viết. Chỉ còn Linh mục Phan Văn Lợi vẫn còn là một ẩn số cần phảỉ tìm hiểu.
Khi chúng tôi đang viết bài này thì nhận được môt bản tin của con gái bà Trần Khải Thanh Thuỷ báo tin bà đã bị Công An Hà Nội bắt vào khoảng 12 giờ trưa ngày 21/4/2007 tại Bến xe Gia Lâm. Theo bản tin của đài BBC ngày 23/4/2007, khi bị còng tay bắt đi, bà cũng hô “Đả đảo Công An!” và “Đả đảo Cộng Sản!” như linh mục Lý vậy.
Chuyện bà Thủy sẽ bị bắt vì “đấu tranh loạn xà ngầu” đã được chúng tôi cảnh báo nhiều lần, nhưng bắt chước linh mục Nguyễn Văn Lý, bà cho rằng “uy tín quốc tế” của bà lúc này đã lớn rồi, Công An không dám bắt!
Nhiều người đã nói với chúng tôi rằng viết gì thì viết, nói gì thì nói, người Việt chống cộng không bao giờ chịu thay đổi cách tranh đấu của họ để có thể đem lại những kết quả tốt hơn, vì mục tiêu của nhiều người là “biểu dương khí thế” để kiếm danh, chứ không cần kết quả. Nhưng chúng tôi thấy nhiều người và nhiều tổ chức cũng đã tự động tách khỏi con đường mòn chống cộng và tìm ra con đường mới để đi. Đó là một triển vọng tốt.
Vả lại, chúng ta trình bày sự thật lịch sử để giúp cho thế hệ tới nhận ra được con đường bảo vệ và xây dựng đất nước hơn là cho thế hệ này.
- Bài do tác giả gởi đến. DCVOnline biên tập và minh hoạ. Những chỗ (...) là do DCVOnline lược bỏ. Quan diểm của tác giả không nhất thiết phản ánh quan điểm của DCVOnline.
- Chú thích của DCVOnline (1): Trong điều trần trước Ủy ban Quan hệ Ngoại giao Hạ viện Mỹ ngày 27 tháng 1, 1976, Đại sứ Graham Ạ Martin cho biết đã gặp Tổng thống Thiệu sáng ngày 20 tháng 4, 1975 để cho hay về tình hình quân sự (thông tin từ Tuỳ viên Quân sự và CIA) rất bi quan. Sài Gòn sẽ chỉ cố thủ được thêm nhiều nhất là 3 tuần. Cộng sản muốn chiếm Sài Gòn nguyên vẹn nhưng cũng không loại bỏ được khả năng Sài Gòn bị san bằng nếu không có những bước tiến tới hiệp thương. Tổng thống Thiệu đặt câu hỏi về khả năng có thêm quân viện; Đại sứ Martin trả lời nếu nhờ phép mầu nào thêm quân viện được chấp thuận, ông cũng để dùng làm con bài thương lượng với cộng sản nhưng mọi việc đã quá trễ rồi và hiện hình quân sự là thế. Dĩ nhiên Đại sứ Martin gặp tổng thống Thiệu sáng ngày 20/4/1975 với tư cách Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Chỉ ở phần "The Whole Truth", ĐS Martin cho biết ông nói chuyện với Tổng thống Thiệu như một cá nhân khi bàn về lãnh đạo thế giới ở Pháp, Anh, Sô Viết, Trung Quốc có thể biết hết về "tất cả những sự thật".
Bốn trang trích từ điều trần của Đại sứ Martin, 27 tháng 1, 1976 (Part III: Vietnam Evacuation: Testimony of Ambassador Graham A. Martin. Hearing of January 27, 1976.)
Trích DCVOnline