|
Tô Phạm Liệu: Người trở lại Charlie Lật qua tờ Nhật báo Người
Việt ngày 5 tháng Mười 1997, một tin cáo phó làm tôi giật mình
chú ý đọc ngay: "...Tô Phạm Liệu (1941-1997) Y Sĩ Tiểu
Ðoàn 11 Nhảy Dù... dã không còn với chúng ta kể từ ngày 29
tháng Chín 1997..." Vậy là anh Liệu đã từ giã cõi
đời này! Hình ảnh của Tô Phạm Liệu
trở về từ dĩ vãng xa xưa. Lần đầu tiên tôi gặp Tô
Phạm Liệu đã lâu lắm rồi, đã hơn 27 gần 28 năm trước
đây. Ngày dó, vừa học xong lớp Y
Khoa Năm Thứ Nhất ở trường Ðại học Y Khoa Sài Gòn, tôi
đã có một số khá đông bạn bè cùng lớp rủ nhau nộp đơn,
đi thi và đỗ vào trường Quân y. Một ngày tháng Giêng 1970, ngày
nhập ngũ, chúng tôi rủ nhau nao nức đi trình diện ở trường
Quân Y. Một đám sinh viên Y Dược Nha đến và được tập
trung ở cổng trường chỗ gần trạm kiểm soát ra vào. Chúng
tôi là những tân sinh viên quân y. Người đầu tiên ra gặp
chúng tôi là một sinh viên sĩ quan quân y. Anh mặc quân phục
xanh bộ binh, đeo lon trung uý có hai bông mai vàng trên một
nền nhung đỏ thẫm ở trên vai với dấu hiện con rắn vàng,
của ngành quân y, và dấu hiệu một cánh dù màu xám, bằng
nhảy dù, trên ngực áo. Thoáng gặp anh, chúng tôi cũng phải
để ý ngay, vì anh là một người to lớn, vừa to vừa cao trông
như là một "ông hộ pháp." Không cười đón niềm nở chút
nào cả, với giọng nói to, vang vang trong buổi chiều nắng gió,
anh tự giới thiệu. Tôi nhớ đại khái rất ngắn và gọn.
Anh cho biết tên là Tô Phạm Liệu, sinh viên sĩ quan quân y năm
thứ sáu và anh được cấp trên đề cử làm Sinh Viên Sĩ
Quan Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội Tân Sinh Viên. Anh Liệu dẫn khoảng bốn năm
chục người chúng tôi vào một sân rộng lớn của trường
Quân Y, nơi có một cột cờ với lá cờ vàng ba sọc đỏ khá
cao. Ðó là Vũ Ðình Trường của Trường Quân Y và ở đó đã
có thêm sẵn hai sinh viên sĩ quan quân y khác đứng chờ sẵn
từ lâu. Chúng tôi được lệnh xếp hàng và ba ông đàn anh
dẫn chúng tôi chạy vòng quanh sân cờ cho đến khi tất cả
hết sức lực và có một người phải ngất xỉu. Ðó là kinh nghiệm đầu tiên
của đa số chúng tôi đối với quân đội. Ðó là lần đầu
tiên hành xác để mở đầu cho Tám Tuần Lễ Huấn Nhục
của Ðại Ðội Tân Sinh Viên Sĩ Quan Quân Y. Ðối với những
"thư sinh trói gà không chặt" mà còn "dài lưng
tốn vải ăn no lại nằm," chỉ biết việc sách đèn, đây
quả là một thử thách khá lớn lao. Và đó cũng là lần đầu tiên tôi
gặp Tô Phạm Liệu. Trong tám tuần lễ của "mồ
hôi, nước mắt" chúng tôi đã được các đàn anh của các
khóa trước "chỉ dạy" một cách rất tận tình
bằng mọi cách. Chúng tôi được học qua căn bản quân sự,
căn bản thao diễn. Và mọi người được thay nhau tập hít
đất, tập thở, tập chạy, tập cười... theo lệnh các huynh
trưởng! Các đàn anh chia ra từng toán ba
người. Anh Tô Phạm Liệu đích thân làm trưởng một toán.
Mỗi toán có nhiệm vụ hướng dẫn các tân sinh viên một ngày.
Riêng anh Liệu hình như ngày nào cũng có mặt để quan sát các
hoạt động, tiến triển trong việc huấn luyện các tân sinh
viên Quân Y. Anh Tô Phạm Liệu rất tận tâm bỏ khá nhiều thì
giờ vào việc dẫn dắt đàn em mới nhập ngũ. Những người
nào mà có vẻ lười biếng công việc tập tành là khó qua
khỏi mắt của đàn anh. Ai đau thật hay chỉ ốm giả anh cũng
biết. Hình như anh biết rõ về bản chất, tính tình của
từng người một. Anh là người gần gũi với chúng tôi
nhất trong những ngày đầu tiên khi mới gia nhập quân ngũ. Sinh hoạt với anh một thời gian
ngắn, chúng tôi nhận thấy ngay ngoài "cái vỏ" lạnh
lùng nghiêm nghị của anh còn có một bề trong khác hẳn với
một tâm hồn đầy tình cảm và hiểu biết. Anh Liệu thường
thấu hiểu gần như mọi chuyện xẩy ra trong đại đội tân
sinh viên quân y và thường giải thích hay giải quyết, thường
là bằng tình cảm, những vấn đề khó khăn hay khó nói
nhất. Nhiệm vụ chỉ huy hướng dẫn đôi khi làm anh có vẻ
khó khăn và khô khan nhưng những lúc nói chuyện với anh
Liệu trong khi rảnh rang đã làm chúng tôi thấy anh là một người
rất nhiều tình cảm, rộng lượng và rất thương mến
những anh em trong gia đình Y Dược Nha trong ngành Quân y. Một
điều đặc biệt nhất là Tô Phạm Liệu nói chuyện rất
hay, rất lôi cuốn người nghe, nhất là khi anh đứng trước
hàng quân. Tôi được biết anh đã còn là một huynh trưởng
trong ngành Hướng Ðạo Việt Nam. Sự việc anh giỏi về
diễn thuyết hay chỉ huy là đã có kinh nghiệm từ lâu. Nhiệm vụ khó khăn của anh là
cho chúng tôi được có những khái niệm ban đầu về Quân Ðội
rồi cũng thành công. Tất cả đám tân sinh viên Y Nha Dược
đều qua khỏi tám tuần lễ huấn nhục gian lao. Chúng tôi
được tổ chức lễ gắn alpha và trở thành những sinh viên
Quân y hiện dịch thực thụ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Ðêm hôm gắn alpha, anh có nói chuyện riêng khá cảm động
với một vài người chúng tôi. Anh cho biết rất hài lòng
với kết quả và nhắn nhủ công chuyện tương lai. Tô Phạm
Liệu có nói ngày nào đó chúng tôi sẽ hiểu rõ đàn anh hơn
khi đứng ra hướng dẫn những đàn em sau này. Riêng tôi về
sau này rất thông cảm anh vì chính bản thân tôi lại "được"
cử ra làm nhiệm vụ của anh, dẫn dắt các tân sinh viên quân
y, khi khóa sinh viên sĩ quan của chúng tôi trở thành khóa đàn
anh lớn nhất trong trường Quân Y. Năm chúng tôi vào Quân Y cũng là
năm khóa 16 Sinh Viên Sĩ Quan Hiện Dịch Quân Y ra trường. Anh
Tô Phạm Liệu chọn binh chủng Nhảy Dù và nhiệm sở đầu
tiên là một tiểu đoàn Nhảy Dù. Tô Phạm Liệu đã chính
thức trở thành y sĩ của một tiểu đoàn tác chiến của
binh chủng nhảy dù. Những ngày sau đó tôi rất ít
gặp anh Liệu. Chúng tôi ở lại hậu phương hoàn tất công
chuyện học hành ở những trường Y Nha Dược. Anh Liệu và các
anh khác tản mác trong những đơn vị của quân đội khắp
bốn vùng chiến thuật. Và tôi chỉ gặp lại anh Liệu một
hai lần gì đó trong một khoảng thời gian gần hai năm trời
khi anh về ghé thăm trường quân y trong những dịp nghỉ phép
giữa những ngày ở mặt trận. Những ngày đó anh vẫn cao
lớn và mặc quần áo rằn ri nhẩy dù trông rất oai hùng. Chúng
tôi cũng chỉ có dịp nói chuyện chào hỏi chút ít và tôi
chỉ biết là anh đã trải qua khá nhiều thử thách ngoài
mặt trận nhưng không có nhiều chi tiết. Và đến một ngày tháng, ở
một nơi... của định mệnh. Thời điểm là năm 1972, vào mùa
Hè nắng cháy. Ðịa điểm là Charlie, Cao Nguyên
Nam Việt Nam. Tôi được nghe đến, được
biết đến, được hiểu... Tô Phạm Liệu nhiều hơn. Bốn năm trước đó, năm 1968, năm
bầu cử Tổng thống Mỹ là khi Bắc Việt cho tổng tấn công
và thất bại trên các chiến địa Tết Mậu Thân nhưng phải
nói họ đã có ảnh hưởng trong việc tuyên truyền chính
trị. Hình ảnh chiến tranh Việt Nam tràn ngập trên đất Mỹ
theo vào từng nhà riêng của dân Mỹ bằng máy vô tuyến
truyền hình. Dân chúng Hoa Kỳ đã bắt đầu chán sợ cuộc
sống chiến tranh đẫm máu và dai dẳng cách xa một nửa trái
đất. Ðầu óc thực tế của họ đã đếm nhiều đến số
tiền trang trải cho cuộc chiến. Hình ảnh quan tài những người
Mỹ chết ở Việt Nam đem về Mỹ được chiếu rõ trên
truyền hình làm nao núng cả quốc gia. Các phong trào phản
chiến Mỹ hoạt động mạnh hơn. Ứng cử viên Tổng thống
Mỹ đều biết rõ tầm quan trọng của việc cần phải chấm
dứt chiến tranh Việt Nam. Năm 1972, một lần nữa là năm
bầu cử Tổng thống Mỹ. Do đó, một lần nữa, cũng là lúc
Bắc Việt cần có tiếng vang vọng với bất cứ giá nào. Ðại
tướng Bắc Việt Võ Nguyễn Giáp còn nghĩ là có thể chiếm
đoạt miền Nam vào lúc này. Cũng như Trận Tổng Tấn Công
Tết Mậu Thân năm 1968, Tướng Giáp đã lại "thí quân"
và lần này quyết định tấn công với ba mặt trận lớn
được bùng nổ vào mùa Hè 1972. Thứ nhất: Mặt Trận Giới
Tuyến tại vùng Phi Quân Sự. Việt Cộng đã bất chấp tất
cả mọi ký kết của chính họ ở Hiệp định Genève 1954.
Họ đã cho hai Sư đoàn 304 và 308 tăng phái bởi bốn Trung Ðoàn
Ðặc Công với hơn 200 chiến xa của Trung đoàn 203 và 204 và
thêm ba Trung đoàn Pháo Binh vượt khu Phi Quân Sự đánh chiếm
Quảng Trị. Thứ hai: Mặt Trận Biên Giới
chiếm đánh Lộc Ninh, An Lộc do các Sư đoàn Cộng Sản 5, 7 và
9 cùng với hơn 200 xe thiết giáp. Trong khi Sư đoàn 1 Bắc
Việt quấy rối vùng Ðồng bằng Cửu Long để cầm bớt quân
đội Việt Nam lại vùng IV chiến thuật. Thứ ba: Mặt trận Cao Nguyên thì
có hai Sư đoàn 2 và 320 với cùng một trung đoàn chiến xa đánh
chiếm vùng Kontum, Pleiku. Trong khi Sư đoàn 3 Cộng Sản đánh vùng
Bình Ðịnh. Tại Cao Nguyên, tướng Võ Nguyên Giáp mưu định
cắt Miền Nam thành hai mảnh. Thời điểm là Mùa Hè Ðỏ Lửa
1972. Ðịa điểm là Charlie của
Chiến Trường Cao Nguyên. Trong quyển sách viết về chiến
tranh Việt Nam "Mùa Hè Ðỏ Lửa," Phan Nhật Nam đã
viết trong đoạn đầu tiên "Charlie, tên nghe lạ quá":
"Quả tình nếu không có
trận chiến mùa hè 1972, thì cũng chẳng ai biết đến Charlie,
vì đây chỉ là tên quân sự dùng để gọi một cao độ
nằm trong chuỗi cao độ chập chùng vùng Tân Cảnh, Kontum.
Charlie hay Cải Cách hay "C" đỉnh núi cao không quá 900
thước trông xuống thung lũng sông Poko và đường 14, Ðông
Bắc là Tân Cảnh, với 12 cây số đường chim bay, Ðông Nam là
Kontum thị trấn cực Bắc của Tây Nguyên... Charlie lọt giữa
bị bao vây bởi căn cứ 5, căn cứ 6, ở phía Bắc, những
mục tiêu quân sự nổi tiếng, những vị trí then chốt giữ
cửa ngỏ vào Tân Cảnh mà bao nhiêu năm qua, bao nhiêu mùa hè,
mùa "mưa rào," báo chí hằng ngày trong và ngoài nước
phải nhắc tới khi những hạt mưa đầu mùa rơi xuống miền
núi non xương sườn cực Tây của quê hương Việt Nam... Năm nay, sau bao nhiêu lần thử thách
từ mùa mưa của năm 1971 qua đầu xuân của 1972, Bắc Quân
vẫn không vượt qua hai cửa ngỏ. Căn cứ 5, Căn cứ 6...
Cộng quân đổi hướng tiến lòn sâu xuống phía nam của hai
căn cứ trên để tiếp tục sự nghiệp "giải phóng"
với mục tiêu cố định: Tân Cảnh, cắt đường 14..." Lữ đoàn 2 Nhảy Dù được cử
đến lập một vòng đai để giữ những yếu điểm trong vùng
quanh Quốc Lộ 14 và Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù có nhiệm vụ đóng
giữ Charlie. Tô Phạm Liệu, người y sĩ trưởng của Tiểu đoàn,
một người sĩ quan Nhảy Dù, đã được thả đến Charlie cùng
với Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù, Tiểu đoàn Nhảy Dù mới nhất
của Sư đoàn Nhảy Dù Việt Nam, vào ngày 2 tháng Tư. Sau đó, tại Charlie, một trận
đánh oai hùng và bi thương của người lính Nhảy Dù đã
xẩy ra. Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn
11 Nhảy Dù là Trung tá Nguyễn Ðình Bảo tốt nghiệp khóa 14
Trường Sinh Viên Sĩ Quan Hiện Dịch Võ Bị Quốc Gia Ðà
Lạt. Trung tá Bảo có tính tình giản dị và là người chỉ
huy rất giỏi, nhiều kinh nghiệm chiến trường. Ông gia nhập
Nhảy Dù ngay sau khi ra trường võ bị, dự nhiều trận chiến
khốc liệt chiến thắng nhiều và đã bị thương hai lần ở
mặt trận. Tuy vậy, lần này Tiểu đoàn 11
Nhảy Dù bị bao vây bởi cả một Sư đoàn Bắc Việt, Sư đoàn
320 có mang danh là Sư đoàn Ðiện Biên và cũng được gọi là
Sư đoàn Thép tăng phái thêm Trung đoàn 64 của Sư đoàn Sao Vàng
Cộng Sản. Không phải đoán cũng thấy ngay là một chiến
thuật thí quân lấy thịt đè người. Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù
và Trung Tá Nguyễn Ðình Bảo bây giờ có lẽ giống như một
con hổ trong lồng. Ngày 11 tháng Tư là lúc Cộng
Sản sửa soạn tấn công. Hàng trăm quả pháo rót vào Charlie
kể cả đại pháo 130mm với đạn xuyên phá "delay."
Ðây là loại đạn đặc biệt nguy hiểm, không nổ ngay khi
chạm đất mà sẽ nổ sau khi đã xuống dưới mặt đất
khoảng hơn một thước để tàn phá những hầm trú ẩn. Ngày 12 tháng Tư, Cộng Quân
tiến đánh. Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù kể cả Bác sĩ Quân y Tô
Phạm Liệu đã quần thảo với lính Cộng của Sư đoàn Ðiện
Biên tranh thủ từng thước đất. Trung tá Nguyễn Ðình Bảo,
nhiều sĩ quan và binh sĩ nhảy dù đã hy sinh tại mặt trận. Ngày 15 tháng Tư 1972 Tiểu đoàn
11 Nhảy Dù tan rã. Chính bản thân Tô Phạm Liệu cũng bị thương
ở chân. Tô Phạm Liệu và Thiếu tá Tiểu đoàn phó đã dẫn
một nhóm nhỏ còn lại và các thương binh rút khỏi Charlie. Và
nhóm này cuối cùng được trực thăng "bốc" đi thoát.
Một số khác chạy bộ băng rừng về. Xác chết của nhiều quân nhân và
của Trung tá Nguyễn Ðình Bảo đã không đem được về và
đã để lại ở Charlie. Nhiều chiến sĩ nhảy dù đã anh
dũng "ở lại" Charlie. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sau này
đã cảm hứng vì sự hy sinh của Trung tá Nguyễn Ðình Bảo và
những chiến sĩ nhảy dù khác tại mặt trận Charlie mà đã sáng
tác "Người Ở Lại Charlie," một bản nhạc khá hay và
cảm động: "Anh!
Anh! Hỡi anh ở lại Charlie. Vâng chính
anh là ngôi sao mới, một lần này chợt sáng trưng, là cánh dù
đan bằng tiếc thương vô cùng. Này anh!
Anh! Hỡi anh ở lại Charlie. Ôi, cánh
chim trùng khơi vạn lý, một lần dậy cánh bay, người để
cho người nước mắt trên tay..." Sự kiện Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù
tan rã ở Charlie khi bị hơn một Sư đoàn bộ đội Bắc
Việt tấn công với đại pháo và chiến xa là chuyện dĩ nhiên
phải xảy ra. Nhưng điều quan trọng hơn là sự hy sinh dũng
cảm của những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã gây tổn
thất nặng cho đối phương và ảnh hưởng đến tinh thần
của Cán Binh Bắc Việt. Tuy là ngay sau đó, Lữ đoàn 2
Nhảy Dù phải bỏ cả Tân Cảnh về Kontum. Tuy là các Sư đoàn
Bắc Việt kiểm soát được Quốc lộ 14. Tuy là họ đã bao vây
thành phố Cao Nguyên Kontum. Tuy là họ dốc toàn lực đánh
Kontum hai lần ngày 14 và 25 tháng Năm. Nhưng họ vẫn thất
bại. Cuối cùng Cộng Sản Việt Nam vẫn không đạt được
mục tiêu vào năm 1972 và phải rút lui tại mặt trận miền
Cao Nguyên. Mặt trận Biên Giới nổ lớn
tại An Lộc - Bình Long. Bộ đội Cộng Sản hàng hàng lớp
lớp biển người được yểm trợ bởi hàng trăm chiến xa
tối tân và đại bác hỏa tiễn hùng hậu đã tràn ngập
mặt trận. Nhưng họ đã phải đứng khựng lại ở quận An
Lộc, cứ điểm quan trọng ngăn cản đường tiến của Bắc
Quân đến Quốc lộ 13 để về "giải phóng" Sài Gòn.
Trong khoảng 100 ngày gần 60 ngàn quả đại bác đã bắn vào
độ một cây số vuông của quận lỵ nhỏ bé An Lộc. Năm
lần Việt Cộng đã mở những cuộc tấn công. Cả năm lần
Bắc Quân phải chùn bước. Người hùng Chuẩn tướng Lê Văn
Hưng và các lực lượng phòng thủ với sự phụ lực của Ðại
tá Lê Quang Lưỡng và Lữ đoàn 1 Nhảy Dù cùng với sự yểm
trợ với sự phụ lực của Ðại tá Lê Quang Lưỡng và Lữ
đoàn 1 Nhảy Dù cùng với sự yểm trợ hữu hiệu của Không
Quân Việt Nam Cộng Hòa và Không Quân Hoa Kỳ đã cho Bắc
Việt một bài học cay đắng, họ cho tướng Võ Nguyên Giáp
biết thế nào là "tử thủ." Ngày 8 tháng Sáu 1972
Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù tiến vào thành phố, đã "bắt
tay" được với Tiểu đoàn Nhảy Dù "bạn,"
Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù là đơn vị đã được trực thăng
vận đến An Lộc mấy ngày trước. An Lộc hoang tàn. Nhưng An Lộc
vẫn đứng vững. An Lộc đẫm máu. An Lộc đầy
lửa khói. Nhưng An Lộc vẫn còn. Cuối cùng Bắc Quân phải rút
lui. Mặt trận Vùng Hỏa Tuyến. Ngay
những ngày đầu tiên Việt Cộng đã tràn ngập Quảng Trị và
Sư đoàn 3 Bộ Binh Việt Nam sau đó phải tan rã chạy về phía
Nam. Dân chúng Quảng Trị ghét sợ cộng sản chạy theo quân.
Hỗn loạn! Kinh hoàng! Máu đổ nhiều! Quân dân chạy giặc dưới
làn đạn làm hàng ngàn người chết ở Ðại Lộ Kinh Hoàng.
Bắc Quân tràn lan đánh chiếm khắp nơi. Nhưng họ đã bị chận đứng
ở sông Mỹ Chánh. Nơi đây ngày 2 tháng Năm, Lữ đoàn 147
Thủy Quân Lục Chiến đã bắn hạ 17 chiến xa Bắc Việt. Cùng
một lúc Thiếu tướng Ngô Quang Trưởng được cử ra giữ
chức Tư Lệnh Quân Ðoàn I. Thế cờ được lật ngược. Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù tan rã ở
Tân Cảnh nhưng không biến mất mà đã phối trí lại. Và
chỉ độ một tháng sau ngày tan rã ở Charlie, Tô Phạm Liệu
và Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù đã có mặt ở miền Hỏa Tuyến.
Tháng Sáu 1972, Sư đoàn Nhảy Dù, Sư đoàn Thủy Quân Lục
Chiến và Sư đoàn 1 Bộ Binh cùng với sự yểm trợ của Khrã
ở Charlie, Tô Phạm Liệu và Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù đã có
mặt ở miền Hỏa Tuyến. Tháng Sáu 1972, Sư đoàn Nhảy Dù, Sư
đoàn Thủy Quân Lục Chiến và Sư đoàn 1 Bộ Binh cùng với
sự yểm trợ của Không Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
và Không Quân Hoa Kỳ đã mở chiến dịch tổng phản công. Cuộc chiến đẫm máu kéo dài đến
tháng Chín 1972 khi lá cờ vàng ba sọc đỏ được những người
lính Thủy Quân Lục Chiến dựng lại tại Cổ thành Quảng
Trị và khi tàn quân Bắc Việt chạy ngược trở về bên phía
Bắc dòng sông Thạch Hãn. Giấc mơ chiếm đoạt miền Nam vào
mùa Hè 1972 của tướng Võ Nguyên Giáp đúng là "chỉ là
một giấc mơ thôi." Có lẽ nhiều ngàn hay có thể đến
hàng chục ngàn người đã "sinh Bắc" và được
"tử Nam" trong mùa Hè này. Y sĩ Ðại uý Tô Phạm Liệu đã
được Sư đoàn Nhảy Dù trao tặng danh hiệu "Quân Nhân
Xuất Sắc Nhất Của Sư Ðoàn Nhẩy Dù." Tô Phạm Liệu, tên tuổi hào hùng
của ngành Quân Y "con rắn" chúng tôi, cũng lừng danh
trong những đơn vị Nhảy Dù "mũ đỏ" của Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa thời đó. Chiến dịch mùa Hè 1972 đã làm
Bắc Việt tổn thất nặng. Phải một thời gian khá lâu họ
mới hồi phục lại được sức mạnh. Những ngày tháng ngay
sau đó họ đã không tạo thêm được tiếng vang gì đáng
kể. Ngoại trừ một cố gắng khác, nhưng vẫn thất bại,
ở Sa Huỳnh ở vùng Quảng Ngãi - Bình Ðịnh đầu năm 1973. Nhưng năm 1973 cũng là năm của
Hiệp định Paris ký kết bởi Henry Kissinger và Lê Ðức Thọ.
Năm của Việt Nam Hóa Chiến Tranh Việt Nam. Hiệp định Paris
đã đẩy Việt Nam Cộng Hòa vào con đường cùng. Hoa Kỳ
dần dần rút khỏi Việt Nam. Viện trợ quân sự Mỹ cho Quân
đội Việt Nam cũng giảm dần theo. Ðạn dược, súng ống
của Quân đội Việt Nam trở thành thiếu thốn. Xe tăng lỗi
thời. Máy bay cũng ít dần và cũ kỹ dần. Bắc Quân ngày càng
nhiều khí giới tối tân. Nga Sô và Trung Cộng cùng các nước
Cộng Sản trên thế giới vẫn tiếp tục ủng hộ tiếp tế
Hà Nội một cách tích cực. Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu
hầu như một mình với Cộng Sản Bắc Việt và cả một
thế giới Cộng Sản đứng đằng sau. Ðó là kết quả của
Việt Nam Hóa Chiến Tranh Việt Nam, chính sách của Tổng
thống Hoa Kỳ Richard Nixon. Hiệp định Hòa Bình Paris 1973 và
giải Nobel được trao tặng cho Lê Ðức Thọ và Henry Kissinger
chỉ là những trò hề. Bắc Quân tiếp tục xâm phạm những
gì họ ký kết. Ðường mòn Hồ Chí Minh "đông người như
đi chợ" chuyển quân và vũ khí thiết giáp vào miền Nam.
Tô Phạm Liệu tốt nghiệp Khóa
16 Sĩ Quan Quân Y Hiện Dịch gia nhập Nhảy Dù năm 1970. Khóa 21 Sĩ Quan Hiện Dịch Quân
Y, khóa cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, khóa
của chúng tôi ra đơn vị năm 1975. Năm năm sau tình hình đã đổi
khác hoàn toàn. Những tân Trung uý Y Nha Dược ra đơn vị đúng
lúc ngày tàn của cuộc chiến. Tỉnh Phước Long đã rơi vào
tay Cộng Sản tháng Hai 1975. Chuyện gì đã xẩy ra đã xẩy
ra. Chuyện mất miền Nam vào tay Cộng Sản ngày 30 tháng Tư
1975 đã đến. Có điều chuyện xẩy ra hơi sớm, một cách
rất ngạc nhiên, ngoài sự dự liệu của tất cả mọi người
trong và ngoài cuộc. Lịch sử sẽ cho dần những câu trả
lời. Nhưng làm sao có ai, có những lý do nào... mà có cho đủ
được những câu trả lời cho chuyện bỏ chạy một cách
nhanh chóng như vậy? Ða số chúng tôi Khóa 21 Quân Y
chỉ đến đơn vị được một, hai tháng thì cuộc đời nhà
binh cũng chấm dứt. Ðể sửa soạn dư luận cho
cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ năm 1976, Tướng Việt Cộng Văn
Tiến Dũng đã bắt đầu Chiến Dịch Mùa Xuân năm 1975. Nhưng
chính những người cầm đầu Ðảng Cộng Sản Việt Nam cũng
không thể biết có kết quả nhanh và bất ngờ ngoài dự
liệu như vậy. Miền Nam Việt Nam sụp đổ dần
như một căn nhà không có nền móng trong khoảng 55 ngày. Ngày 10 tháng Ba 1975 Bắc Quân
bắt đầu tiến đánh Ban Mê Thuột. Ban Mê Thuột mất ngày 17 tháng
Ba 1975. Theo đó là Quảng Trị mất 20 tháng
Ba. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra
lệnh bỏ Huế 23 tháng Ba. Rồi Ðà Nẵng di tản ngày 29 tháng
Ba... Bắc Việt tiến chiếm dễ dàng
dần dần từ Bắc xuống Nam. Bắc Quân vào nhiều thành phố
bỏ trống như chỗ không người. Tình hình thật là hỗn
loạn. Những câu chuyện cười ra nước mắt được kể
lại. Như là một thành phố ở miền Trung được di tản đến
cả ba, bốn ngày sau một đơn vị quân đội nhỏ của Việt
Nam Cộng Hòa quay lại cũng vẫn còn y nguyên vì Cộng Sản cũng
không đến kịp vào để tiếp thu! Hoặc là có những thành
phố được phát ngôn viên chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cho
biết đã di tản nhưng sự thật dân quân vẫn còn nguyên
tại chỗ! Hầu như tất cả mọi người đều không làm được
gì cả. Chúng tôi bất lực. Chúng tôi không
làm được gì ngoài việc chỉ cố tránh né để mái nhà hay
bức tường vỡ khỏi rơi vào người. Ngày 20 tháng Tư 1975 tiền đồn
cuối cùng ở Xuân Lộc bị phá vỡ. Chuẩn tướng Lê Minh Ðảo
và Sư đoàn 18 phải rút quân. Sài Gòn hầu như rối loạn hoàn
toàn. Nhìn trước ngó sau chỉ thấy nhiều người tìm cách đi
khỏi nước Việt Nam hơn là tìm cách chống trả giữ Sài Gòn.
Sài Gòn coi như đã mất. Thành
phố như là một thành phố đang chết! Chỉ còn vấn đề
thời gian. Một thời gian ngắn thôi. Những ngày cuối của tôi ở thành
phố Sài Gòn là như vậy. Ngày ngày nghe được những tin
tức những nguời nào đã đi, những người nào sắp đi. Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa,
Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Trong diễn văn gửi
đến các nước ông Thiệu đã không hết lời trách móc
"đồng minh" Hoa Kỳ. Trung tướng Thiệu tuyên bố
"...sẽ trở lại Quân Ðội khoác áo nhà binh cùng các anh
em chiến đấu..." Vài ngày sau thì được tin "người"
đang ở Ðài Loan! Thiếu tướng Không Quân Nguyễn
Cao Kỳ tuyên bố đại khái là: "...nhất định ở lại
Việt Nam ăn cà, tương, mắm... vì qua Mỹ ăn phó mát và
uống sữa tươi sẽ đau bụng!" Vài ngày sau "người"
cũng bay mất! Tân Tổng tư lệnh Quân Ðội
Trung tướng Vĩnh Lộc cho phát thanh một nhật lệnh đến toàn
thể Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa hùng dũng kêu gọi
"...mọi người hãy bỏ ý định chạy trốn như những đàn
chuột nhắt..." Nhưng khi bài nói chuyện được phát thanh
trên đài thì "người" đã ngồi ở trên một chiến
hạm ngoài khơi trên đường ra ngoại quốc! Mỗi ông "tuyên bố một câu
xanh rờn." Toàn là những lời câu nói
"để lời"! Ðông phương đã dạy làm tướng
thì phải biết cách tự xử khi mất thành. Tây phương cũng có
viết làm thuyền trưởng khi tầu chim thì phải ở lại chìm
theo tầu. Tôi không hy vọng những "người trên đây làm
được như những Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng
Phạm Văn Phú, Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn tướng Trần
Văn Hai, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ... là những vị tướng
đáng kính phục tự xử khi mất nước. Nhưng phải chi những
"người đó cứ im lặng mà "đi" thì cũng chả có
mấy ai cay đắng mỗi khi nghĩ đến chuyện những người ở
lại hy sinh mạng sống hay nằm trong những trại cải tạo
của Cộng Sản Việt Nam hằng bao năm trời. Ngày 30 tháng Tư năm 1975, Tân
Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng. Tôi may mắn thoát được lên
chiến hạm Hải Quân Việt Nam HQ 1. Chỉ độ mười phút sau
đó tầu rời bến Bạch Ðằng cùng cả những chiến hạm còn
lại ở bến của Hạm đội Hải Quân Việt Nam sau khi binh sĩ
Hải Quân chặt cầu vì không đủ chỗ cho hàng người đang
đứng đợi lên tầu. Thế là hết! Vĩnh biệt Sài Gòn!
Vĩnh biệt Việt Nam! Tầu Việt Nam đến Subic Bay ở
Phi Luật Tân thì chúng tôi được chuyển ngay sang một tầu
Hoa Kỳ rộng lớn hơn để đi đến đảo Guam. Bước lên chiếc tầu Hoa Kỳ đầy
người. Ðủ loại người. Dân sự có, quân sự có. Người
nằm, kẻ đứng ngồi. Hỗn loạn. Tôi tìm đến một góc
nhỏ để tránh né phiền phức. Ở đây tôi thấy một người
khá to lớn nằm trên một chiếc võng mắc vào những cái
cột của tầu. Lại gần nhận ra đó là Huynh trưởng Tô
Phạm Liệu. Tôi không ngờ gặp nhau trong hoàn cảnh này. Tôi buồn nhớ lại những ngày xưa
người anh từ chiến trường về thăm trường Quân Y với
binh phục nhảy dù oai hùng. Bây giờ Tô Phạm Liệu vẫn mặc
binh phục nhảy dù Việt Nam, nhưng bẩn và nhầu nát. Anh
Liệu không giống anh Liệu những ngày trước khi anh trở về
từ những chiến thắng nữa. Tô Phạm Liệu nằm trên võng,
anh vẫn tỉnh giấc nhưng mắt nhắm như để quên đi những hình
ảnh nào đó. Anh Liệu hình như muốn ngủ triền miên. Nhưng
làm sao mà ngủ được? Rồi sau đó Tô Phạm Liệu cũng mở
mắt ra. Anh kể lại những lúc cuối cùng. Tô Phạm Liệu nói rất ít. Tôi
cũng chả nói nhiều. Ðau khổ đã làm tê liệt con người. Nhưng thật ra còn có gì khác để
đáng nói đến nữa đâu? Anh em nhìn nhau thẫn thờ! Bàng
hoàng! Sững sờ! Giọt lệ nào đó hình như vòng quanh khóe
mắt làm mờ mắt của cả hai chúng tôi! Ngày hôm sau tôi trở lại chỗ cũ
không thấy anh đâu cả. Chiếc võng cũng biến mất. Tôi để
ý tìm mà không gặp. Tô Phạm Liệu chắc cũng chả muốn
gặp lại ai nữa. Tôi cũng không muốn tìm thấy người quen nào
nữa. Những ngày đầu tiên đến đất
Mỹ là những lúc vật lộn với cuộc đời mới cũng như các
bạn bè khác trong giới Y khoa để tìm đường trở về nghề
cũ. Và cũng như đa số bạn bè y khoa tôi cuối cùng cũng
trở lại nghiệp Y. Thỉnh thoảng tôi cũng được
nghe đến anh Tô Phạm Liệu. Tôi được biết anh đã quay
lại hành nghề ở một nhà thương điên (state hospital) nào đó
ở Kansas. Tôi được biết anh uống rượu nhiều, rất
nhiều. Tôi muốn nhưng chả bao giờ có dịp liên lạc. Năm 1989 tôi đi dự cuộc họp
Hội Y Sĩ Quốc Tế Việt Nam Tự Do ở một khách sạn lớn
ở Little Saigon, California. Ðang đi vớ vẩn trong khách sạn thì
có tiếng gọi tên. Tôi nhìn ra thấy Huynh trưởng Tô Phạm
Liệu. Anh em gặp nhau mừng ứa nước mắt. Anh dẫn tôi vào ngồi ở một
quầy rượu. Anh uống rượu mạnh liên miên. Tô Phạm Liệu
lần này nói chuyện nhiều hơn, nói khá nhiều. Có khi là người
nói, có khi là "rượu nói." Anh nhìn tôi và nói, và
nhắc nhở đến Ðoàn Trung Bửu (Biệt Ðộng Quân, chết trên
đường ra đơn vị 1975), Vũ Ðức Giang (Thủy Quân Lục
Chiến, tự tử chết trong trại học tập 1976)... Ðó là
những bạn cùng lớp Khóa 21 Quân Y của tôi, những đàn em
của Ðại Ðội Tân Sinh Viên Quân Y 19 năm trước của anh, đã
hy sinh trong những ngày vừa qua. Anh Tô Phạm Liệu bây giờ ốm hơn
trước. Anh Liệu cho biết là anh đang bị bệnh đái đường
(diabetes mellitus). Nhưng anh vẫn uống rượu liên miên. Anh cho
biết "có lẽ" đã bị chứng đau thần kinh vì đái
đường (diabetic neuropathy). Tô Phạm Liệu bảo những cơn đau
rất gần nhau và khá nặng. Nhưng anh vẫn không uống thuốc
giảm đau. Tôi hiểu anh muốn có đau thể xác đó để cho
mất cái đau tinh thần. Tô Phạm Liệu nói là cảm thấy
lẻ loi ở cái Ðại Hội Y Sĩ có nhiều những người
"mặc quần mới áo đẹp" và "ăn to nói
lớn," thích "nhảy đầm" và "xếp hàng để
lên hát"... Trong cơn say anh nói là phải chi trước kia mười
mấy năm trước anh được "ở lại Charlie" với Trung
tá Nguyễn Ðình Bảo, với các bạn nhảy dù thì "sướng
hơn nhiều." Tô Phạm Liệu chỉ thích uống rượu
và "không muốn làm gì nữa cả." Tôi không uống được nhiều rượu
nhưng cũng uống hai ba ly rượu để làm vừa lòng anh. Tôi chú
ý nghe anh nói. Anh nói chuyện vẫn hay và hấp dẫn. Mười chín
năm trước đó, khi anh đang huấn luyện tân sinh viên quân y,
mỗi lần nghe anh nói chuyện tôi hầu như thấy anh nói đều
có lý cả. Lúc này thì khác. Có nhiều chỗ tôi thấy anh nói
đúng. Có nhiều lúc tôi nghĩ là anh nghĩ sai. Nhiều lúc là
"rượu nói" chứ không phải anh nói nữa. Nhưng tôi
hiểu Tô Phạm Liệu nhiều. Giữa tiệc rượu của hai anh em,
sau 15 năm mới gặp gỡ, Tô Phạm Liệu làm tôi ngạc nhiên
khi nói là muốn đọc thơ cho tôi nghe. Anh nói là anh chả có
thích thơ và cũng chả nhớ bài thơ nào nhưng chỉ thích và
nhớ một đoạn trong bài thơ "Nhớ Rừng" của Thế
Lữ: "...Ta
sống mãi trong tình thương nỗi nhớ Với khi
thét khúc trường ca dữ dội Trong hang
tối, mắt thần khi đã quắc Nào đâu
những đêm vàng bên bờ suối Tôi hiểu Tô Phạm Liệu nhiều hơn.
Tôi vẫn kính trọng anh. Tôi vẫn thương mến anh như những
ngày xưa, và có thể là hơn những ngày xưa nữa. Nhưng vẫn có những điểm tôi
không đồng ý với anh Liệu. Lần gặp gỡ đó là lần sau cùng
tôi gặp người anh lớn của khóa tân sinh viên sĩ quan quân y
ngày nào của chúng tôi. Sau này tôi được biết anh đã
dọn về ở tiểu bang Lousiana và làm việc ở một nhà thương
nào đó. Và đến bây giờ Huynh trưởng Tô
Phạm Liệu đã vĩnh viễn ra đi. Tờ cáo phó của tờ báo Người
Việt trên tay tôi trở thành mờ nhạt: "Vô cùng thương tiếc bạn
chúng ta, Tô Phạm Liệu (1947-1997) Y Sĩ Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù...
đã không còn với chúng ta kể từ ngày 29 tháng Chín năm
1997... một lòng binh chủng Nhảy Dù. Cầu Anh Linh bạn quên
phiền hà, coi như trở lại Charlie..." Tôi nhìn qua khung cửa sổ. Xa xa trên bầu trời trong xanh,
gần những đám mây trắng ở trên thật cao, hình như mờ
ảo có một cánh dù nhỏ bé... Anh trở lại tìm Nguyễn Ðình
Bảo và những anh em nhảy dù khác, những đồng đội đã
"ở lại Charlie." Tô Phạm Liệu: Người Trở
lại Charlie. Tháng Mười 1997 PHẠM ANH DŨNG |