Chuyến Vượt Biên Kinh Hoàng
 
(Câu chuyện vượt biên tìm Tự Do của vợ chồng Đắc & Nga)
Nguyễn Thị Hằng Nga

 

(Viết từ Trại Giam Baxter, Port Augusta của Bộ Di Trú Úc).

***

 Không một ai trong chúng ta, những người tị nạn Cộng Sản mà chưa một lần trải qua cuộc hành trình vượt biên, vượt biển với những cam go, kinh hoàng... luôn luôn đối diện với cái chết và hiểm nguy: Sóng gió, đói khát, hải tặc... trên đường vượt thoát tìm Tự Do.

     Ngày nay, cho dù đã trải qua 30 năm, nhưng mỗi lần nhớ lại, chúng ta vẫn không khỏi rùng mình ghê sợ...

     Vượt trên mọi nỗi sợ hãi, tận cùng của sự can đảm. Hai vợ chồng của anh chị Hồng Công Đắc và Nguyễn Thị Hằng Nga đã kiên cường bất chấp tử thần, sẵn sàng chấp nhận sự đói khát trong suốt cuộc hành trình tìm Tự Do lần thứ hai, bằng chiếc thuyền nhỏ bé mong manh, lênh đênh trên đại dương trong hơn một tháng trời từ Việt Nam đến Úc.

     Tất cả những đau thương, bi thảm, hãi hùng trong cuộc hành trình này, đã được chị Nguyễn Thị Hằng Nga ghi lại trong tập Hồi Ký "Chuyến Vượt Biên Kinh Hoàng"... Xin trân trọng giới thiệu cùng đồng hương và độc giả...

Sau đây là một vài nhận xét của Ông Đoàn Việt Trung, cựu chủ tịch CĐNVTD Liên Bang Úc Châu, hiện là TTK CĐNVTD Liên Bang Úc Châu, người đã theo sát vụ kháng án của anh chị Đắc & Nga:

     "Lần đầu tôi nói chuyện với chị Nga, chị bật khóc khi kể về hoàn cảnh thương tâm của chị và anh Đắc, chồng chị. Bây giờ, sau mấy năm liên lạc khá thường xuyên qua điện thoại, tôi hiểu tính tình của chị và anh Đắc. Nga, người đàn bà không may mắn được học cao, nhưng rất thích viết, thích nói chuyện, thích tiếp xúc với bạn bè. Tính của chị mau vui nhưng cũng dễ buồn, dễ khóc. Trong mấy năm qua, hễ khi nào nói đến việc có thể bị chính quyền Úc cưỡng bách về sống dưới chế độ CSVN, là chị lại ngẹn ngào hay oà lên khóc.

Đắc, người đàn ông ít nói, một ngày có thể chỉ thốt lên vài câu. Một người cần cù, thích lo công việc vườn tược. Đắc-Nga, một cặp vợ chồng đầy nghị lực, đã vượt qua nhiều chông gai, đã mấy lần đối diện với tử thần trên biển cả. Để làm gì? Chỉ mong nhìn thấy bầu trời tự do nắng ấm đầy tình người. Những tưởng đây thực sự là bến bờ tự do, nhưng rồi họ cũng chỉ thấy trước mặt là hàng rào kẽm gai, chỉ thấy tù tội. Họ chưa từng được hưởng không khí tự do. Họ bị giam ngay từ ngày đầu đặt chân đến Úc, và hiện đang bị giam trong trại tù di trú ở Baxter, Nam Úc. Họ từng bị chế độ cộng sản trù dập, chiếm nhà cửa, xua đuổi họ, bắt chủ nhân đuổi việc họ, cấm không cho con cái của họ vào đại học. Thế nhưng họ vẫn bị Bộ Di Trú và Hội Đồng Tái Xét Tỵ Nạn đánh rớt thanh lọc. Tôi đang nhờ một luật sư và một trạng sư giúp đỡ cho anh chị, cả hai đều làm việc miễn phí để đưa trường hợp của họ ra Toà Án Liên Bang. Tháng 8 này sẽ có phiên toà, hiện thời chưa biết ngày chính xác.

Chị Nga đã viết cuốn hồi ký về cuộc hành trình tìm tự do của anh chị. Xin cám ơn anh Lộc, chủ nhiệm của Nam Úc Tuần Báo, đã có nhã ý cho đăng lại hồi ký của chị kể từ số báo này. Xin mời quý độc giả theo dõi chuyến đi hãi hùng của Đắc và Nga, những người tỵ nạn cuối mùa.

***

Chuyến Vượt Biên Kinh Hoàng

Thưa quí đồng hương,

Mỗi lần trong trại có phái đoàn Bộ Di Trú  đến vận động hồi hương là toàn thể detainees [những người bị tạm giữ] rất buồn, không khí trong trại như lắng hẳn xuống y như tại đây đang có đám tang, và người chết nằm chờ mang đi chôn. Riêng vợ chồng chúng tôi thì lại phải kéo dài những đêm không ngủ, lo lắng, ngồi lặng lẽ khóc. Tôi đã thức 13 đêm để hoàn thành cuốn hồi ký vượt biển này của chúng tôi.

Thưa quí đồng hương,

Trước đây, tôi chưa bao giờ có ý định viết một cuốn hồi ký về chuyến vượt biển của mình, vì chuyện vượt biên, vượt biển đối với người Việt mình thì đã "xưa như trái đất". Nhưng trong chuyến vượt biển của vợ chồng chúng tôi, nó là cả một chuỗi kinh hoàng. Ba tháng trời lênh đênh trên mặt biển vẫn còn in dấu mãi trong tâm trí chúng tôi đến suốt đời không thể phai nhòa được.

Dù đã hai năm qua, nhưng mỗi lần nhớ lại chuyến đi ấy tôi vẫn còn thấy rõ ràng, tỉ mỉ, từng chi tiết một như cuốn phim chiếu chậm vừa mới xẩy ra ngày hôm qua.

Thời gian sống trong Trại Baxter, vợ chồng tôi đã may mắn nhận được sự giúp đỡ của quý đồng hương trong cộng đồng người Việt tị nạn từ vật chất đến tinh thần. Nhất là hàng tuần được đọc Nam Úc Tuần Báo, nên chúng tôi cũng biết được những sinh hoạt của đồng hương tị nạn đang sống ở bên ngoài. Quan trọng hơn hết là vợ chồng tôi đã được trợ giúp về mặt pháp lý từ của CĐ liên bang, tiểu bang và những LS thiện nguyện.

 Hôm nay, tôi ngồi viết cuốn hồi ký vượt biển này như là một món quà gửi đến tất cả đồng hương người Việt tại Úc, để cảm thông cho cảnh ngộ của những người kém may mắn như chúng tôi.

Baxter, ngày mùng 1 Tết Nguyên Đán.

Đắc và Nga.

***

Thế là một lần nữa tôi lại ra đi. Cuộc vượt biên năm 2000 lần này, nghe như một chuyện hoang đường không có thật.

Buổi chiều hôm đó, hai vợ chồng chúng tôi lang thang tại Thị Xã Sóc Trăng, ngắm nhìn phố phường với tâm trạng rối bời. Đang đi bên nhau, bất chợt chồng tôi quay sang hỏi:

- Em còn muốn mua gì nữa không?

Tôi lắc đầu. Tất cả mọi thứ cần thiết cho chuyến đi, chúng tôi đã mua đầy đủ không cần phải mua thêm gì nữa... Hiện giờ, lòng tôi đang dâng lên một niềm nhung nhớ vô bờ. Ôi! quê hương thân yêu, chưa đi xa mà sao đã nghe nhung nhớ trong lòng vời vợi... Nhưng có lẽ điều lo lắng nhất hiện nay của tôi chính là sự giằng co giữa hai vấn đề hệ trọng: Có nên cho con cùng đi hay không?

Đường biển từ Việt Nam đến Úc xa xăm diệu vợi. Trên một con tàu nhỏ chỉ rộng 1,7m, dài 8,5m. Với một chiếc máy nổ nhỏ đã cũ mới được chồng tôi đại tu, không có mái che. Ngày hôm qua, chồng tôi làm một mái che tạm bằng plastic, chỉ có thể che đỡ nắng, không thể che mưa. Nếu liều mang con cùng đi, chẳng may sẽ chết chùm. Giằng co mãi, cuối cùng chúng tôi đành quyết định để con ở lại Việt Nam.

Cho đến bây giờ, hai vợ chồng tôi vẫn chưa cho người thân biết ý định ra đi của chúng tôi vào ngày mai, vì không muốn gia đình chúng tôi phải ngày đêm lo lắng.

    Bởi chính chúng tôi cũng chưa biết được chuyến đi này sẽ ra sao, đến được bến bờ Tự Do như mong ước, hay sẽ phải gửi thân vào lòng biển để làm mồi cho cá. Suốt một buổi tối, hai vợ chồng tôi ngồi bên nhau tại quán Đàlạt II của Sóc Trăng, mỗi người theo đuổi một ý tưởng thầm kín trong đầu.

Tôi vốn là một người đàn bà gan dạ và đầy nghị lực, nên tự nhủ: "Thôi thì lo lắng hết đêm nay, chuyến ra đi ngày mai cứ  phó thác trong bàn tay Thiên Chúa an bài". Vợ chồng tôi nắm lấy tay nhau, cam kết một lòng: Dù chuyến đi này may hay rủi, sống hay chết, đã quyết tâm đi thì phải chấp nhận tất cả.

     Tàu chúng tôi bắt đầu xuất phát tại Sóc Trăng lúc 5 giờ chiều. Đường ra cửa biển Vị Thanh phải đi qua đồn Công An biên phòng. Để tránh sự chú ý của CABP, tôi phải cột tóc lên cao, đội nón và mặc áo của chồng giả làm đàn ông.    

Mặc dù đã là năm 2000, công an biên phòng có thể không còn nghĩ đến chuyện còn người đi vượt biên. Nhưng cẩn tắc vô áy náy, tránh những điều xấu có thể xẩy ra, chúng tôi cho tàu chạy sát mé sông bên kia.

Nhưng điều thật không may, khi vừa đối diện với đồn biên phòng thì tàu lại mắc cạn. Hoảng hốt hai vợ chồng tôi vội nhảy xuống nước đẩy tàu ra. Lúc này cũng đã khoảng nửa đêm, phải bằng mọi cách rời xa khỏi tầm mắt của đồn CA biên phòng trước khi hừng sáng.

Hai vợ chồng cứ cắm đầu, ráng sức, người kéo, người đẩy. Vừa đẩy chồng tôi vừa cằn nhằn. Con sông bên lở bên bồi, ác một cái là đồn biên phòng của bọn CA không chịu trụ bên bồi, lại trụ bên lở cho tàu ta mắc cạn. Đêm tối đen, qua khỏi khúc mắc cạn, chúng tôi tăng tốc máy chạy suốt đêm.

***

Bình minh trên biển mới đẹp làm sao, biển đẹp như một bức tranh. Tôi say sưa ngắm nhìn, chỉ chỏ. Có lẽ chồng tôi không cùng một tâm trạng như tôi nên anh lên tiếng cảnh cáo:

- Này em, mình đang đi vượt biên, và còn đang trong hải phận Việt Nam đấy, không phải đi du lịch đâu nhá.

Tôi cãi bướng:

- Đi vượt biên với đi du lịch đâu có khác gì. Phải thưởng thức cái đẹp chứ. Em nghĩ không có cảnh nào đẹp bằng cảnh thiên nhiên sớm mai trên biển. Anh nghĩ coi, trong đời mình dễ gì có một chuyến đi nữa như thế này. Vậy thì mình hãy thưởng thức nó kẻo uổng phí đi.

    Biển hôm nay thật hiền hoà, dễ thương làm sao. Sóng yên biển lặng, bầu trời trong vắt không một gợn mây. Khi tàu đi qua vùng biển Kalimantan Indonesia, mặt biển lặng như tờ, tôi có cảm tưởng mặt biển là mặt nước hồ thu, nhìn khắp chung quanh chỉ là mênh mông biển trời.

Con tàu nhỏ bé của chúng tôi như chiếc lá tre trôi trên sông rộng. Chúng tôi không hề thấy sợ mà trong lòng rất vui nữa là khác. Đúng là Trời thương cho chuyến hải hành đầu xuôi đuôi lọt. Chúng tôi vừa thay nhau lái tàu vừa mừng vui ca hát trước một tương lai sáng lạn nơi phương trời Úc Châu.

     Khung cảnh vùng biển Kalimantan của Indonésia đẹp tuyệt vời! Chúng tôi đi qua biết bao nhiêu đảo nhỏ, mỗi hòn đảo mang một dáng vẻ khác nhau. Tôi say sưa nhìn không chán mắt. Thiên nhiên thật là kỳ thú: có đảo trông giống hệt hình mái nhà, có đảo y chang một chú thỏ, có đảo giống như con gà con đang khẻ vỏ trứng chui ra. Có một hòn đảo mà tôi thích nhất, toàn đảo là dừa, những cây dừa tốt tươi đan khít vào nhau. Đường vào vườn dừa là những tảng đá lớn, bằng phẳng, xếp gối đầu lên nhau rất thứ tự. Nhìn đảo dừa tôi liên tưởng đến vườn địa đàng. Tôi ước ao được lên đó chơi một lần, nhưng tôi biết không dễ gì thuyết phục được chồng tôi đâu. Anh vốn là con người chăm chú lo công việc, mà dù có xiêu lòng vì cảnh đẹp và chìu theo ý tôi đi nữa, chúng tôi cũng không thể vào được đảo dừa. Đường lên đảo là vách đá dựng đứng, xung quanh chắc chắn nhiều đá ngầm, tàu chạy vào gần là đụng phải đá ngay. Tôi cứ nhìn mãi đảo dừa mà suýt xoa tiếc rẻ. Khi tàu đi qua lâu rồi, hòn đảo đã khuất dần sau lưng mà tôi vẫn còn ngoái cổ nhìn nó mãi khiến chồng tôi phải phì cười. Anh nói:

- Ngắm cảnh thiên đàng như vậy là đủ rồi, em mà cho tàu chạy vào đó sẽ thấy đời là địa ngục đấy.

***

- Thiên nhiên tuyệt vời

    Cuối tuần thứ 3 tàu chúng tôi tới bến cảng Jakarta. Vui mừng khôn xiết!  Chúng tôi quyết định nghỉ một đêm, dưỡng sức, dưỡng máy và cũng để nhìn ngắm thành phố Jakarta, dẫu rằng chỉ đi lòng vòng ngoài biển nhìn vào mà thôi. Thành phố Jakarta rực rỡ ánh đèn màu, khung cảnh thực tế đẹp hơn hẳn những hình chụp mà tôi được coi khi còn ở Galang. Tôi hớn hở trầm trồ và muốn lên đó thăm quá chừng.

Tôi cố thuyết phục chồng:

- Trong lúc anh ngủ, em muốn tự mình lái tàu chạy vòng quanh một vòng nữa để ngắm cho thoả thích, vùng biển này sóng yên và phẳng lặng như mặt hồ không có gì đâu.

Cứ tưởng anh khó khăn, không ngờ anh lại đồng ý dễ dàng. Sau tiếng OK là anh nằm xuống ngủ ngay sau 5 phút sau. Chồng tôi như vậy đó, có lẽ anh là người dễ ngủ nhất thế giới. Tôi rất mừng khi được tự lái tàu để chiêm ngưỡng mọi cảnh vật thật là thoả thích. Nhưng rủi thay, tàu tôi chưa đi được bao lâu, thì đã sắn vào lưới giăng cá. Hoảng hồn, tôi kêu chồng tôi dậy. Anh chạy ngay ra gỡ lưới quấn vào chân vịt, nhưng chưa gỡ xong thì chủ tàu đã tới. Cũng may nhờ hai vợ chồng tôi đều nói được tiếng Indo, nên sau khi xin lỗi và lấy lưới mang theo bồi thường cho họ nên mọi chuyên cũng yên, thật là hú vía. Kể từ đó, tôi đành thả neo ngồi yên một chỗ, không dám kỳ kèo gì với chồng tôi nữa.

4 giờ sáng, chúng tôi lên đường để tiếp tục cuộc hành trình. Suốt cả tuần lễ, chúng tôi lái tàu đi dọc theo đảo vừa đi vừa nghỉ, để dưỡng máy dưỡng người.  Không như mấy tuần đầu chỉ là mênh mông sóng nước, đi cập đảo có rất nhiều chỗ nghỉ. Những lúc neo tàu để nghỉ ngơi, chồng tôi thường câu cá, vì đó là sở thích của anh. Trên tàu chúng tôi mang theo rất nhiều dây cước và lưỡi câu, đủ loại. Cũng nhờ trong thời gian sống ở Galang chồng tôi chuyên đi biển đánh cá nên chúng tôi câu được khá nhiều. Nhờ vậy, chúng tôi không phải đụng đến số lương thực mà chúng tôi đã mang theo từ Việt Nam. Thậm chí, cá câu được nhiều quá ăn không hết phải thả lại xuống biển.

***

 

Bắt đầu thử thách

    Đêm nay là đêm đầu của tuần lễ thứ 5. Tàu cuả chúng tôi đang ở trong khu vực của tỉnh Surabaya. Từ đằng xa, tôi đã thấy hiện ra trước mắt một thành phố nằm trên biển tuyệt đẹp! Nhưng khi đến gần, tôi mới biết đó chỉ là một bến cảng tuyệt vời như trong truyện cổ tích. Phải có cả trăm, ngàn con tàu lớn nhỏ đậu san sát bên nhau, với muôn ngàn ánh đèn lấp lánh như những vì sao. Tôi đưa mắt nhìn hết con tàu này đến con tàu khác... những con tàu to lớn và xinh đẹp quá chừng.

    Suốt mấy tiếng đồng hồ len lỏi giữa hàng trăm, hàng ngàn con tàu lớn nhỏ nối kết nhau, chúng tôi không tìm được lối ra. Đành phải cho tàu chạy suốt đêm chẳng dám đến gần tàu lạ để hỏi. Cứ thế cho đến gần sáng, chúng tôi mới dám tìm người hỏi thăm, vì ban ngày mà cho tàu chạy trong vùng cảng rất dễ bị bắt.

Chồng tôi cho tàu đến gần một chiếc tàu buồm của dân bản xứ đi câu mực, cho họ con cá câu được chiều hôm qua. Ông già lái tàu nhìn thấy cá Chacalan (cá ngừ), mắt ông ta sáng lên mừng rỡ (vì dân Indo rất thích ăn cá Chacalan). Nhận cá, ông già đã tận tình chỉ đường cho chúng tôi đi.

    Mấy hôm nay, trời êm biển lặng nhưng chúng tôi lại lo sợ đến toát mồ hôi. Bởi hiện giờ, chúng tôi không còn đi dọc theo đảo nữa, mà chúng tôi phải cho tàu chạy tắt sang vùng biển Java. Theo tuyến hải trình này thì bốn bề mênh mông sóng nước, không thấy đâu là bờ bến, không tìm đâu bóng một con tàu, dù lớn hay nhỏ, mà màu nước thì quá lạ lùng. Suốt 2 ngày đêm đi trong vùng biển nước màu hổ phách, và sau đó dần dần chuyển sang vùng biển đen kịt như hắc ín. Tôi cảm thấy lo sợ vội nắm chặt tay chồng mà mồ hôi ướt đẫm. Tôi biết tâm trạng chồng tôi cũng lo sợ không khác gì tôi. Dù vậy nhưng cả hai vợ chồng không ai dám nói lên ý nghĩ của mình. Bởi trước khi ra đi, vợ chồng chúng tôi đã cam kết với nhau là dù trong chuyến hành trình, chúng tôi có gặp bất cứ hiểm nguy nào, không ai được nói đến chữ "sợ" hay chữ "chết". Tuy vậy, chỉ nhìn mặt anh, tôi cũng hiểu được tâm trạng anh lúc này. Nhìn khuôn mặt xám ngắt của anh, toàn thân tôi bỗng lạnh buốt... Nước mắt tôi cứ chực ứa ra, nhưng tôi cố đè nén dấu đi. Tôi không dám để cho chồng tôi nhìn thấy những giọt nước mắt sợ hãi ấy, vì tôi sợ sẽ làm anh mất bình tĩnh mà xuống tinh thần.

Tôi thì thầm đọc kinh, xin Chúa ban cho tôi thêm can đảm vượt qua vùng biển đen này. Tôi có cảm tưởng nó không phải là nước biển, mà là một chất gì đặc quánh. Lúc này cái cảm giác chết chóc cứ lởn vởn trong đầu tôi. Tôi có cảm tưởng con tàu của chúng tôi đang đi trong vùng đen của địa ngục, nhưng tôi không dám nói cái ý nghĩ rùng rợn ấy thành lời.

Tôi ngồi im đọc kinh, mắt nhìn mũi tàu đang lướt trên màu nước đen ngòm mà rợn người. Lúc này tôi chỉ mong sao thấy được bóng một con tàu, nhưng tất cả chỉ là ảo vọng.

- Em mệt thì nên ngủ, sau khi ngủ một giấc sẽ thấy khoẻ hơn. (Lời chồng tôi nói nghe như gió thoảng bên tai).

Tôi ráng lấy giọng thật bình tĩnh để trả lời anh:

- Không, em không muốn ngủ... Em hơi mệt nhưng không sao.

"Mệt" có nghĩa là sợ. Cả hai chúng tôi đều hiểu cảm giác này của nhau mà không ai dám nói ra. Tôi không dám vọc tay xuống nước, để thực hiện một trò chơi mà tôi vẫn thích: "bốc nước biển đưa lên cao cho nó rơi xuống trong ánh trăng - trông chẳng khác gì những ánh lân tinh vỡ oà muôn tia nhỏ như bao ánh sao trời lấp lánh trong đêm.

***

May thay, ngày hôm sau nước biển bắt đầu nhạt dần... và từ từ trở lại màu xanh muôn thuở của đại dương. Hai vợ chồng tôi nhìn nhau thở phào nhẹ nhõm. Thế nhưng, niềm vui chưa trọn vẹn thì bất ngờ một cơn mưa lớn từ đâu ập đến. Mưa như trút nước, mưa nghiêng ngửa đất trời, đại dương cuồng nộ, sóng lớn cuồn cuộn nổi lên. Chồng tôi cố gắng ghì chặt tay lái để điều khiển con thuyền trong cơn giông tố, bởi chỉ cần một giây lơi lỏng là con tàu có thể lật úp ngay. Công việc của tôi là tát nước, hai tay tôi tát nước liên tục như một cái máy. Nhưng cho dù tát nước nhanh đến cỡ nào cũng không kịp với cơn mưa mỗi lúc một lớn hơn. Tấm plastic chồng tôi dùng tạm để che nắng, ngay từ đầu cơn mưa đã bị gió cuốn phăng đi mất... nước từ những con sóng lớn nhô cao, liên tiếp ập vào mạn tàu. Múc một gàu đổ ra thì bên ngoài thì sóng lại đổ vào hai ba gàu. Trời càng lúc càng tối, tay chân tôi mỏi nhừ, hết ngã bên này lại chúi sang bên kia, theo những cái lắc nghiêng ngã của con tàu trong cơn sóng dữ. Thân thể tôi ướt đẫm như chuột lột. Tôi run lên vì ướt, vì gió lạnh cộng với cái đói của 2 ngày đi trên biển đen, hai vợ chồng không ăn uống. Lại gặp biển động, gió mưa lạnh ngắt, nên hai hàm răng cứ đánh bò cạp, lộp cộp liên tục không ngừng. Nhiều lúc tôi muốn đọc to lên một câu kinh để cầu xin Chúa ban cho bình an, nhưng cũng không làm sao thốt được được lên lời.

Thế nhưng dường như, chúng tôi không thể thốt lên được một lời cầu xin, Thiên Chúa vẫn nhìn thấy và thương xót con cái Ngài. Bởi sau một thời gian mưa bão dồn dập kéo dài 7, 8 tiếng đồng hồ, bỗng dưng, cơn mưa đột ngột chấm dứt như có một phép lạ. Biển trở lại hiền hoà, sóng êm gió nhẹ, dịu dàng như một khúc nhạc tình ca.

Nếu không phải chịu đựng trận mưa bão vừa qua, mà chỉ thưởng ngoạn cảnh trời nước êm ả thì không ai có thể biết được cái sống luôn kề cận với sự chết từng giờ, từng ngày trên biển cả.

Vợ chồng tôi thở phào nhẹ nhõm, hết nhìn biển, nhìn trời, rồi lại nhìn thân mình vẫn đang còn ướt đẫm.

    Thoát khỏi cơn mưa bão, công việc đầu tiên của tôi là phải nấu một cái gì đó để ăn vì quá đói. Tôi quyết định nấu một nồi mì gói cho nhanh và gọn. Nồi mì nấu chưa đủ chín chúng tôi đã vội mang ra ăn. Cả hai ăn ngốn ăn ngấu và cảm thấy ngon lành làm sao, tôi có cảm giác còn ngon hơn cả cao lương mỹ vị trên đời này.

***

Đêm xuống, tàu chúng tôi lại đi lạc vào vùng biển cạn Java. Theo những chi tiết trên bản đồ thì chúng tôi cứ đi theo sườn núi là đúng đường. Nhưng không hiểu sao, chúng tôi đã đi suốt một đêm dài mà tàu vẫn không tìm được lối ra. Khắp một vùng biển rộng mênh mông nhưng rất cạn, có nơi chỉ cắm cây sào xuống là tới đáy. Vì sợ tàu bị đụng đá ngầm sẽ vỡ, hai vợ chồng tôi phân chia nhau: người cầm lái, kẻ cầm sào dò đường, hồi hộp quá chừng.

Khi trời hừng sáng chúng tôi mới tìm thấy được đường đi. Tôi lắc đầu ngao ngán vì tấm bản đồ mang theo chẳng rõ ràng gì cả. Vùng biển cạn rộng mênh mông như thế này mà trong bản đồ chẳng hề thấy một chút dấu tích nào!

Ra khỏi vùng biển cạn, chúng tôi gặp rất nhiều tàu đánh cá. Từ khi đi vào vùng biển Indo tới nay, đây là lần đầu tiên chúng tôi mới được nhìn thấy nhiều tàu đánh cá như vậy. Trước đây, ở bến cảng Jakarta và Surabaya cũng có rất nhiều tàu, nhưng hầu hết toàn là những thương thuyền to lớn chở hàng. Gặp được người là chúng tôi mừng lắm. Sau khi tắp vào một chiếc tàu đánh cá để hỏi đường, không những vợ chồng tôi được các ngư phủ chỉ đường rất tận tình, mà họ còn đem ra cho một số tôm và mực nữa. Họ còn cho chúng tôi hay, vùng biển cạn chúng tôi vừa đi đêm qua là vùng nuôi tôm. Trong vùng này không có đá, chỉ là sình nên không nguy hiểm cho tàu, nhưng nguy cho người nếu xẩy chân lọt xuống. Ngoài ra, nếu đang lẩn quẩn trong đó mà gặp phải những người bảo vệ có thể bị ăn đòn như chơi. Bởi vì trên tàu chúng tôi có mang theo lưới đánh bắt tôm và ghẹ, nên  họ sẽ nghi chúng tôi là dân đi ăn trộm tôm, (tàu của chúng tôi vốn thuộc loại được xử dụng để đi bắt tôm và ghẹ trong mé). Nghe họ giải thích tôi rùng mình sợ hãi!

***

    Lại một ngày qua đi, hôm nay, tàu chúng tôi đi về hướng dãy đảo Bali. Một vùng biển luôn luôn có sóng lớn, không giống như vùng biển Kaliman-tan hay Jakarta. Vì tàu quá nhỏ, và để tránh sóng lớn, nên chúng tôi cho tàu chạy gần bờ. Cách đi này thì tránh được sóng lớn nhưng lại gặp đá ngầm, vô cùng nguy hiểm. Nước biển trong khu vực này trong vắt, nhưng nhìn xuống đáy thì thấy toàn đá là đá, chồng chéo lên nhau, chen lấn với nhau lớp lớp xám xịt. Từng bầy cá bơi lội tung tăng, chỉ cần ném xuống một nắm cơm là tha hồ xem cá bu lại giành mồi!

Những tảng đá ngầm dưới nước là nơi trú ngụ của đàn cá thì cũng chính chúng lại là mối đe doạ cho những con tàu nhỏ. Chỉ cần một giây sơ xẩy, tàu đụng phải đá ngầm là tai nạn chết người xảy ra như chơi. Bởi vậy cuộc hành trình vượt biển của chúng tôi đã phải đi trong những nỗi gian nguy rình rập tứ bề.

    Ngay từ thuở ấu thơ tôi đã yêu biển và thích những con tàu. Tôi vốn hay khóc nên ba mẹ thường gọi tôi là "mít ướt". Cái tên này chỉ không được nhắc tới khi tôi đã trở thành "mẹ bầy trẻ". Còn nhớ mỗi lần tôi khóc, ba mẹ thường hay dỗ dành: "Nín đi con, mai ba đi mua cho con một tấm hình biển, và một cái tàu thật đẹp". Nhìn cảnh biển hôm nay, bất giác gợi cho tôi nhớ về ba mẹ và những ngày sống êm đềm của một thời thơ ấu. Bởi những ý thích và những mơ mộng cuộc sống hải hồ, nên ba mẹ thường hay ghẹo, cho rằng bà mụ đã nặn nhầm, đáng lẽ tôi phải là con trai mới đúng. Còn Ba thì vẫn thường nói phải chi tôi là con trai ông sẽ cho học ngành hàng hải. Tiếc thay, tôi lại là gái nên đành phải chơi với tàu và vui với trời biển qua những tấm hình mà thôi.

    Chuyến đi này tôi rất thích thú vì tha hồ được ngắm cảnh thiên nhiên. Chúa đã sáng tạo nên muôn loài, muôn vật. Loài người thì có tiếng nói, chim muông, cầm thú cũng có tiếng hót, tiếng kêu, để trao đổi, cảm thông và hiểu biết nhau. Rồi tôi tự hỏi: Vậy những con tàu và những tảng đá ngầm dưới đáy biển, chúng có cảm thông với nhau hay không? Theo tôi, bằng một thứ ngôn ngữ nào đó mà chúng có thể hiểu nhau, chắc sẽ có biết bao câu chuyện hấp dẫn mà chúng sẽ kể cho nhau nghe. Những con tàu sẽ kể cho đá nghe những muôn sắc, muôn màu đổi thay theo từng câu chuyện hải hành trong những vùng biển chúng đã đi qua. Đá, tuy nằm một chỗ không dời đổi nhưng nhưng vẫn  có thể trao đổi tâm sự với bất cứ con tàu nào đi ngang qua vô số chuyện biến đổi hàng ngày. Tàu và đá trở thành bạn của nhau vĩnh viễn, và đá sẽ không còn là mối đe dọa cho những con tàu, không bao giờ lại đập nát con tàu...

    Nhưng đáng buồn thay, tất cả chuyện trên chỉ là chuyện mơ mộng vẩn vơ. Ngay như con người có tiếng nói, ngôn ngữ... Nhưng đâu phải tất cả chúng ta đều coi nhau là bạn, cảm thông nhau, quí mến và yêu thương nhau. Con người, có lúc hung dữ như sói: tranh giành, cắn xé, hãm hại nhau tàn tệ không khác chi các loài thú dữ, hay rắn độc.

    Nghĩ đến đây, bất chợt tôi nhìn lại phận mình còn đang nổi trôi trên vùng trời vô định: Hơn 6 năm dài đằng đẵng sống tại trại tỵ nạn Galang, với biết bao hy vọng, rồi cuối cùng thì tuyệt vọng. Thiếu thốn, khổ cực vì không có thân nhân ở đệ tam quốc gia. Khi bị đánh rớt thanh lọc, tôi đau đớn muốn phát điên, nhưng vẫn hy vọng vào ân huệ cuối cùng nên cố kiên gan chịu đựng, đợi chờ. Cái hy vọng mong manh đó, đã nuôi sống những con người bị bỏ quên nơi ngưỡng cửa thiên đường.

Nhưng sau những tháng năm dài khốn khổ đợi chờ và mỏi mòn hy vọng một phép lạ, cuối cùng niềm hy vọng mong manh cũng vỡ vụ và lịm tắt. Chẳng có phép lạ nào mang cái ân huệ cuối cùng ấy đến với chúng tôi. Ngược lại, chỉ thấy sức mạnh bạo lực cưỡng bách những con người khốn khổ  trở về lại cái "thiên đường" nơi mà họ đã trốn chạy. Ôi! còn có gì cay đắng hơn, lòng nhân đạo của thế giới đã cạn kiệt hết rồi sao? Tôi đã khóc thật nhiều khi phải bị buộc trở về Việt Nam.

    Khi về tới VN, phép lạ mà những người rớt thanh lọc tại các trại tỵ nạn vẫn hằng ao ước đã xẩy ra. Nhưng bất hạnh thay, chương trình Rove do chính phủ Hoa Kỳ dành cho người hồi hương mở ra không đến với chúng tôi, bởi chúng tôi hồi hương về Việt Nam sau mốc Rove qui định 1 tháng.

Trong khi đó, những người hồi hương khác nằm đúng mốc điểm thời gian ấn định của chương trình Rove, họ ùn ùn nộp đơn xin phỏng vấn. Và rồi họ thơ thới, hân hoan bước lên máy bay ra đi mang theo cả bầu đoàn thê tử. Một chuyện trái ngược với trước đây khi còn ở Galang, nếu có được cho đi định cư, họ cũng phải chờ đợi nhiều năm mới bảo lãnh được gia đình. Đúng là những người này đã nhận được phép lạ, còn chúng tôi thì không. Cho nên lại một lần nữa tôi phải chấp nhận gian nan làm một chuyến vượt biển thứ hai.

***

Đang miên man suy nghĩ buồn cho số phận mình và xót xa về những kỷ niệm đã qua. Bất chợt tôi trông thấy một ngôi chùa nằm trên sườn núi. Ngôi chùa tuy nhỏ nhưng rất đẹp, có vẻ ấm áp, chứ không khiến cho người nhìn có cái cảm giác lạnh lẽo như ngôi chùa tôi vừa đi qua.

Chiều hôm qua, lúc trời gần tối, tôi đã nhìn thấy một ngôi chùa cổ. Ngôi chùa này có lẽ đã có từ mấy trăm năm nay, nhìn nó tôi cảm giác rùng mình sợ hãi. Có lẽ vì chung quanh ngôi chùa phủ được bao phủ bởi một màu xám tối tăm, thậm chí mái ngói cũng đen như hắc ín. Đến nỗi, khi đi ngang qua tôi nghe rờn rợn nổi gai óc, phải nhắm mắt lại không dám nhìn.

Khác với ngôi chùa trên, ngôi chùa mà tôi nhìn thấy hiện giờ, mái ngói đỏ tươi trong nắng, tỏa ra một sự ấm áp. Trước sân chùa là cả một vườn trồng đủ mọi loại hoa đang đua nhau khoe sắc. Từ chân núi lên đến chùa, Phật tử đứng sắp thành một hàng dài. Họ mặc đồ đi lễ đủ màu sắc, trên tay bưng mâm hoa quả lên cúng Phật. Ôi! cảnh đẹp vô cùng, tôi tỏ ý định muốn lên viếng chùa, nhưng chồng tôi càu nhàu:

- Đi vượt biên mà cứ làm như đi du lịch không bằng, đâu cũng muốn đi thăm!

Tôi ráng thuyết phục anh:

     - Anh à! đường đến Úc còn xa vời vợi, mình cứ vừa đi vừa nhìn cảnh và tham quan cho biết. Cơ hội cả đời mới có một lần, biết bao giờ chúng mình mới được đi qua đây nữa. Hơn nữa tàu chạy cũng đã lâu, bây giờ cho tàu nghỉ dưỡng máy cũng tốt. Em chỉ đi vài giờ thôi. Trong khi em đi thì anh câu cá, em về có cá nấu cơm ăn, tiện lợi quá... Đồng ý nha anh!

    Thấy chồng tôi im lặng, tôi mừng rỡ vì nghĩ rằng anh đã đồng ý. Nhưng không! chẳng nói chẳng rằng anh cứ yên lặng cho tàu chạy băng băng:

- Em theo đạo Thiên Chúa lên chùa để làm gì?

    - Em nên chùa đi dạo và ngắm cảnh chùa thì có gì trở ngại đâu anh.

    Đuối lý, chồng tôi lấy lý do có police trên đó ra dọa, để ngăn cản ý định của tôi, nhưng tôi vẫn cố cãi:

    - Anh lẩm cẩm quá, trên chùa thì có Phật chứ làm gì có police!

    Chồng tôi vẫn cố thuyết phục:

- Theo anh, em tham quan bằng cách ở dưới tàu nhìn lên cũng được rồi. Anh cho em tự lái tàu thật chậm, quay một vòng lại nhìn cũng được. Biết chẳng xin xỏ hay năn nỉ được chồng, tôi đành cầm lấy tay lái tàu.

Biển hôm nay không được êm, nhưng tàu chạy gần bờ nên chồng tôi mới dám đưa tay lái cho tôi. Giao tay lái cho tôi xong, anh thảnh thơi hút thuốc và sửa soạn câu cá. Tôi đánh tay lái một vòng tiến vào sát chùa hơn. Không ngờ, ngay lúc đó trên bờ 3 tên police từ đâu chui ra vẫy tay gọi ơi ới. Hoảng hồn, tôi quay tay lái tăng tốc chạy như bay...

Đi được một quãng xa nhìn lại, không thấy ai đuổi theo chúng tôi mới thật sự yên tâm. Chồng tôi nhìn tôi cười ngặt nghẽo:

- Em nói trên chùa chỉ có Phật, không có police, vậy khi nãy ai ở đâu chui ra vẫy tay vậy?

    Tôi nhún vai, le lưỡi:

- Xui quá, em tự trừng phạt mình bằng cách phạt lái tàu nguyên ngày để cho anh câu cá! Vì không có kinh nghiệm và sợ sóng lớn, tôi cho tàu chạy quá gần bờ, nên chân vịt của tầu tôi bị đá ngầm làm gãy. Thật là một tai nạn bất ngờ nan giải, bởi tàu chúng tôi khi ra đi chỉ duy nhất có một cái chân vịt này thôi.   

Vì tai nạn bất ngờ, nên đêm nay tàu chúng tôi đành phải neo tại bãi biển Bali. Nhìn vẻ mặt cau có của chồng, tôi sợ chẳng dám hé môi. Phải tìm cách giải quyết, không thể để mãi tình trạng như thế này được, nhưng giải quyết bằng cách nào mới là một vấn đề nan giải. Đầu óc tôi rối nùi như mớ bòng bong. Tôi đọc kinh suốt đêm cầu xin Chúa cho tôi khôn ngoan hơn.   

Qua đêm tối là ánh sáng của ngày mới. Ánh sáng ơi! xin hãy soi vào cái đầu ngu muội của tôi! Và cuối cùng dường như ánh sáng cũng đã rọi vào cái đầu u tối của tôi thật. Tôi mừng rỡ gọi chồng rối rít:

- Anh ơi! em đã tìm ra cách giải quyết rồi, sáng mai em sẽ lên đảo tìm mua chân vịt.

    Tưởng chồng tôi sẽ mừng với ý kiến độc đáo của tôi, nhưng gương mặt của anh vẫn ỉu xìu như cái bánh tráng nhúng nước:

- Tưởng em nghĩ ra điều gì hay, chứ điều đó chẳng có gì an toàn cả. Em lên đó, police thấy người lạ sẽ hỏi giấy tờ, không có là họ bắt ngay chứ ở đó mà đi mua!

Nghe anh nói cũng có lý, nhưng đành phải mạo hiểm một phen chứ đâu còn cách nào khác. Không lẽ cứ neo tàu ở đây hoài, nếu police nhận ra mình thì họ cũng bắt thôi.

May mắn là cả hai chúng tôi đều nói được tiếng Indo, tuy không nhiều nhưng cũng có thể xử dụng để đi mua đồ được. Tôi không thể ở lại coi tàu vì con tàu di chuyển bằng sào chống, vậy thì tôi phải lãnh nhiệm vụ đi chợ tìm mua chân vịt, nhân thể mua thêm dầu máy và một ít bánh trái phòng khi mưa gió không thể nấu được đồ ăn như đêm hôm trước. Và điều quan trọng hơn cả là phải mua một tấm bản đồ, vì không thể xài mãi tấm bản đồ thế giới vẽ không đầy đủ chi tiết vùng biển này. Tôi cũng dự định mua một lá cờ Indo treo trên mũi tàu, đề phòng khi gặp police Indo khỏi phập phòng lo sợ nữa.

Khi tôi trình bày những dự định cho chồng tôi nghe, thì anh la lên:

- Em cứ làm như đây là Sàigòn muốn mua gì cũng được vậy! 

Hai vợ chồng bàn bạc với nhau mãi, cuối cùng chúng tôi quyết định chờ người bản xứ ra biển đi câu nhờ họ giúp.

    Đợi không lâu, vợ chồng tôi gặp được một người đàn ông đi câu mực. Nhìn thấy khuôn mặt phúc hậu của ông ta, chúng tôi tới làm quen. Qua một hồi nói chuyện chúng tôi thấy ông ta rất hiền lành chân thật, nên vợ chồng tôi bèn ngỏ lời nhờ ông giúp đỡ.

Sau khi nghe chúng tôi trình bày hoàn cảnh, ông lão cho biết từ đây đến nơi mua dầu rất gần, nếu không có sức khoẻ tự mang dầu ra tàu thì chủ tiệm sẽ cho người mang ra dùm. Còn muốn mua chân vịt và những phụ tùng khác, thì phải đi chợ xa khoảng 40 cây số, nhưng đi xe buýt cũng khá nhanh.

    Tôi rụt rè hỏi:

- Ở đây có police không ông? 

Ông lão trả lời:

- Police ở đây rất nhiều, nhưng họ chỉ ở trên khu chợ thôi. Khu vực này toàn là vườn nên không có police.

    Tôi hỏi tiếp:

- Sao hôm qua tôi thấy police ở chùa?

Ông lão giải thích:

- Ồ! vì hôm qua là ngày lễ lớn của Phật Giáo, nên tất cả mọi người đều đi lễ chùa, có lẽ police họ cũng đi lễ chùa vậy mà. Mà tại sao chị lại sợ police?

Ông nói thêm:

- Police ở đây tốt lắm, họ không bao giờ hà hiếp dân đâu, anh chị đừng sợ. Mà tại sao chị lại sợ police? (ông lão lặp lại câu hỏi).

Tôi lúng túng, thầm kêu khổ trong lòng. Chẳng lẽ tôi lại nói "tôi sợ police vì tôi không phải người Indo hay sao?" Lúng túng một hồi, bí quá tôi đành trả lời đại cho qua chuyện:

- Tôi sợ police vì tôi ở vùng xa đến, và tôi không phải là người... theo đạo Phật!

  Tôi nói đại như vậy vì suốt từ hôm đi trên biển Bali tôi chỉ nhìn thấy cảnh chùa Tôi đoán tất cả dân Bali theo đạo Phật.

     Ông lão cũng thật thà nghe tôi giải thích, mà không thắc mắc gì thêm nữa. Ông còn sốt sắng:

- Nếu chị nhút nhát như vậy, khi lên chợ nếu có ai hỏi, tôi trả lời chị là cháu của tôi.

Thiệt là mừng quá trời! Trong cơn hoạn nạn gặp được quí nhân phù trợ. Tôi thầm cám ơn Chúa đã đưa người đến giúp cho chúng tôi.

    Tôi theo ông lão đi chợ mua được đủ thứ đồ không thiếu món gì. Mừng nhất là tôi mua được một cuốn bản đồ, nó phóng lớn từng dãy đảo, ghi chú rất rõ ràng. Tội nghiệp ông lão, sau khi dầu được chở lên tàu, tôi cám ơn và biếu ông $20 USD, ông lão mừng quá, cám ơn rối rít. Trước đó, ông cứ hỏi tôi tiền đó là tiền gì?

    Có lẽ lần đầu tiên ông lão nhìn thấy tiền đô, ông cứ nói hoài, sao chị cho tôi nhiều tiền thế. Nhưng ông có biết đâu, công của ông còn lớn hơn gấp nhiều lần, vì chính ông đã cứu hai mạng người đang ngồi chờ chết. Chúng tôi không có nhiều tiền mà đường đến Úc lại còn xa xôi quá, tôi không dám cho ông thêm như ý tôi mong muốn. Tôi chỉ biết cám ơn ông lão thật nhiều và xin Chúa chúc phúc cho ông.

     Chồng tôi nhìn lá cờ Indo tung bay trong gió, Anh nói, lâu lắm rôi mới nhìn thấy cờ Indo, em còn nhớ ngày quốc khánh Indo là ngày mấy không?

- Sao lại không, dễ như ăn cơm sườn. Em chỉ cần một phần mười giây để truy cứu nhớ lại. Đó là ngày 17 tháng 8. Vừa nói tôi vừa nhìn chồng tôi bận sàrong mà cười đến no. Người ta bận sàrong nó thẳng băng, còn chồng tôi bận sàrong túm tó y như người đi khất thực. Không nhịn nổi tôi nói to lên:

- Anh bận sàrong sao giống đóng khố quá hà, coi chừng nó tụt xuống thì có nước phải lạy người ta, ông ơi!

     Anh phản pháo liền:

- Em hãy lo cho mình đi, đừng vội lo cho người khác, đàn bà mà tụt sàrong mới phải lạy người ta, chứ đàn ông thì chẳng nhằm nhò gì.

     Lần đầu tiên chúng tôi bận sàrong, nhìn nhau thấy tức cười quá chừng. Từ hôm nay chúng tôi đã biến thành người Indo, và con tàu cũng là tàu Indo. Rồi, như vậy là chúng tôi không còn lo sợ nhiều khi gặp phải Police Indo nữa.

     Chiều nay cơn mưa tầm tã, tàu chúng tôi neo lại nghỉ trước một cụm nhà dân. Những người dân ở đây thật hiền lành và tốt bụng, thấy tàu chúng tôi, họ đến thăm hỏi và bơi cào cào ra cho chúng tôi bánh và trái cây. Cào cào là loại ghe nhỏ của người Indo, dù sóng lớn đến đâu ngồi trên cào cào cũng không sợ, vì nó rất nhẹ và vững. 2 bên có 2 càng bằng tre giữ cho ghe thăng bằng. Không biết người Indo gọi tên nó là gì, nhưng chúng tôi gọi là cào cào vì hình dáng nó giống hệt con cào cào.

     Cả tuần nay chúng tôi neo tàu nghỉ ở Bali vì trời mưa tầm tã. Trong cơn mưa, không nhìn được đâu là biển, đâu là đảo, tất cả trắng xoá một màu. Biển nổi sóng cuồn cuộn, sóng biển Bali khác hẳn với mọi miền tôi mà đã đi qua trên vùng biển Indo. Chúng tôi đi rất chậm, vừa đi vừa nghỉ và chỉ đi được ban ngày mà thôi. Có ngày, tàu chỉ đi được vài giờ đồng hồ, đêm thì chúng tôi neo tàu nghỉ. Bali đang rộ mùa trái cây, nhất là chôm chôm. Mỗi ngày chúng tôi đều lên nhà dân chơi xin nước ngọt tắm, thấy họ hái trái cây tôi cũng chạy vô hái phụ với họ, cuối ngày, họ cho tôi đủ thứ bánh trái. Ở Bali họ làm bánh giống hệt Việt Nam, có một loại bánh y chang như bánh phu thê của người Miền Trung. Tôi chỉ cho họ cách làm xôi dị, họ rất thích. Tức cười nhất là họ hỏi ở vùng quê tôi, gọi món xôi này tên gì? Tôi trả lời tên nó là "xôi dị". Họ nói sao cái tên này lạ quá, tôi chỉ biết cúi mặt cười thầm. Còn tức cười hơn nữa là tên tôi, vì sợ bị police Indo bắt tôi tự đặt tên tôi là Inda. Đó là tên của một cô gái trong bộ phim Indo mà tôi đã được coi khi còn ở trại Galang.

Vì không phải là tên thật của mình, nên lúc hái trái cây chung với họ, họ gọi tên mình nên tôi đâu có biết, họ phải đến gần đập vào vai tôi và hỏi:

- Nghĩ gì vậy, sao gọi hoài mà không thấy trả lời?

Tôi cứ ngơ ngơ khiến họ phì cười và chính tôi cũng phải tức cười nữa.

***

      Cả tuần lưu lại Bali chúng tôi không nấu cơm dưới tàu, mà ăn cơm của người dân cho. Khi từ biệt khu vườn Bali, tàu chúng tôi đầy nhóc trái cây, nhiều nhất là dừa và chôm chôm. Ăn chôm chôm đến nỗi sáng ra không thể mở mắt nỗi. Người dân Bali hiền hoà, dễ thương, và cuộc sống của họ bình yên quá đỗi. Nhà nào cũng có vườn trái cây thật lớn. Nhà ở cặp sát mé biển, trước nhà là những hàng dừa nặng trĩu trái. Sau giờ làm việc, ra gốc dừa mắc võng nằm thảnh thơi ngắm biển thì còn gì thú vị bằng. Tôi ước ao một cuộc sống bình thường như người dân ở nơi này.

      Hôm nay tàu chúng tôi đi đến cuối dãy đảo Bali, chuẩn bị vượt họng Bali sang Lombok. Tàu đi mãi đến chiều vẫn không tìm được chỗ trú. Chúng tôi đã được người dân Bali cảnh báo trước: không được vượt họng Bali vào ban đêm. Sóng họng Bali rất lớn, chỉ có những tàu lớn mới dám vượt qua nơi này vào ban đêm mà thôi. Tàu đánh cá loại nhỏ của người địa phương, họ cũng không dám đi qua đó vào ban đêm.

***

 

Sống và chết trong đường tơ kẽ tóc.

      Vùng cuối đảo Bali có tên là Amat, cái tên có ý nghĩa với cảnh của hàng trăm ngọn đồi núi lớn nhỏ san sát nhau, vách núi dựng đứng, không thể cất nhà để ở. Cả một vùng núi dài vắng tanh trong cảnh hoàng hôn xám lạnh, tạo người ta cái cảm giác rờn rợn. Chúng tôi cứ lái tàu đi mãi đến hơn 8 giờ đêm mới tìm được chỗ trú, đó là một hẻm núi khuất gió. Vui mừng còn hơn được vàng, chúng tôi vội lấy sào dò đáy và thả neo. Khi chuẩn bị ngủ, tôi chợt nhìn lên đỉnh núi mà sợ điếng người. Trên đỉnh núi có một cái lăng rất lớn, đứng sừng sững ở giữa là bức tượng người đen thui, hàng rào bao quanh cũng một màu đen kịn. Tôi dụi mắt mấy lần để nhìn cho rõ. Không nghi ngờ gì nữa, nhờ có ánh trăng soi, tôi nghe lạnh toát cả người. Tôi gọi nhỏ: "Anh ơi! mình đi chỗ khác ngủ đi." Ở trên biển mà tôi vẫn không dám nói lớn, cái miệng như bị líu lại. Chồng tôi ngạc nhiên hỏi:

- Sao vậy? Đi cả buổi chiều muốn chết mới kiếm được chỗ trú, còn muốn đi đâu nữa? Anh nói với giọng gắt gỏng.

- Anh hãy nhìn lên đỉnh núi kìa. Tôi nói mà không dám đưa tay chỉ lên. Chồng tôi nhìn lên đỉnh núi, anh không nói gì cả, mà lập tức chạy ngay ra mũi tàu kéo neo lên. Chúng tôi cho tàu chạy như bị ma đuổi. May thay, hơn 2 giờ sau chúng tôi tìm được một chỗ trú khác. Nơi này thật bình yên và tuyệt quá, đó là một cái hốc núi, tàu chạy vô hốc này y như trên mặt hồ êm ả, không còn nghe thấy tiếng gió thổi ù ù nữa, nhờ có sườn núi bao quanh chắn hết tiếng động. Tuy vậy, tôi vẫn không tài nào ngủ được, hình ảnh cái tượng người to lớn, đen xì, cứ ám ảnh mãi khiến tôi nhắm mắt mà không thể nào ngủ được. Tôi ngồi bật dậy co ro nhìn trời, nhìn biển. Hôm nay là ngày mấy âm lịch mà trăng sáng quá. Ánh trăng tỏa khắp không gian tạo nên khung bức tranh huyền hoặc, lạnh lẽo và ma quái.

***

      4 giờ sáng hôm sau, chúng tôi cho tàu vượt họng Bali sang Lombok. Đã mấy tuần đi trên biển, chúng tôi đã có nhiều kinh nghiệm, sáng sớm là lúc biển êm nhất.

      Lúc tàu chúng tôi bắt đầu vượt họng Bali, mặt biển phẳng lặng như tờ, nhưng khi đi được một phần họng thì mặt biển bắt đầu dậy sóng. Sóng cuốn lên cao như mái nhà và mưa bắt đầu nặng hạt. Chúng tôi nhìn nhau không thốt được thành lời. Nhìn về bờ Amat đã xa nên không thể quay lại được, mà đi tiếp cũng không ổn. Nhìn sang bờ Lombok còn mút xa tầm mắt, chỉ thấy dãy đảo là một quầng lờ mờ, nước cuồn cuộn sóng. Những ngọn sóng trong lòng họng mới thật đáng sợ làm sao. Tôi không biết diễn tả bằng từ nào cho chính xác. Những con sóng bạc đầu cao mút, cứ liên tiếp chồm tới như muốn nuốt chửng con tàu nhỏ bé của chúng tôi. Chỉ cần nhìn thấy sóng thôi cũng đủ chóng mặt rồi, chúng tôi không dám nghĩ đến bất kỳ điều gì khác. Chồng tôi nghiến răng đến bạnh quai hàm, ghì chặt tay lái tàu. Lúc này, nếu con tàu quay ngang sóng, chỉ tích tắc thôi là sẽ bị lật một cách dễ dàng. Mà thật sự thì lúc đó tàu chúng tôi đang đi giữa sóng ngang.  Chiều hôm qua tìm không ra chỗ trú, khi đến được nơi đầu tiên, chỗ có cái lăng đen sì, là chúng tôi đã đi sâu vào họng, đến khi tìm đến điểm trú thứ hai, thì chúng tôi thực sự đã ở phần giữa lòng họng, đó là một sự sai lầm nghiêm trọng mà về sau chúng tôi mới biết.

Chồng tôi đièu khiển con tàu nương theo con sóng, cứ nhích lên được một chút thì lại bị đẩy lùi lại một chút, con tàu cứ thế mà bị sóng dằn lên dằn xuống liên tục. Suốt từ đầu của chuyến hải hành đến giờ, lúc này là lúc mà chúng tôi gặp những cơn sóng dữ dội nhất, chiến đấu với tử thần từng giây, từng phút, thần kinh căng thẳng tột độ. Trái tim tôi như muốn bể nát trong lồng ngực vì hồi hộp và lo sợ. Thương cho con tàu trong cơn sóng dữ, mũi tàu hùng dũng đâm thẳng vào từng con sóng, liên tục bị đưa lên cao rồi đẩy mạnh xuống cái ầm, nhưng tàu cũng không nhích tới được bao nhiêu. Tôi ngồi run rẫy đọc kinh cầu nguyện, cũng may là trời mưa nhẹ nên tôi không phải lo tát nước. Nhưng nếu cơn mưa lớn đổ xuống lúc này tôi cũng không làm sao tát nước được, ngồi mà còn chưa vững thì làm gì mà tát nước.

Chồng tôi nhắc:

- Nếu em thấy chóng mặt thì hãy nhắm mắt lại, anh đã từng quen đi biển mà cũng còn chóng mặt, nhưng phải cố gắng hết sức. Anh biết là em mệt lắm. Chồng tôi không muốn nói tôi sợ. Phải làm sao ngồi cho thật vững, việc duy nhất của em là cố ngồi cho vững mà thôi.

Cám tạ Chúa đã thương xót! Con tàu của chúng tôi vật lộn nhiều giờ trong cơn giận dữ của đại dương. Cuối cùng rồi cũng vượt qua được dãy đảo Lombok, nhưng vô cùng khốn khổ. Cả một ngày, tàu chúng tôi chạy trên biển Lombok trong sự hãi hùng giữ những đợt sóng quá lớn, và gió thổi đùng đùng. Sóng cuồn cuộn không ngớt, không thể ngừng máy được vì ngừng máy là tàu sẽ lật ngay lập tức, cho nên không tài nào nấu được món gì để ăn. Đói quá thì nhai đỡ mì gói, nhưng vừa mệt vừa lo sợ nên nuốt cũng không muốn vô. Chúng tôi cùng thôi thúc nhau ăn để còn có sức chống chọi với tử thần. Chúng tôi vừa ăn mà vừa khóc, mì gói chan hoà với nước mắt mặn môi!

Lombok là dãy đảo ngắn, rất ít núi, chủ yếu là đất, ven bờ là bãi cát dài thẳng tắp. Vườn dừa chạy suốt theo chiều dài của đảo, nhưng tuyệt nhiên chúng tôi không tìm thấy đâu được nhà ở. Sóng ở ngoài khơi đã lớn như vậy, mà sóng trong bờ còn lớn hơn. Máy tàu sắp hết dầu nhưng chúng tôi không cách nào châm thêm được. Trong lúc này, chồng tôi phải liên tục lo lái tàu, ngồi lái còn không muốn vững, vì tàu hết lắc bên này lại lắc sang bên kia như đưa võng. Riêng tôi, ngồi bám chặt tay vào thành tàu mà vẫn bị té lên té xuống, mặt mày xưng u từng cục. Mấy lần tôi cố gắng hết sức để đứng dậy, nhưng liền bị lắc té nhào dập mặt xuống thành tàu, máu mũi máu miệng cứ tuôn ra, cũng may là chưa bị hất văng xuống biển.

sao thì bằng mọi giá chúng tôi phải tìm cách châm cho được dầu vô máy, nếu máy hết dầu, ngưng chạy là chúng tôi cũng theo nó mà đi vào lòng biển. Tôi lấy sợi dây thừng, một đầu buộc chặt vào sườn tàu, đầu kia buộc vào thắt lưng và tôi ôm can dầu bò đi từng chút từng chút một, cuối cùng cũng đến được gần máy. Đổ dầu vào máy được nửa can thì nửa còn lại đổ tháo ra ngoài, phải ba lần như vậy mới tạm yên phần tiếp liệu cho máy. Phần tôi thì sau khi hoàn tất công việc là nằm sóng soài xuống sàn tàu, toàn thân ê ẩm, quần áo ướt đẫm dầu và máu. Tôi mệt muốn đứt hơi không còn đủ sức để ngồi, cứ mặc cho thân mình bị dằn xóc theo con sóng. Còn những chỗ bị thương chảy máu, từ mũi, miệng, chân, tay... cứ mặc kệ, chảy ở đâu thì cứ chảy. Cái mệt đứt hơi trong lúc phải chiến đấu với cái chết cận kề thật quá đỗi hãi hùng. 

Tàu đã chạy suốt ngày mà cơn bão vẫn không thuyên giảm. Bão đẩy con tàu đi băng băng, không thể ngừng lại trước sức đẩy của gió. Đường đến dãy Lombok sẽ thu lại ngắn, nếu tàu chúng tôi cứ chạy nhanh mãi như thế. Tàu sẽ phải đi qua họng Sumbawa vào ban đêm. Dân Bali đã cảnh báo chúng tôi: "Sóng ở họng Sumbawa còn dữ dội hơn cả sóng Bali, đừng bao giờ dại dột cho tàu chạy qua họng Sumbawa vào ban đêm." Sóng Sumbawa sẽ xoáy hút con tàu xuống đáy biển ngay, vì tàu của chúng tôi quá nhỏ.

Tàu chúng tôi chạy vùn vụt trên biển mà trời mỗi lúc một tối hơn, chốc lát bóng đêm đã bao trùm cảnh vật. Mới đêm qua chúng tôi neo tàu nghỉ ở Amat, trăng sáng vằng vặc. Nhưng đêm nay Chị Hằng ẩn tránh ở đâu không thấy đến nơi này. Dù không nói ra nhưng cả hai chúng tôi đều nghĩ đến cái chết. Không phải từ nơi xa xôi, mà cái chết nó đang cận kề chúng tôi trong gang tấc. Chúng tôi nhìn nhau im lặng như những tử tội ở pháp trường chờ giờ hành quyết. Cái chết được báo trước, thật đáng sợ làm sao!

- Sắp tới... họng Sumbawa... rồi em ơi!

Chồng tôi nói, giọng khàn đặc như hết hơi, sắp chết. Tôi có cảm tưởng dường như anh đã ráng hết tàn lực nói cho được một câu cuối cùng. Phần tôi thì không, tôi không còn đủ sức để nói được một câu dù ngắn ngủi. Trong giờ phút sinh tử giữa biển khơi, tôi chợt nhớ lại những người bạn hồi hương. Bạn bè hồi hương lâu lâu có dịp gặp nhau, vì thất vọng, buồn chán đủ điều, lại rủ nhau đi vượt biên nữa. Nói thì nghe hăng lắm, nhưng khi vợ chồng tôi đến rủ họ đi thì họ lại do dự. Họ không dám đi, sợ chết  và còn khuyên vợ chồng tôi thôi đừng đi nữa, ra đi chỉ chuốc cho mình cái chết mà thôi. Khi đó tôi chê họ nhát và rất buồn, vì tôi hy vọng bạn bè cùng đi chung với chúng tôi thì hùn hạp tiền vô sẽ mua được tàu lơn hơn. Vì không rủ được người và tài chánh eo hẹp nên chỉ mua được con tàu nhỏ này. Vợ chồng tôi đã trút hết tài sản vào chuyến đi này, như là một canh bạc cuối cùng, muôn sự xin phó mặc cho may rủi. Sống hay chết cũng chỉ một lần mà thôi. Giờ đây, nếu có phải chết cũng đành, tôi chấp nhận số phận. Chỉ thương cho con của chúng tôi, chúng không biết cha mẹ đi đâu mà đi mãi không thấy về, cũng chẳng tin tức. Vì không muốn cho con cái cùng đi, sợ người thân phải lo lắng, nên chúng tôi đã âm thầm lặng lẽ ra đi. Tôi đã nói với con tôi: "Có mấy người bạn rủ ba mẹ đi Trung Quốc buôn thử một chuyến". Nếu chúng tôi chết ở trên biển hôm nay, thì chắc chắn sẽ không một ai hay biết. Thế là hết. Tất cả mọi sự cố gắng cho chuyến một chuyến ra đi chỉ để đổi lấy một kết quả bi thảm. Khi đã chấp nhận cái chết, bổng nhiên tôi lại thấy tỉnh táo không còn sợ nữa. Tôi ngồi thẳng dậy, đôi mắt giương thật to, tôi muốn nhìn thử cái chết đến với chúng tôi nó rùng rợn đến mức nào. Tàu sắp vào họng Sumbawa, tôi nhìn đồng hồ tay đúng 9 giờ đêm. Tôi đọc kinh sám hối, và dọn mình trước khi về chốn vĩnh hằng.

Tôi chợt nhìn thấy như có ánh đèn hắt ra từ một cụm nhà. Tôi không tin ở cặp mắt mình, vì tàu đã đi suốt từ đầu dãy đảo đến giờ, tuyệt nhiên không thấy có căn nhà nào. Tại sao lại có một cụm nhà ở đây, ngay sát họng Sumbawa chết người này? Hay là giờ này tôi không còn đủ thần trí để nhận dạng? Tôi dụi mắt nhìn một lần nữa cho thật kỹ thì ...eo ơi, đúng là nhà thật! Diễn tả thì lâu, nhưng sự việc xảy ra chỉ trong vài chớp mắt mà thôi.

Tôi mừng cuống quít, bật kêu lên: "Phép lạ! Phép lạ... Phép lạ đến rồi!" Tiếng kêu la của tôi bị đứt quãng, lộp ngộp như hụt hơi, phải ráng hết sức mới rõ thành lời. Chồng tôi đập mạnh vào vai tôi, nhắc:

- Ngồi im, lật tàu bây giờ!

Tôi nói trong tiếng khóc nghẹn ngào:

- Anh ơi! phép lạ xảy ra nữa, nhà dân kia kìa, anh ráng đưa tàu vô gần bờ cho em kêu cứu.

Bấy giờ, chồng tôi mới nhìn vào bờ và thấy nhà dân. Anh phải tập trung tất cả sức lực giữ vững tay lái trong cơn bão với những cơn sóng to đang gào thét, đâu dám nhìn quanh khắp nơi mà thấy như tôi.  Chồng tôi bật khóc. Lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy anh khóc thành tiếng:

- Phép lạ xảy ra thật rồi em ơi! Từ nãy đến giờ, anh nghĩ rằng cuộc đời của chúng mình đã hết từ đây, không còn hy vọng gì nữa. Em để từ từ anh lái vô. Sóng lớn thế này, quay tay lái gấp không được đâu.

Mặc cho chồng tôi loay hoay với tay lái, tôi hướng vô bờ đặrthai tay lên miệng làm loa la lớn bằng tất cả sức lực: "Tolong! Tolong! (help!)..." Ngày thường tôi vẫn bị chồng tôi la: "đàn bà gì mà giọng như chuông vỡ." Nhưng hôm nay, nhờ giọng chuông vỡ của tôi mà tiếng kêu cứu bay vào được cụm nhà dân trong bờ. Cả mấy chục người chạy ra, trẻ, già,  trai, gái, đủ hết. Hai người đàn ông lập tức khiêng "con cào cào" xuống biển, họ cấp tốc cập sát con tàu của chúng tôi. Họ hối hả giục:

- Đưa dây đây cho chúng tôi kéo tàu vào bờ, lái tàu về hướng đó, nó là cái vực xoáy đấy!

Hai người đàn ông chỉ dẫn cho chồng tôi lái tàu vô bờ an toàn. Khi dây được mang lên bờ rồi, thì tất cả đám người trên bờ hò nhau kéo vào. Tàu cập bờ thì cả hai vợ chồng tôi cùng nhảy xuống nước đẩy tàu lên bãi. Vì vùng bờ biển này cát rất mịn, không có đá, nên con tàu chúng tôi được kéo tuốt lên bãi, buộc vào một thân dừa lớn. Khi xong mọi việc rồi, chúng tôi nhìn xuống biển mà rùng mình ớn lạnh. Từng đợt sóng cuồn cuộn, đập vào bờ nghe đùng đùng. Chúng tôi làm dấu Thánh Giá cảm tạ Chúa trong nỗi vui bàng hoàng.

Người Indo thật tốt bụng, họ chăm sóc chúng tôi rất chu đáo. Người thì đi pha cà phê nóng cho chúng tôi, kẻ thì đi hâm cơm. Một phụ nữ dẫn chúng tôi ra giếng để tắm rửa. Quá mệt, nên chúng tôi chỉ rửa sơ mặt mũi rồi đi vô, toàn thân tôi nơi đâu cũng bị thương tích. Lúc này tôi mới thấy mình kiệt sức hơn bao giờ hết. Tôi chỉ muốn nằm lăn ra bất kể ở đâu cũng được, không cần giường chiếu gì cả. Cà phê nóng bốc mùi thơm phức, tôi uống hết ly này đến ly khác. Dân Indo uống cà phê khác hẳn người Việt mình, họ không lọc bỏ xác cà phê. Tôi vốn không thích uống cà phê, nhưng bữa nay tôi lại uống quá nhiều, uống luôn cả bã. Cơm nóng được dọn lên, chúng tôi ăn một cách ngon lành, vì nguyên cả ngày phải chống chọi với tử thần đã được ăn uống gì đâu. Chúng tôi ăn thật tình mà chẳng khách sáo gì cả.

***

 

Vượt họng Sumbawa

Sau bữa cơm, tất cả quay quần nói chuyện, chúng tôi chưa kịp giới thiệu về bản thân thì họ đã nói ngay: anh chị ở xa đến đây! Tôi ngạc nhiên hỏi lại: sao các ông bà biết chúng tôi ở vùng xa đến? (vì trước khi rời Bali tôi đã cố gắng bắt chước cách ăn mặc giống y hệt dân ở đây). Họ nói: dân sinh sống quanh đây không bao giờ chạy tàu nhỏ như tàu của anh chị mà đi vào họng Sumbawa vào ban đêm. Cái họng này rất nguy hiểm, chỉ có những tàu hàng lớn mới dám đi qua họng này vào ban đêm mà thôi. Ở đây, cũng có một tàu chở khách, nhưng tàu khởi hành từ 4 giờ sáng. Con tàu của anh chị, lúc nãy đang đi vào vực xoáy, chỉ đi thêm một chút xíu nữa thôi thì không ai cứu được anh chị. Đã vào vùng đó rồi, có nhìn thấy chúng tôi cũng cứu không kịp. Nghe thấy họ  nói mà khiếp hãi. Đúng là vợ chồng tôi đã thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.

      Họ kể rằng, dân trong vùng này không ai theo nghề biển, cả một dãy đảo không có tàu đánh cá, vì ở vùng này sóng dữ quanh năm. Tất cả dân đảo đều làm nghề trồng rẫy và chăn nuôi. Đất ở vùng này rất tốt và họ rất thích sống ở đây. Hầu hết nhà cửa đều được xây cất lui sâu bên trong, chỉ duy nhất có một cụm nhà này ở ngoài mé biển mà thôi.

      Họ nói cá ở đây rất mắc vì phải mua lại từ vùng khác mang đến, sống quanh năm ven biển, ngày ngày nhìn sóng nước mênh mông trước mặt mà lại thèm ăn cá. Nhà nào có trai tráng khoẻ mạnh thì đóng "con cào cào", chờ ngày êm sóng mới đi câu. Con cào cào rất nhẹ, có thể di chuyển dễ dàng.

      Tôi hỏi họ ngày nào biển cũng có sóng lớn như hôm nay hay sao? Họ nói không, thường thì sóng cũng ít hơn, chỉ mới vài ngày nay có bão nên sóng gió mới lớn dữ vậy. Rồi họ hỏi chúng tôi từ đâu đến? Chúng tôi không dám dối họ mình là dân Bali, vì Bali ngay gần đây, giọng nói của chúng tôi sẽ tố cáo ngay sự gian dối. Suốt cả tuần trước đã tiếp xúc và sống với dân Bali,  tôi đã ráng học thêm được khá nhiều từ, nhưng chưa thể dám nhận mình là dân Bali được. Chúng tôi cũng sợ không dám nói thật là người Việt Nam, vì dân nơi đây sợ police tới làm phiền, họ sẽ tống chúng tôi ra biển ngay hoặc sẽ báo tin cho cảnh sát tới bắt đi. Cuối cùng, chúng tôi nói là người Madura, cần đi Flores tìm người em.

      Lập tức, cả bao nhiêu con mắt đều trố lên nhìn vợ chồng tôi, rồi họ la lên : Trời ơi! anh chị từ Madura tới đây bằng tàu nhỏ thế này à? tại sao không đi tàu khách? Họ khuyên vợ chồng tôi nên về quê cũ làm ăn, đừng đi Flores nữa, đi Flores chỉ chuốc lấy cái chết mà thôi, đường từ đây đến Flores vô cùng nguy hiểm.

      Tất cả mọi người hết lời khuyên nhủ, cứ y như họ là những người thân của vợ chồng tôi, khiến cho tôi mủi lòng rơi nước mắt. Tôi muốn nói thật cho họ hay, chúng tôi là người Việt Nam đang trên đường vượt biên, nhưng nghĩ đi nghĩ lại tôi không dám. Thấy vợ chồng tôi ngồi im lặng, họ nghĩ là vợ chồng tôi nghe lời họ khuyên, đồng ý trở về Madura không đi Flores nữa nên họ vưi mừng, ân cần nắm tay chúng tôi. Họ nói vợ chồng tôi ở lại vài ngày với họ, chờ hết bão rồi trở về. Nhưng khi nghe vợ chồng tôi quyết tâm đi tiếp đến Flores thì họ nhìn vợ chồng tôi như hai kẻ lạc từ hành tinh nào đến vậy. Tôi nghĩ thầm trong lòng, mới chỉ nói chúng tôi là dân Madura đi đến đây mà họ đã hoảng hồn, nếu nói chúng tôi đi từ Việt Nam tới, chắc họ sẽ té lăn đùng ra. Khi họ đi ngủ rôi, chúng tôi mang bản đồ ra coi thật kỹ. Cuốn bản đồ tôi mua tại Bali in lớn và rất rõ ràng nên cũng giúp chúng tôi thấy yên tâm hơn.

      Trước đây, chúng tôi muốn đi qua dãy đảo Sumbawa phía Thái Bình Dương, nghĩa là đường chúng tôi đang đi, nhưng nay thấy sóng lớn quá, chúng tôi muốn chuyển hướng đi sang phía bên kia dãy đảo là Ấn Độ Dương. Dãy đảo Sumbawa rất dài mà toàn là núi đá dựng đứng, đường chúng tôi đang đi dọc theo dãy đảo cho đến khoảng giữa mới có một hàm cá để trú. Nhìn trong bản đồ thì biết hàm cá đó chắc chắn là một nơi tạm trú an toàn, nhưng muốn đến cái hàm cá đó tàu chúng tôi phải đi nhiều ngày. Con tàu của chúng tôi quá nhỏ và chỉ có một máy, không thể chạy một lèo mà tới được. Trước đây, tàu chúng tôi đi từ Việt Nam đến Jakarta cũng trải qua nhiều ngày không có chổ trú, chỉ thấy mịt mù sóng nước, nhưng may mắn là vào mấy tuần lễ đó trời trong vắt, biển lặng như tờ, thậm chí đi trên biển mà không có gió đến nỗi nghe nóng như muốn thiêu vậy. Mấy tuần đó tàu chúng tôi rất bình yên, cứ chạy một ngày một đêm lại tắt máy, thả trôi tàu để dưỡng máy. Những ngày ấy mà sóng lớn dữ dội như bây giờ thì chắc chúng tôi đã mất tiêu xuống đáy biển lâu rồi, có may mắn lắm thì còn lại bộ xương sau khi cá đã rỉa ăn hết thịt. Những ngày ấy chúng tôi vừa cho tàu chạy, vừa ca hát tưng bừng, y như đi trong chốn thần tiên, không có điều gì phải âu lo. Đúng là chưa thấy quan tài thì chưa đổ lệ. Còn bây giờ thì hoàn toàn khác hẳn, chúng tôi phải nhìn kỹ từng đoạn đường sắp sửa sẽ đi qua, không thể tính ẩu, tính liều được.

      Nếu đi trên đường chúng tôi đang đi thì tàu chúng tôi không thể đi nổi, mà nếu đổi hướng đi sang phía Ấn Độ Dương cũng không dễ dàng gì. Vì phải cho tàu chạy vào họng Sumbawa, nên chúng tôi mới hút chết ở cái họng Bali vừa rồi, nghĩ đến còn chưa hết kinh hoàng. Nhưng khi vượt họng Bali, chúng tôi chỉ đi băng ngang nó. Còn bây giờ muốn đổi hướng đi, chúng tôi phải cho tàu đi dọc theo lòng họng, con đường dài gấp nhiều lần vượt họng biển Bali.

      Tàu đi đọc trong lòng họng có cái lợi là không có gió vì dãy núi cao ngất đã chắn hết gíó rồi. Nhưng sóng trong lòng họng thật ghê rợn, nó lớn gấp nhiều lần sóng khơi. Thái Bình Dương bên này và Ấn Độ Dương bên kia chảy thông thương nhau qua cái họng nước này. Nước chảy xiết dữ tợn, nguy hiểm khôn lường. Nhưng cũng có cái lợi lớn là khi nhìn vách đá bên dãy đảo Sumbawa, chúng tôi thấy có rất nhiều chổ trú ẩn, những khe núi liên tiếp nối liền nhau.///

Nếu muốn đi dọc lòng họng để sang Ấn Độ Dương, bắt buộc tàu phải đi dọc theo dãy núi Sumbawa, không thể đi theo dãy đảo Lombok được. Đảo Lombok là đất bằng không có núi, suốt chiều dài là bải cát thoai thoải, không hề thấy có một chổ nào để cho tàu trú ẩn, Cái họng Lombok lại có hình giống như cái phễu, bên Thái Bình Dương thì nhỏ, nhưng sang bên Ấn Độ Dương thì cái họng nó loe ra lớn mênh mông, thật kinh khiếp. Nhưng dẫu có phép lạ cho chúng tôi đi dọc theo dãy Lombok mà sang qua được bên kia chăng nữa, thì cũng không thể có phép lạ nào khiến cho con tàu nhỏ bé của chúng tôi vượt nỗi ngang qua họng sang dãy đảo Sumbawa. Chúng tôi cứ tính tới tính lui, chấm từng chỗ trú trên bản đồ thật kỹ càng, rồi chúng tôi quyết định đi vào lòng họng. Cả hai hướng đi đều nguy hiểm, nhưng đi trong lòng họng có rất nhiều chỗ trú, thoát ra được bên kia, biết đâu trời bớt sóng gió hơn. Chờ cho mọi người ngủ dậy, chúng tôi đem bản đồ ra và nói ý định của chúng tôi cho họ nghe.

      Họ nói rằng, chưa từng thấy ai đi vào lòng họng Sumbawa bằng tàu nhỏ như tàu của chúng tôi và họ chưa bao giờ đi dọc theo lòng họng này. Họ đã từng đi Flores, Sumbawa, Kupang, Timor, nhưng đi bằng tàu khách. Tàu chở khách chỉ đi ngang họng, không đi dọc theo lòng họng. Nhưng vì họ đã sống ở sát bên họng nước này nhiều năm nên họ cũng chỉ dẫn cho chúng tôi biết được nhiều điều.

      Trước hết, đi trong lòng họng không được đi ban đêm và cũng không thể đi được suốt cả ngày. Phải thật tinh ý nhìn sóng vì nó không giống như sóng ngoài khơi. Nó là thứ sóng ngầm, nước chảy rất xiết. Lựa lúc sóng dịu thì đi, sóng dữ phải tránh, không bao giờ cho tàu đi triong lúc sóng dữ. Rồi họ chỉ cho chúng tôi cách nhìn theo mặt nước để đoán sóng và biết những vực xoáy ngầm.

      Ghi nhớ những lời vàng ngọc của những người dân tốt bụng, chúng tôi cám ơn họ và lên đường lúc 8 giờ sáng. Tất cả mọi người trẻ già trai gái cùng ra tiễn chúng tôi đi. "Chúng tôi sẽ đọc kinh cầu chúc cho anh chị gặp may mắn", họ la lên thật lớn khi chồng tôi quay máy tàu. Vợ chồng tôi giơ tay vẫy chào họ trong giàn giụa nước mắt, không sao thốt nỗi thành lời. Trên bờ, nhiều người cũng kéo vạt áo lên lau nước mắt. Ôi, cuộc đưa tiễn người đi vào tử lộ mới thắm thiết, mặn nồng làm sao! Xin Thiên Chúa quan phòng che chở cho chuyến đi này của chúng tôi để mong sẽ có một ngày nào đó trong đời, tôi sẽ trở về đây thăm họ, để  được tạ ơn những tấm lòng chan chứa tình người hôm nay. Nhưng hỡi ơi! biết có còn sống được để về lại chốn này mà thăm viếng họ nữa không? Chúa ơi! tôi nấc lên trong nhạt nhoà nước mắt.

      Tất cả mọi người hết lời khuyên nhủ, cứ y như họ là những người thân của vợ chồng tôi, khiến cho tôi mủi lòng rơi nước mắt. Tôi muốn nói thật cho họ hay, chúng tôi là người Việt Nam đang trên đường vượt biên, nhưng nghĩ đi nghĩ lại tôi không dám. Thấy vợ chồng tôi ngồi im lặng, họ nghĩ là vợ chồng tôi nghe lời họ khuyên, đồng ý trở về Madura không đi Flores nữa nên họ vưi mừng, ân cần nắm tay chúng tôi. Họ nói vợ chồng tôi ở lại vài ngày với họ, chờ hết bão rồi trở về. Nhưng khi nghe vợ chồng tôi quyết tâm đi tiếp đến Flores thì họ nhìn vợ chồng tôi như hai kẻ lạc từ hành tinh nào đến vậy. Tôi nghĩ thầm trong lòng, mới chỉ nói chúng tôi là dân Madura đi đến đây mà họ đã hoảng hồn, nếu nói chúng tôi đi từ Việt Nam tới, chắc họ sẽ té lăn đùng ra. Khi họ đi ngủ rôi, chúng tôi mang bản đồ ra coi thật kỹ. Cuốn bản đồ tôi mua tại Bali in lớn và rất rõ ràng nên cũng giúp chúng tôi thấy yên tâm hơn.

      Trước đây, chúng tôi muốn đi qua dãy đảo Sumbawa phía Thái Bình Dương, nghĩa là đường chúng tôi đang đi, nhưng nay thấy sóng lớn quá, chúng tôi muốn chuyển hướng đi sang phía bên kia dãy đảo là Ấn Độ Dương. Dãy đảo Sumbawa rất dài mà toàn là núi đá dựng đứng, đường chúng tôi đang đi dọc theo dãy đảo cho đến khoảng giữa mới có một hàm cá để trú. Nhìn trong bản đồ thì biết hàm cá đó chắc chắn là một nơi tạm trú an toàn, nhưng muốn đến cái hàm cá đó tàu chúng tôi phải đi nhiều ngày. Con tàu của chúng tôi quá nhỏ và chỉ có một máy, không thể chạy một lèo mà tới được. Trước đây, tàu chúng tôi đi từ Việt Nam đến Jakarta cũng trải qua nhiều ngày không có chổ trú, chỉ thấy mịt mù sóng nước, nhưng may mắn là vào mấy tuần lễ đó trời trong vắt, biển lặng như tờ, thậm chí đi trên biển mà không có gió đến nỗi nghe nóng như muốn thiêu vậy. Mấy tuần đó tàu chúng tôi rất bình yên, cứ chạy một ngày một đêm lại tắt máy, thả trôi tàu để dưỡng máy. Những ngày ấy mà sóng lớn dữ dội như bây giờ thì chắc chúng tôi đã mất tiêu xuống đáy biển lâu rồi, có may mắn lắm thì còn lại bộ xương sau khi cá đã rỉa ăn hết thịt. Những ngày ấy chúng tôi vừa cho tàu chạy, vừa ca hát tưng bừng, y như đi trong chốn thần tiên, không có điều gì phải âu lo. Đúng là chưa thấy quan tài thì chưa đổ lệ. Còn bây giờ thì hoàn toàn khác hẳn, chúng tôi phải nhìn kỹ từng đoạn đường sắp sửa sẽ đi qua, không thể tính ẩu, tính liều được.

      Nếu đi trên đường chúng tôi đang đi thì tàu chúng tôi không thể đi nổi, mà nếu đổi hướng đi sang phía Ấn Độ Dương cũng không dễ dàng gì. Vì phải cho tàu chạy vào họng Sumbawa, nên chúng tôi mới hút chết ở cái họng Bali vừa rồi, nghĩ đến còn chưa hết kinh hoàng. Nhưng khi vượt họng Bali, chúng tôi chỉ đi băng ngang nó. Còn bây giờ muốn đổi hướng đi, chúng tôi phải cho tàu đi dọc theo lòng họng, con đường dài gấp nhiều lần vượt họng biển Bali.

      Tàu đi dọc trong lòng họng được cái lợi là không có gió vì các dãy núi cao ngất đã chắn hết tất cả. Nhưng sóng trong lòng họng thật khủng khiếp, nó lớn gấp nhiều lần so với sóng ngoài khơi, vì Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương tiếp giáp nhau qua cái họng nước này. Nước chảy xiết dữ tợn, nguy hiểm khôn lường. Nhưng cũng may là khi nhìn về vách đá bên dãy đảo Sumbawa, chúng tôi thấy có rất nhiều chỗ trú ẩn, những khe núi liên tiếp nối liền nhau.

***

 

Ngôi nhà giữa đại dương

Đúng như lời người dân điạ phương ở đây đã nói, khi chúng tôi bắt đầu cho tàu chạy vào họng, mặt biển xanh lơ thật hiền hoà, nhưng mới đi được một đoạn đường ngắn, thì sóng bỗng nổi lên cuồn cuộn, mực nước đã chuyển sang màu mực "cửu long" thẩm. Chúng tôi lập tức cho tàu quay ngược lại chạy ra ngoài, nhưng gần hai giờ đồng hồ vật lộn với sóng dữ chúng tôi mới đưa con tàu trở về chỗ cũ. Ba lần phải quay lui như vậy với bao phen tàu sắp bị lật nhào. Ra được chỗ cũ của lúc khởi đầu, vợ chồng chúng tôi nhìn nhau mà mặt mày xanh như tàu lá.

Không đi được vào họng thì chúng tôi lại tiếp tục đi theo đường cũ, băng xéo qua cửa họng đi sang dãy núi bên này của Sumbawa. Nhưng bão quá lớn, tàu chúng tôi cứ ra đi rồi lại vật vã với sóng dữ để rồi cuối cùng phải quay trở về điểm xuất phát.

Nản quá, chúng tôi bàn với nhau quay về cụm nhà dân trú tạm, chờ vài ngày cho hết bão hẵn đi tiếp. Nhưng thật bất ngờ, nước biển lại chuyển sang màu xanh lơ, mặt nước phẳng lặng trông như mặt hồ bơi Kỳ Đồng ở Saigòn. Không bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng, tàu chúng tôi lập tức tăng tốc chạy như bay vô họng. Gần ba giờ đồng hồ chạy hết tốc lực, mắt vẫn theo dõi nhìn vào sườn núi tìm nơi trú ẩn, và chăm chú nhìn xuống mặt nước xem màu nước có thay đổi không. Chăm chú đến độ còn hơn là người sửa sắc đẹp phải nhìn vào kiếng để trang điểm cho cô dâu.

Nước lại bắt đầu sủi bọt, chúng tôi đã đến được hẻm núi đầu tiên. Nhanh còn hơn trong cuộc đua xe, tàu chúng tôi phóng đi như đạn bay vào hẻm núi. Sau lưng, sóng nổi lên đùng đùng, tôi quay lại nhìn mà hãi hùng chóng mặt. Giờ này còn ở ngoài đó thì chắc là phải chết. Khi hoàn hồn lại, tôi bắt đầu mở bản đồ ra coi, nghiên cứu những con hẻm sắp tới. Ôi! tất cả những hẻm núi này đều đã giúp cho chúng tôi giữ lại sự sống trong chuyến hải trình kinh khiếp.

Trong họng Sumbawa âm u, chúng tôi không còn nhận biết được thời gian. Mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây đi qua, đều là những nỗi kinh hoàng tột độ. Tạm trú qua bao nhiêu con hẻm, chúng tôi cũng không còn nhớ nổi. Có ngày, mấy lần đi ra, đi vô, rồi vẫn phải trú lại con hẻm cũ. Có ngày, đi được một giờ hoặc hai giờ đồng hồ, nhưng những giờ phút đó thật quá đỗi kinh hoàng. Có những ngày ba, bốn phen vật vã chiến đấu với sự cuồng nộ của đại dương cũng chỉ chạy được sang đến con hẻm bên cạnh. Từ hẻm này sang hẻm kia, thật ra khoảng cách chỉ là một chân núi. Nhưng để có thể đi qua được một chân núi như vậy, không phải là chuyện đơn giản. Con tàu cứ vật lộn giằng co với muôn ngàn đợt sóng mạnh bất thường, thoát được cái chết chỉ trong từng giây từng phút, trong đường tơ kẽ tóc.

Trong cái họng tử thần này, chúng tôi nhận ra một sai lầm nghiêm trọng là, lẽ ra không bao giờ cho tàu đi vào họng này. Nhưng khi nhận ra sự sai lầm thì mọi sự đã rồi, không thể nào đổi thay được nữa, tiến hay lui thì vẫn là tử lộ. Chúng tôi phải cắn răng, ráng sức đi tiếp con đường đã chọn, đi được đoạn nào hay đoạn ấy, sống được ngày nào hay ngày ấy mà thôi.

Những ai muốn đi tìm cảm giác mạnh, hãy sắm một con tàu nhỏ rồi đi vào lòng họng Sumbawa này sẽ biết. Họ sẽ thấy rằng cái cảm giác kinh hoàng còn hơn cả nỗi chết, nó được nhận rõ trong từng đường gân sớ thịt, từng sợi tóc làn da. Không có giấy bút nào có thể diễn tả hết những nỗi ghê rợn khủng khiếp này.

Hôm nay, tàu chúng tôi đã qua khỏi được nhiều hẻm núi, nhưng cứ mỗi lần ra mà đụng phải sóng dữ chịu không nỗi thì lại chạy trở vào. Nhưng không hiểu sao bỗng dưng bữa nay biển lặng và sóng êm, tàu chúng tôi chạy ráo riết được nửa ngày, vừa đi vừa nhìn mặt nước đen ngòm và hồi hộp như muốn vỡ con tim.  Suốt từ hôm đi vào họng tử thần này đến nay, chưa bao giờ chúng tôi có được một hành trình dài như vậy. Tuy phần số gian nan nhưng chúng tôi tin rằng luôn được Chúa che chở trong chuyến đi định mệnh này. Đoạn đường chúng tôi đang đi hiện giờ không tìm thấy một điểm trú, bản đồ vẽ rõ ràng đoạn này là dãy núi đá thẳng tắp, đựng đứng. Duy nhất chỉ có một khe núi, mà đó lại là cửa một con sông từ trong đảo Sumbawa đổ ra biển. Nếu đang đi trên đoạn này mà gặp sóng lớn như nhiều hôm trước thì chắc là chúng tôi sẽ chết. Dù biết vậy nhưng vẫn phải đi. Trong lòng họng, sóng gió nổi lên bất kỳ lúc nào, mạng sống chúng tôi giờ này chỉ còn được một phần ngàn, vậy mà tàu đã đi được nửa ngày rồi, thật quả là một phép lạ.

Trước mặt chúng tôi bây giờ là hai trụ đá thẳng đứng, nhọn hoắt như cái chuông. Hai trụ đá đứng tách ra hẳn với sườn núi và đứng rời nhau trên mặt biển, một hình ảnh thật tuyệt vời của thiên nhiên, y như là hai cột trụ cổng dẫn vào nẻo thiên đường. Trong khi đó tôi lại nghĩ rằng nơi đó chính là  cửa địa ngục. Trong bản đồ, tôi nhìn thấy nó là hai dấu chấm nhỏ xíu kế sườn núi. Tôi vẫn nghĩ nó là hai mỏm núi chìa ra biển, nhưng thực tế nó tạo nên một cảnh tượng làm cho tôi nhìn thấy phát sợ. Tôi cứ lom lom nhìn hai trụ đá lạ lùng ấy, từ đằng xa mà toàn thân tôi như phát run. Tàu chạy đến gần "cổng đá", tôi càng run sợ hơn, vì mặt nước chung quanh chân hai trụ đá đang sủi tăm, đen ngòm như màu hắc ín. Bên cạnh đó, sườn núi có hình thù thật ghê hơn. Những mũi nhọn của sườn núi có nhiều hình dạng kỳ quái, những tảng đá chi chít chồng chéo lên nhau, tạo nên như bức tranh quái vật đang nhe nanh múa vuốt sẵn sàng nuốt tươi con mồi. Tôi sợ quá, miệng đánh bò cạp, người co dúm lại.

Chồng tôi nhắc:

- Em hãy nhắm mắt lại.

Tuy chồng tôi ngồi lái tàu sau lưng, không nhìn được để thấy nỗi kinh sợ trên nét mặt tôi đang tái mét, chẳng còn giọt máu. Nhưng chồng tôi cũng biết được ý nghĩ của tôi thế nào qua hình ảnh rùng rợn đang diễn ra trước mắt.

Tôi đã không muốn nhắm mắt, mà trái lại, khi nghe chồng nói vậy tôi càng muốn mở to hơn. Tôi như đang bị những con quái vật thôi miên, cứ trừng mắt nhìn chằm chằm vô vách núi, khoé mắt bị căng như muốn rách. Vùng nước ở cổng địa ngục này đen ngòm, đang sủi ùng ục, tưởng như cả ngàn ngón tay tử thần đang trồi lên túm lấy con tàu của chúng tôi kéo xuống đáy biển.

Con tàu cứ lướt tới, lướt tới. Chúng tôi chỉ có duy nhất một con đường là tiến lên phía trước, dù phải chết thì cũng phải hướng về trước mặt chứ không thoái lui được.

Qua được cái cổng địa ngục, tim tôi chùng xuống như muốn ngừng đập. Trí tôi  nhắc nhở là hãy nhìn thẳng về phía trước, đừng nhìn lại cái cảnh địa ngục sau lưng. Nhưng chẳng biết sao tôi lại ngoáy cổ  lại để nhìn, ngay lập tức tôi rùng mình và té xuống sàn tàu.

Nếu có ai đã từng xuống địa ngục rồi về lại dương gian, khi nhìn thấy cảnh tôi đang thấy trước mắt này, không biết họ có giật mình run sợ và khiếp đảm hay không? Những nhà làm phim kinh dị, nếu thu cảnh này vào phim chắc chắn sẽ tạo cho khán giả những cảm giác mạnh. Tôi đã từng xem những phim kinh dị nhưng chưa bao giờ nhìn thấy cảnh tượng nào đáng sợ như đoạn đường chúng tôi vừa đi qua. Trong một vài cuốn phim  quay cảnh đắm tàu ngoài biển, những con sóng cao ngất nuốt chững những chiếc tàu to, cảnh này nếu còn nhìn lại, tôi sẽ không còn thấy đáng sợ nữa.

Những cơn sóng lớn ngoài khơi, nó vẫn mang màu xanh, còn trong lòng họng này thì khác hẳn. Đã mấy tuần qua, tàu tôi đi trong màu nước đen kịt, không phải chỉ có gặp sóng lớn thôi, mà còn gặp loại sóng sủi bọt đáng sợ và nguy hiểm gấp trăm lần sóng lớn. Đi trên vùng nước sủi đen này, dẫu máy được tăng tốc cho chạy tối đa, tàu cũng chỉ nhích đi từng chút một. Bên dưới làn nước sủi tăm đen ngòm này như có sức hút, và có những cánh tay bạch tuộc níu chặt, kéo con tàu xuống đáy biển.  Tim tôi hồi hộp như muốn vỡ ra thành trăm ngàn mảnh. Cũng may là tôi không bị ngất xỉu, có lẽ nhờ bộ thần kinh và tim mạch của tôi còn tốt? Và chắc có lẽ nhờ vậy mà tôi mới chịu đựng và vượt qua được nhiều thăng trầm hệ lụy gian nan trong đời để tồn tại đến nay. Nhưng không biết tôi có thoát được cái chết ở đây hay không? Lúc bấy giờ tôi hoàn toàn không dám chắc. Nhưng tôi tin một điều, nếu may mắn thoát ra khỏi cái họng tử thần này, bao nhiêu cảm giác ghê rợn, kinh hoàng nơi đây sẽ mãi mãi ghi vào tâm trí tôi, không bao giờ phai nhoà được.

Ngày hôm nay, tàu chúng tôi tạm trú trong một hẻm núi thật yên tĩnh. Cái yên tĩnh nơi dây rất lạ lùng, khiến tôi tự hỏi có phải thời gian đã bị ngưng đọng và ngừng trôi, có phải sự sống trên đời này đã bị hủy diệt? Lạ lùng thay, tàu chúng tôi vừa mới chạy trối chết, vào  đến đây chưa đầy một giờ đồng hồ, khi còn ngoài đầu hẻm, sóng vỗ vào núi đá ầm ỉ, lùng bùng muốn điếc tai, mà giờ đây tật cả lặng như tờ, một âm thanh hay tiếng động nào. Tôi cố lắng tai nhưng chỉ còn nghe tiếng thở của chính mình. Tôi còn nghe rõ được cả nhịp tim đang đập nhịp nhàng trong lồng ngực.

Cái hẻm núi này nó giống hệt một bình bông cao cổ, đầu hẻm thật nhỏ, nhưng chạy sâu vào trong nó rộng dần, tỏa ra hai ngách sâu vào hai bên chân núi. Tàu chúng tôi đang đậu ở nơi tận cùng của ngách núi bên này. Ngồi đây, không thể nhìn thấy biển khơi, vì cửa hẻm là mặt tiền mà chúng tôi đang ở mặt sau trái núi. Nhìn lên hai bên vách núi cao chót vót, đá xám xịt, không có sự sống dù là cây cỏ. Nhưng ở phần núi tận cùng trong hẻm - nghĩa là phần đáy của bình bông - có rất nhiều cây tươi tốt và dây leo chằng chịt.

Chồng tôi đã ngủ say. Tôi rất muốn giữ cho anh một giấc ngủ thật bình yên sau bao nhiêu ngày vất vả. Tôi không thể lái được tàu, duy chỉ có một mình chồng tôi lái. Anh là tay thuyền trưởng giỏi và quả cảm nên chúng tôi mới sống còn đến hôm nay. Mỗi lần thoát chết ngoài họng, chạy được vào hẻm núi là anh buông neo, và ngủ ngay lập tức. Phần tôi, lo đổ dầu vào máy và nấu cơm. Lần nào cơm tôi nấu cũng bị bỏ thừa đến thiu nhớt, vì cả hai chúng tôi đều quá âu lo, chẳng thiết gì đến chuyện ăn uống. Mỗi lần nấu cơm mới tôi lại đổ cơm cũ xuống biển, và cứ mỗi lần đổ cơm xuống biển như thế tôi lại dõi mắt tìm cá. Tôi ước ao nhìn thấy từng đàn cá đông đúc như ở Bali. Chúng tôi không còn có ý muốn câu cá nữa, nhưng được nhìn thấy cá lội cũng vui, cũng thấy bớt đơn độc phần nào.

Suốt từ khi đi vào lòng họng cho đến bây giờ, chúng tôi không hề nhìn thấy một sinh vật nào cả, chim không thấy mà cá cũng chẳng thấy luôn. Nhưng bữa nay tôi đã nhìn thấy cá, dẫu rằng, chỉ là vài con cá mú xanh xanh. Loại cá này, thịt thì ngọt nhưng tanh vô cùng. Tôi không bao giờ muốn ăn loại cá này, nhưng cơm tôi đổ xuống cá cũng chê không thèm ăn. Chúng bơi qua lại chốc lát rồi biến mất hút vào những ngách đá. Nhìn dưới đáy nước không thấy cát, chỉ toàn là đá xám đen thẩm, trùng trùng lớp lớp. Nhìn xuống thấy đá mà nổi da gà. Nồi cơm đạt lên bếp xong, tôi tiếp tục quan sát chung quanh.

Tôi muốn được nhìn thấy một loài thú nào đó cho đỡ buồn. Cả mấy tuần lễ đi trong vùng biển này, núi chen nhau san sát, tôi đã vào trú ở nhiều con hẻm nhưng tuyệt nhiên chẳng được thấy bất kỳ loài thú nào, du nhỏ. Lần này nhìn thấy có nhiều cây to, khắc hẳn với những hẻm đã qua, nên tôi hy vọng sẽ có thú vật sinh sống ở đây. Nếu được nghe vài tiếng chim hót cũng thấy ấm áp trong lòng. Tôi nhìn mãi, nhìn mãi, mà chẳng thấy gì cả, không gian tĩnh mịch, lạnh lùng. Có lẽ nơi này chỉ toàn loài độc trùng rắn rít. Nghĩ vậy tôi bổng thấy rùng mình.

Bất chợt nhìn vào trong bờ, tôi phát hiện trên cành cây cổ thụ có hai sợi dây thừng lớn. Một đầu sợi dây được cột vào cành cây trên cao, đầu dây còn lại được cột như cái thòng lọng để thắt cổ. Tôi cứ chăm chăm nhìn hai sợi dây và nghĩ miên man đủ chuyện. Tôi cố quan sát xung quanh gốc cây, có thể  sẽ tìm thấy những dấu vết về cái chết của ai đó. Tuy nhiên tôi chẳng nhận ra một dấu chân người hoặc dấu chân loài vật. Tôi cười thầm, tự chế diễu về cái óc giàu tưởng tượng của mình. Sở dĩ tôi hay nghĩ vẩn vơ nhu thế là vì từ hôm đi vào vùng biển ghê rợn, âm u này, ngày đêm chống chọi với tử thần, đầu óc luôn luôn bị căng thẳng.

Tôi cố gạt bỏ những ý nghĩ không hay về hai chiếc thòng lọng, nhưng vẫn cứ bị nó ám ảnh mãi. Tôi lại nhìn thêm một lần nữa và quan sát thật kỹ qua kẻ hở của những dây leo chằng chịt, và thấy cái gì hình dạng giống như một ngôi nhà. Đám dây leo này khá dày, nên khi nhìn xuyên qua khe hở tôi không thể chắc chắn đó là căn nhà được. Tôi cũng hơ sờ sợ không dám vào bờ để nhìn cho rõ, vì không khí trong cái hẻm núi này nó lạnh lẽo, ma quái vô cùng.

      Bình thường khi thấy được nhà dân là tôi mừng lắm, nhưng hôm nay nghĩ đến cái nhà lờ mờ trong hẻm này làm cho tôi phát hoảng, bởi vì nếu có chăng, thì đây cũng là một chuyện không bình thường.

Chúng tôi đi suốt mấy tuần trong lòng họng biển này mà không hề gặp một con tàu dù lớn hay nhỏ. Còn dãy núi cao dựng đứng, xám xịt, không có ai có thể leo qua nổi, ngoại trừ loài chim biển mới làm được chuyện bay qua. Như vậy tại sao nơi đây lại có nhà ở? Lấy gì để họ sinh sống? Những người sống nơi thâm sơn cùng cốc này thuộc thành phần nào, có chắc họ là những người tốt không? Sao lại sống cách ly hẳn với loài người như vậy?

Tôi đánh thức chồng tôi dậy và nói cho anh nghe sự việc cùng với những ý nghĩ của tôi. Chúng tôi dùng sào, nhẹ nhàng di chuyển tàu sang bên kia chân núi mà không cho nổ máy. Ở chỗ này nhìn vào trong dễ dàng quan sát hơn. Cái mà tôi nhìn thấy và đoán, thì đúng là một căn nhà. Nó nằm sát dưới chân núi dựng đứng, mái ngói màu đỏ tươi chứng tỏ căn nhà được xây cất không lâu. Cửa nhà đóng kín. Chúng tôi chăm chú nhìn vào ngôi nhà mà lòng cứ hoang mang. Một cảm giác bất an lại xâm chiếm vào tâm hồn tôi. Chúng tôi muốn nổ máy cho tàu chạy ra ngoài ngay, nhưng còn do dự vì lúc bấy giờ đã quá 12 giờ trưa. Kế bên núi này không thấy có hẻm để trú và chúng tôi đang ở khúc cuối họng nước. Phải đi thêm ba trái núi nữa mới có hẻm trú, và sau đó là một dãy núi đá đan khít vào nhau không còn kẽ hở, chẳng thấy một chỗ lồi lõm nào cả.  Đi hết dãy núi đá này là ra được ngoài khơi. Dù vậy, nhưng đoạn đường từ đây ra khơi là cả một vấn đề nan giải.

***

 

Tiếng gọi tử thần

Ngay lúc này chúng tôi chỉ mong dời tàu đến được hẻm trú kế bên, nhưng đó là một việc không đơn giản, dễ dàng. Từ hôm chúng tôi đi trong lòng họng đến nay, sóng ở nơi này là dữ dội nhất, khắp nơi đều là thứ sóng sủi sủi đen ngòm. Nó cứ phún lên khắp nơi như muôn ngàn cái vòi bạch tuộc màu đen, hết lớp này đến lớp khác, với tác dụng duy nhất là hút tàu của chúng tôi xuống đáy biển. Thật là kinh hoàng quá đỗi!

Lúc chạy được vào hẻm núi này, cả hai vợ chồng tôi nhìn nhau khóc, không nói nên lời. Chúng tôi định nghỉ lại đây vài ngày để dưỡng máy, tàu chúng tôi chỉ có một máy nhỏ mà chạy trong lòng họng luôn luôn phải chạy hết tốc lực. Cả con người chúng tôi nữa cũng đã quá mệt mỏi, cần phải nghỉ ngơi. Sóng ở ngoài khơi hiền hay dữ thường thay đổi theo con nước, theo thời gian và thời tiết. Nhưng sóng ở trong lòng họng thì không bao giờ thay đổi, lúc nào màu nước cũng đen ngòm, sủi tăm và hung hiểm vô cùng. Cho nên chúng tôi phải tính toán thật kỹ từng giờ di chuyển để kịp đến con hẻm trú ngụ kế tiếp. Nhưng bây giờ, vì thấy sợ căn nhà quái dị kia nên chúng tôi lại phải ra đi ngoài dự tính.

Đường đi đến Úc còn phải qua bao nhiêu cái họng biển nữa, nếu Chúa cho chúng tôi ra khỏi họng biển này, chúng tôi sẽ không bao giờ quên và tự hứa sẽ không bao giờ đi tàu vào lòng bất kỳ họng biển nào nữa. Chúng tôi đúng là thủy thủ dở nhất thế giới nên mới cho tàu đi vào lòng họng này. Nhưng biết có còn dịp nào khác để mà sửa sai hay không? Chúng tôi nhìn nhau mà nước mắt đầm đìa.

Đã 3 lần chúng tôi cho tàu chạy ra khỏi hẻm núi, nhưng thật là kinh khủng, con tàu phải vật vã, ngã nghiêng với sóng dữ đến kiệt sức mới quay trở về lại được với chính nơi xuất phát. Cả 3 lần tàu đều đi chưa được xa, chỉ cách cửa hẻm núi có một đoạn, vậy mà để  đưa ngược con tàu trở lại đã phải bao nhiêu lần suýt chết, thật vô cùng khó khăn!

Bây giờ chúng tôi đậu tàu ngay gần cửa hẻm để nhìn ra mà canh sóng. Nhìn mặt biển ngoài họng sủi bọt lụp bụp, xô nhau từng lớp sóng đen ngòm, tôi thấy chóng mặt, nuốn chết phức cho rồi. Tôi nghe mệt lừ, nhưng vẫn ráng đọc kinh. Nhớ lại ngày còn ở  đảo Galang, trong nỗi tuyệt vọng tôi đã có ý định nhảy xuống biển tự tử, không còn muốn trở về lại VN. Nhưng rồi cuối cùng giữa sống và chết, con người yếu đuối của chúng ta vẫn phải chọn cái sống, dù biết là trước mặt còn đầy dẫy những chông gai. Chúng tôi đã trở về VN, để rồi 5 năm sau vượt biên tìm lại vùng biển Indo mà chết. Có lẽ rồi tôi phải chết dưới lòng biển Indo đúng như lời thề năm xưa. Tôi bằng lòng chấp nhận cái chết nhưng xin được chết ngoài biển khơi, nơi có màu nước trong xanh. Tôi không thích chết trong cái họng biển đen ngòm này. Nếu phải chết nơi đây, hồn tôi chắc không thể nào siêu thoát được. Tôi đọc kinh mà nước mắt cứ tuôn xuống như mưa.

Đến 4 giờ chiều, sóng dịu lại, tôi giật mình khi chồng tôi cho tăng tốc độ máy tàu. Tôi bỗng la to: Anh muốn đi bây giờ hay sao? giờ này đã quá muộn để chúng ta ra đi, hay là cứ neo tàu trú đỡ ở đây, chờ đến sáng bằng mọi giá mình cũng đi.  Nhưng chồng tôi cương quyết:

- Phải đi ngay thôi em ạ.  Anh vừa nói vừa nhìn về phía ngôi nhà nằm sâu trong đáy hẻm.

Dù chồng tôi không nói ra, nhưng tôi đọc được ý nghĩ trong ánh mắt và sự lo lắng lộ trên khuôn mặt của anh: "nếu có bị lật tàu chết, còn dễ chịu hơn bị bọn cướp làm nhục."

Tôi thử nói vớt vát với lý do:

- Em nghĩ rằng trong căn nhà đó không có người, chắc họ đi vắng cả rồi, mình cứ trú đỡ ở đây đêm nay, biết đâu chủ nhân căn nhà đó đi vắng mấy ngày không về. Cứ ngủ lại, tàu nổ máy chạy chầm chậm, nếu có biến động thì dọt liền.

Chồng tôi lắc đầu:

- Chạy đi đâu? ban ngày ra ngoài còn không được, đã 3 lần ra rồi chạy trối chết vào lại đây, hãi hùng như thế mà em còn đòi đi ban đêm.

Thật ra, tôi hiểu rất rõ điều đó, nhưng vì không muốn cho tàu đi ngay lúc này nên cố nói với chồng vậy thôi. Chết ở đâu cũng là chết, thôi cứ đánh liều vậy!

Khi tàu chúng tôi ra bên ngoài, mới ngay tại nơi đầu hẻm núi, sóng lại nổi lên đùng đùng như con thứ dữ bị thương đang vùng vẫy. Chồng tôi lạc giọng la lên:

- Không thể nào đi được, em ơi!

Tôi ráng lấy hết sức nói:

- Cho tàu về lại chỗ cũ đi anh!

Nhưng con tàu không thể nào quay được lại chỗ cũ, cũng không thể đi ra ngoài. Nếu tính khoảng cách thật chính xác, thì con tàu chúng tôi chỉ cách lối đi vào hẻm núi có mấy sải tay, nhưng dù máy nổ hết ga, ráng hết sức, vẫn không làm sao đưa tàu vào lại hẻm núi được. Con tàu cứ bị nhồi dập trên sóng, y như bị những con thú dữ tranh nhau xé thịt con mồi. Tôi tưởng tượng ở nơi đây, hằng ngàn năm không thấy bóng một con tàu, hôm nay gặp được tàu chúng tôi, nên các vị hà bá đang ra sức tranh nhau cướp mạng sống của chúng tôi. Con người sinh ra không ai tránh khỏi cái chết, nhưng nếu chết vì bị hà bá giành giật như thế này thì thiệt là quá hãi hùng.

Chồng tôi run lập cập:

- Chắc là mình phải chết ở đây thôi em ạ, anh chỉ ráng hết sức cho con tàu đừng lật ngay bây giờ, chứ không thể cầm cự được lâu. Anh cũng không thể lái cho tàu ra hay vô theo ý muốn của mình được nữa. Em hãy đọc kinh ngay đi, dọn mình để đón nhận cái chết! Anh sẽ ráng giữ cho em đọc.

- Vâng, em đọc kinh ngay đây.

Tôi trả lời trong nỗi kinh hoàng khôn tả. Lúc nầy, những lời kinh dọn mình trước khi chết tôi không sao nhớ nổi. Đâu biết làm sao hơn, tôi kêu thầm trong nước mắt: "Chúa ơi! xin đón lấy linh hồn chúng con trong giờ phút lâm tử này. Con không đọc kinh được, nhưng xin Chúa thương đón nhận linh hồn chúng con."

Một con sóng lớn ập tới đưa tuốt con tàu của chúng tôi lên cao rồi rớt xuống cái ầm. Tiếp theo, một đợt sóng nữa ào đến, con tàu bị chúi xuống, nước tràn vô ào ào. Tôi la thất thanh... rồi không còn biết gì nữa. Hồn đã lạc vào  hư vô!

Rồi chợt nghe mặt mình bỏng rát, như có ai đang rưới nước sôi vào mặt tôi. Nước vừa nóng vừa cay, nó chảy tràn vào mắt, mũi, miệng. Nước gì mà lạ vậy? Tôi muốn đưa tay sờ mặt mình để coi là nước gì, nhưng sao lạ lùng thay, tay tôi như hoá đá, nó cứng ngắc và nặng trĩu. Tôi ráng hết sức cũng không thể nào nhấc nổi cánh tay lên. Trời ơi! sao lạ thế này? Trong lòng hoảng hốt. Tôi cố nhúc nhích. Tôi cố vùng dậy nhưng vô ích. Toàn thân tôi đã hoàn toàn bất động. Rồi tôi nghe có tiếng ai khóc, tiếng khóc lúc xa lúc gần, mơ mơ, màng màng. Tôi cố định thần một hồi lâu, bỗng nhận ra đó là tiếng khóc của chồng tôi.

Trời ơi... lại còn nghe ai gọi tên tôi nữa chứ! "Quỳnh ơi! Sao chết bỏ anh! Đi có vợ có chồng, nay em chết đi bỏ anh lại một mình."

Như vậy là tôi đã chết? Nhưng chết mà sao còn nghe được tiếng khóc của chồng tôi? Vậy là linh hồn chưa ra khỏi xác! Tôi bảo phải thoát xác ra chứ. Tôi nhắc nhủ linh hồn mình ra đi... và rồi lập tức, người tôi nhẹ hẫng, từ từ bay lên. Nhưng chẳng hiểu sao nó như không thể bay lên cao được. Tôi cứ bay là là trên mặt biển, bay thật thấp nhưng thân không chạm nước. Tôi thấy núi non chung quanh nhiều vô số, những ngọn núi đá cao, thấp, lớn, nhỏ, chen nhau dày đặc trên mặt biển. Có điều lạ lùng, là tất cả những núi đó đều di động, lui tới lăng xăng như con rối. Những ngọn núi chạy trên biển vẽ ra trước mắt tôi nhiều cảnh đẹp thần tiên. Tôi bay đến đâu là núi dạt ra mở lối, xong rồi tự khép lại sau lưng tôi như những cánh cửa đóng mở tự động.

Tôi cứ bay, và bay mãi nhưng vẫn không hết núi. Núi sao mà nhiều vậy, không đếm xuể... Chợt nhìn xuống biển, thấy con tàu của chúng tôi chao giao trên sóng, chồng tôi đang chới với vì một con sóng lớn ập tới nuốt chững chiếc tàu.  Lập tức, hai chân tôi hạ xuống quặp chặt chồng tôi, y như con diều hâu cặp một con gà. Nhưng trời ơi! chồng tôi sao mà nặng quá! Tôi đuối sức không chịu nổi và cả hai chúng tôi đã rớt xuống biển cái ầm!...  Lập tức, tôi mở choàng mắt ra. Tôi đang ở đâu đây? Bóng đêm dày đặc chung quanh. Môi tôi cố mấp máy mà chẳng nói ra lời. Sau một lúc tôi định thần, tôi được biết là mình đang ở trên tàu. Tôi run rẩy trong màn đêm gió lạnh.

Thì ra, tôi vừa mới trải qua một giấc mơ, giấc mơ kinh hoàng và kỳ lạ, mà sau khi tỉnh lại, tôi nhớ hầu như đầy đủ mọi chi tiết. Nó như là một sự thật, sự thật nhãn tiền chứ không phải là giấc mơ.

Toàn thân tôi đau ê ẩm và đang bị chồng tôi kẹp chặt bằng hai chân. Mặt mũi tôi nóng rát. Tôi quơ tay đẩy chân chồng tôi ra. Chồng tôi lập tức la lên thật to:

- Trời ơi! em đã tỉnh lại rồi! Tạ ơn Chúa, vợ tôi chưa chết, vợ tôi đã sống lại rồi! Thế rồi anh khóc hù hụ thảm thiết.

Tôi phì cười:

- Anh làm gì mà la hoảng lên, rồi lại khóc lóc tức tưởi vậy, em chỉ ngủ một giấc thôi mà!?

- Ngủ? Chồng tôi la lớn, em không phải ngủ đâu, em đã bị xỉu, xỉu lâu lắm, suốt từ lúc chiều tối đến bây giờ đã nửa đêm. Anh cứ sợ rằng em đã chết!

- Xỉu? Xỉu à?! Tôi không tin  tai mình nghe như vậy. Trong đời tôi chưa hề bị xỉu bao giờ. Bác sĩ thường nói, cơ thể tôi rất khoẻ, tim, gan, phèo, phổi, tất cả đều tốt và bộ thần kinh cũng rất vững nữa. Bây giờ, nghe chồng tôi nói tôi đã bị xỉu, thật tôi không tin được. Nhưng chồng tôi cứ quả quyết là tôi bị xỉu thật. Rồi anh kể lại, lúc anh bảo tôi đọc kinh là anh biết sẽ không thoát được ra khỏi khúc biển tử thần này. Nước chảy xiết và sóng lớn quá. Sóng đã lớn mà lại còn sủi bọt ùng ục thật ghê sợ. Thế rồi bất chợt nhiên tôi bị xỉu. Cả hai tay chồng tôi phải ghì chắt tay lái, không còn tay nào để lay tôi tỉnh lại. Nhưng vì sợ sóng hất tôi xuống biển, nên anh đã phải dùng chân quặp chặt lấy thân tôi. Anh nghĩ là tôi đã chết, vì gọi mãi mà không thấy tôi tỉnh lại. Anh đã có ý muốn buông tay lái cho tàu chìm luôn để hai vợ chồng cùng dìu nhau vào một thế giới miên viễn. Nhưng như có phép lạ, đúng vào lúc đó thì sóng dịu lại, chồng tôi muốn chạy vào hẻm núi cũ để lay tôi tỉnh dậy, nhưng trời đã sụp tối, anh không sao nhìn thấy đường vô nữa. Cặp mắt của chồng tôi vốn dĩ rất kém, suốt hành trình hầu như anh chỉ nhờ vào cặp mắt của tôi. Khi tôi bị xỉu, thì anh không còn nhìn thấy đường vào hẻm núi, đành cho tàu chạy đại ra ngoài, và con tàu đã chạy mãi cho đến giờ này đã quá 12 giờ đêm. Giờ này tàu chúng tôi đã ra khỏi lòng họng và đang chạy băng băng ngoài khơi lộng gió.

Chẳng cần phải hỏi, thấy chồng tôi hay nhìn vào mặt biển, tôi cũng biết là tàu đang chạy ngoài khơi vì chung quanh gió thổi lồng lộng, mà trong lòng họng không bao giờ có như vậy. Lòng họng là địa ngục, còn bây giờ chúng tôi đang đi trong gió mát của thiên đường. Nhưng dù gió mát cũng không làm cho da mặt tôi hết phỏng rát, tôi đã tấp nước lên mặt nhiều lần cũng không thấy đỡ. Vì sau khi anh giựt tóc tôi, giựt không nương tay để lay tôi tỉnh dậy mà không mang lại kết quả, nên cuối cùng, anh đã đổ nguyên một chai dầu xanh lớn vào mặt tôi. Nhờ vậy, tôi mới tỉnh lại.

Tỉnh táo được một hồi, tôi phải lo đem dầu đổ vào máy. Trời tối đen như mực và sóng lớn, nên theo cách cũ tôi buộc dây thừng vào người rồi bò trên tàu để đổ dầu vào máy.

Lúc trước, khi ở Lombok, chúng tôi vì muốn tránh bão nên quyết định đi dọc theo lòng họng để qua vùng biển bên này. Đó là một sự sai lầm to lớn khiến chúng tôi phải sống trong nỗi chết triền miên suốt mấy tuần qua. Nay thoát khỏi long họng ra được bên ngoài, sóng gió còn lớn hơn khi còn trên biển Lombok. Đúng là, tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa.

Cái nguy hiểm nhất là tàu chúng tôi đi trong đêm tối. Trời tối đen, dẫu con mắt có thật sáng hay có sẵn đèn pha cũng không thể nhìn thấy rõ dãy núi Sumbawa. Chỉ thấy lù lù một khối đen lớn. Sumbawa là dãy núi toàn là đá, không cần phải đâm thẳng vào mới chết, chỉ cần đi gần núi mà tàu đụng phải đá ngầm thôi cũng đủ tiêu đời rồi. Bầu trời đen kịt, nhìn bằng cặp mắt trần như thế này chúng tôi không thể định chính xác khoảng cách giữa con tàu với dãy núi. Cứ nhìn theo độ compass mà đi. Trong bản đồ, dãy Sumbawa thẳng tắp, nên có chạy theo compass cũng đỡ sợ bị đụng núi.

Tàu đang đi trong gió xuôi, gió đẩy con tàu đi với tốc độ nhanh ghê hồn, dẫu có bị tắt máy thì tàu cũng bị gió thổi đi băng băng. Nhưng nếu máy tắt là tàu sẽ bị mất thăng bằng và bị sóng lật úp ngay lập tức. Phải cho máy nổ để giữ thăng bằng, nhưng máy được giảm tốc độ, không còn chạy nhanh tối đa như lúc còn trong lòng họng. Chúng tôi rất bận tâm lo cho cái máy, vì khi nó tắt thì hơi thở của chúng tôi cũng sẽ tắt theo để làm thức ăn cho cá dưới biển.

Tàu được gió đẩy đi vùn vụt, chúng tôi vô cùng lo sợ. Phóng nhanh thế này thì không mấy chốc tàu sẽ đi qua hết dãy Sumbawa. Nhưng chung qung chỉ là nàu đen không còn nhận diện được gì nữa cả, cặp mắt như bị bít kín, nếu chúng tôi không chết vì đâm vào đá thì cũng phải chết vì tàu chạy vào trong họng Flores.

Đêm nay, sao mà trời tối thế nhỉ. Bao quanh chúng tôi là một màn đêm dày đặc, ráng mở con mắt thật to, căng cho đến rách khoé mắt, cũng chẳng nhìn được bao xa. Cặp mắt tôi vốn rất sáng, thường làm hoa tiêu chỉ đường cho chồng tôi lái tàu, thế mà bây giờ không sử dụng được. Còn mọi vật chung quanh đối với chồng tôi chỉ là một khối đen thăm thẳm. Tâm trạng chúng tôi như người đang hấp hối, mà tình trạng này cứ kéo dài thật đáng sợ. Thần kinh căng thẳng, trái tim hồi hộp đập muốn vỡ tung. Tôi có cảm tưởng con tim mình như cái bong bóng đã bị căng hết cỡ chỉ cần một tác động mạnh là sẽ nổ tung bất cứ lúc nào.

***

 

Một quyết định

Mới chiều hôm qua, nhìn sóng sủi bọt đen ngòm trong lòng họng, tôi ước ao tàu chạy được ra khơi, dẫu sóng có lớn đến đâu tôi cũng chẳng sợ. Thật vậy, sóng khơi có lớn cũng vẫn là loại sóng lượn. Nhưng đêm nay, tàu chúng tôi đang khốn khổ với những con sóng lượn đó. Nó không phải là những dải lụa êm ả dập dờn làm đẹp mắt người ta, mà nó là những núi sóng chập chùng nối tiếp nhồi con tàu lên cao rồi đổ chụp xuống. Trong gió bão, con tàu thăng trầm theo từng đợt sóng, tôi liên tưởng trong đầu "có phải đây là dấu hiệu của mồ chôn chúng tôi hay không"?

Chồng tôi hỏi:

- Em có sợ không?

Dù trong bụng đang đánh lô tô dữ dội nhưng tôi đã trả lời thật cứng là tôi không sợ. Tôi còn trấn tỉnh anh: "Nếu phải chết ở ngoài khơi này cũng thoả mãn hơn ngàn lần chết trong họng nước đen thui Sumbawa. Cứ bình tĩnh anh ạ!

Chồng tôi nắm tay tôi rồi nói:

- Hình như sau một lần bị xỉu, em đã trở thành người khác, can đảm tột độ, không còn biết sợ là gì.

Thật ra, tôi chỉ nói một cách cứng rắn cho chồng tôi yên tâm vững tay lái giữa đêm đen gió bão, chứ tôi rất sợ.

Sau một đêm chống chõi với tử thần, nhìn xa xa nơi chân trời, ánh thái dương đã bắt đầu lờ mờ lộ diện, dẫu bão không ngớt nhưng nhìn thấy mặt biển là chúng tôi mừng lắm rồi. Tàu chúng cách rất xa dãy đảo, nên chồng tôi cho tàu chạy chếch dần vào gần bờ.

Gần đến bờ mới thấy thêm một điều ghê sợ nữa: Cả dãy núi đá thẳng tắp, không một chỗ lồi lõm, sườn núi thì dựng đứng y như sườn núi trong họng. Dãy núi trong họng còn có nơi lồi lõm để trú ẩn, còn ở đây thì không, suốt nhiều giờ chúng tôi không tìm đâu ra chỗ trú nên đành phải chạy mãi. Tôi than thở trong sự thất vọng não nề: "Chúa ơi! Cả một dãy núi đá dài thẳng tắp không có chỗ lồi lõm để ẩn trú, không một bóng nhà dân, không có sự sống gì cả. Khi dựng lên dãy núi này chắc Chúa không hề nghĩ đến loài người sẽ lái tàu ngang qua đây."

Bất chợt trời đổ một cơn mưa nặng hột. Đúng là họa vô đơn chí, dẫu tay tôi có gắn máy cũng không sao tát kịp một lượng nước thật lớn đang trút xuống lòng tàu. Thêm một tai hại nữa là chúng tôi không còn nhìn thấy đường đi, trời biển mênh mông chỉ còn lại một màu trắng xoá. Đêm hôm qua đi trong đêm đen như mực, dãy núi như một khối đen lù lù, nhưng bây giờ thì không còn nhìn thấy gì nữa cả. Chúng tôi chỉ còn biết là dãy Sumbawa đang ở bên trái con tàu mà thôi.

Vừa tát nước tôi vừa cầu xin: "Chúa ơi! xin cứu giúp chúng con. Lúc nãy con đã dại dột buông lời trách móc Chúa đã không nghĩ đến những con tàu đi ngang đây mà làm nơi trú ngụ cho họ, con sẽ không bao giờ trách móc Chúa như vậy nữa."

Miệng tôi van xin, cầu khẩn và nhắc chồng tôi canh kỹ độ compass, không lái chếch vô núi vì tàu đang chạy rất gần bờ. Tôi bị té lia lịa như con ếch, hết ngã bên này liền bị xô qua bên kia, mặt mũi bị chảy máu nhưng tay thì cứ liên tục tát nước không ngừng nghỉ, chẳng có thời gian để mà chùi vết máu trên mặt cho sạch. Tôi tát, tát liền liền, liên tu bất tận bằng tất cả khả năng của mình. Tôi mím chặt môi, lì lợm và  hăng say cho dù sắp phải chết trong một vài phút nữa.

Chúng tôi đang đi ở cuối dãy Sumbawa trong màn mưa trắng xoá. Tàu cứ chạy mãi không ngừng, hoặc sẽ đâm vào dãy núi Sumbawa, hoặc tàu sẽ chạy lọt vào họng Flores. Tránh dãy núi Sumbawa bên trái thì chúng tôi lại đụng dãy Flores bên phải. Dãy núi Flores nối liền với dãy Sumbawa theo hình thước thợ, chắn ngang phía trước, hướng tay phải của chúng tôi. Đằng nào cũng chết. Con đường nào cũng đưa chúng tôi tìm đến với tử thần.

Đột nhiên, trời ngừng mưa, nó chấm dứt đột ngột cũng như khi nó mới bắt đầu. Thời tiết trên biển hay bất thường như vậy, thiên đàng, địa ngục, chỉ cách nhau trong tích tắc mà thôi. Cơn mưa đã kéo dài gần 10 tiếng đồng hồ, bây giờ thì trời như bừng sáng. Nhưng nó là thứ nắng quái, chiều hôm chợt bừng lên rồi vụt tắt, vì lúc này đã hơn 4 giờ chiều rồi.

Tàu chúng tôi đang đi ở cửa Hàm Cá. Không cần nhìn bản đồ chúng tôi cũng biết, vì dãy núi Sumbawa chỉ có duy nhất một cái hàm cá này. Chúng tôi nhìn nhau mà khiếp hãi, không ai nói được nên lời, nếu chỉ mưa thêm chừng nửa giờ nữa thôi, thì coi như là tàu chúng tôi sẽ đâm sầm vào núi đá. Ngay trước mặt chúng tôi là dãy núi đá cao ngất, chạy ngang sang dãy núi Flores. Cũng may, nếu không tạnh mưa, thì kể như chúng tôi tận số. Chúng tôi cùng giương mắt nhìn dãy núi đá mà rùng mình.

Như đã bàn với nhau từ trước, chúng tôi tìm chỗ trú qua đêm nơi hàm cá này. Nhưng hàm cá lớn rộng quá, nó cũng không phải là chỗ trú an toàn. Đậu tàu trong hàm cá này cũng y như ngoài khơi, mà nước trong hàm cá lại chảy tam tứ chiều cho nên rất khó dừng lại một chỗ. Trong khi đó tàu của chúng tôi thì quá nhỏ. Nhìn cả hàm cá rộng mênh mông, chỉ thấy toàn là núi đá xanh, không cây cối, chẳng thấy một nóc nhà, nó gây nên một cảm giác lạnh lẽo vô cùng. Vậy là chúng tôi quyết định đi tiếp, đi theo dãy núi ngang là phần cuối của dãy đảo, may ra có chỗ lõm nào trú được con tàu qua đêm, để sáng sớm mai chúng tôi sẽ vượt họng sang Flores.

Nhưng tàu chúng tôi đi mãi, đã gần đến họng Flores rồi mà vẫn không tìm được chỗ trú. Dãy núi đá dựng đứng không có chỗ nào lồi hay lõm mà gió thổi cứ ù ù nghe đến rợn óc. Cơn mưa dứt hẳn, bầu trời quang đãng trở lại. Chồng tôi bàn:

- "Hay là mình vượt họng Flores luôn, sang Flores trú đêm em nhỉ".

Nghe chồng nói, tôi thấy phát hoảng. Tôi kiên quyết phản đối. Chỉ còn vài giờ nữa là sụp tối, không nhìn rõ mặt người, vậy mà chồng tôi lại có ý muốn đi vào trong họng. Thật ra, cái họng Flores này nhỏ hơn nhiều so với họng Sumbawa, nhỏ hơn họng Bali, nhưng sóng ban đêm ở đây rất khủng khiếp. Đi vào họng giờ này tự sát, nếu may mắn qua được họng cũng không dễ gì tìm được chỗ trú. Nhìn cái đảo đầu tiên của dãy Flores, nó tròn vo như trái banh, phải đi tiếp đến cái thứ hai mới được. Ban đêm, trời đen như mực, làm sao mà thấy đường để đến hòn đảo thứ hai. Tàu sẽ đâm sầm vào đá sẽ tan tành như xác pháo, nếu không cũng sẽ đi lạc ra Ấn Độ Dương. Đi liều kiểy này thì hậu quả sẽ không lường được. Dẫu tôi là một người đi biển tệ nhất thế giới, tôi cũng có thể đoán trước được điều đó.

Tôi nói:

- "Chúng ta hãy quay trở về hàm cá tìm chỗ trú đêm nay, chỉ còn có cách đó thôi anh ạ!" Dù tôi nói ngọt, nói nhạt hết lời mà chồng tôi vẫn cứ khăng khăng một mực đòi băng qua họng Flores. Trời ơi! vậy là đầu óc của chồng tôi đã không còn bình thường nữa rồi! Hay là có ma có quỉ đi theo xui khiến cũng nên. Nó đưa đường cho chồng tôi phải đến trình diện Diêm vương?

Một lần nữa, tôi cố gắng nhẹ nhàng thuyết phục chồng tôi, mặc dầu tôi đã muốn nổi khùng:

- " Em biết chỗ hàm cá không phải là nơi tạm trú tốt, nhưng nếu chọn hàm cá hay vào họng Flores đêm nay, thì tất nhiên mình phải chọn hàm cá để trú thôi, không thể nào khác được anh ạ."

Nhưng chồng tôi vẫn một mực, khăng khăng không chịu nghe lời tôi, anh gắt lên:

- "Nói như em thì bao giờ mới đến Úc! Dãy Flores dài thoòng, có tới mấy chục cái đảo rời nhau, đâu phải chỉ là một dãy núi liền nhau một mạch như Sumbawa. Đi kiểu như em thì một năm sau mới tới Úc!"

Tôi nhủ thầm, nếu 1 năm sau đến Úc cũng vẫn còn được, bởi vì đến đó bằng con người thật chứ không phải bằng hồn ma. Dù nghĩ như vậy, nhưng tôi không dám thổ lộ. Tôi nói:

- "Anh làm như bắt buộc ngày mai phải có mặt ở Úc không bằng! Nếu chưa đến được thì bị mất cái giải gì đâu? Có ai chạy đua với anh đâu mà phải cố cho bỏ mạng vậy?"

Anh không chịu nghe lời tôi mà còn hét lên:

- "Từ đây trở về hàm cá đi gió ngang, và sang Flores cũng gió ngang! Thời gian từ đây lại mất mấy tiếng đồng hồ. Trong khi cũng bằng thời gian đó, chúng ta đã vượt qua họng sang đến đảo Flores! Tại sao không muốn vượt họng mà phải đi lùi?!"

Tôi cũng nổi nóng:  

- "Sau mấy tiếng trở về hàm cá ta sẽ tìm được chỗ trú, còn nếu vượt họng Flores mình sẽ cho tàu trú ở đâu? Chưa biết là loay hoay giữa họng nước khi trời tối sẽ ra sao, hơn nữa trời này mưa sẽ ập xuống không biết lúc nào. Mới ra khỏi họng Sumbawa mà anh đã hết sợ đi trong họng rồi sao? Sáng sớm mai khởi hành là tốt nhất. Mấy tháng đi trên biển anh không học được điều đó hay sao?

Thế là chồng tôi gào to lên như một người điên:

- "Tại sao anh lại không biết điều đó. Em đừng có dạy đời, anh đã đi biển 6 năm tại Galang và ở Việt Nam anh cũng là dân vùng biển. Em kinh nghiệm về biển được bao nhiêu? Ở Galang, em đi biển để tắm, bãi biển nằm trong cái eo, biết đâu là sóng. Em chỉ đi biển có 2 lần. Lần trước ngồi trên tàu cho người ta đưa đi, chỉ lần này có được chút kinh nghiệm đã làm tàng."

Tôi cũng nổi giận không kém:

- "Anh nói anh biết nhiều! Vậy máy tàu đã chạy từ 4 giờ chiều hôm qua đến giờ, anh biết không? Phải cho máy nghỉ chứ. Nó mà hư là mình phải chết theo luôn anh biết không? Tàu chỉ có một máy duy nhất, anh thấy đó. Còn em, đã tát nước liên tục 10 giờ đồng hồ rồi, anh biết không? Toàn thân em đã rã rời hết, bộ anh coi em là trâu bò hay sao?

Chồng tôi cũng đâu chịu nhịn, anh gân cổ hét lên:

- "Vậy lúc đó bộ anh ngồi giương mắt để nhìn em làm hay sao. Tay anh ghìm tay lái cũng đau nhức lắm chứ, mắt thì chăm chăm nhìn muốn lọt tròng ra ngoài. Bộ anh không biết mệt, chỉ có em biết mệt thôi sao?"

Đang giận sôi lên, nhưng khi nghe chồng tôi nói vậy, lập tức cơn giận trong tôi liền tiêu tan. Tôi nghĩ ngay đến những con sóng sôi ùng ục, sủi tăm đen ngòm trong lòng họng Sumbawa mà phát rét. Trong lúc tôi ngất xỉu, anh phải đương đầu một mình với những coơn sóng dữ, lại còn phải dùng chân quặp lấy thân tôi. Anh không muốn tôi phải chết trong lòng họng tối tăm đó.

Tuy không còn giận, nhưng tôi vẫn kiên quyết không nghe theo anh đi sang Flores ngay lúc này. Tôi liền xuống giọng năn nỉ:

- "Em biết, cả anh và em đều mệt, không những chúng ta cần nghỉ mà máy cũng cần nghỉ, mình thương máy, dưỡng máy là thương chính bản thân mình anh ạ. Biết rằng quay về hàm cá bị gió ngang, nhưng sau mấy giờ khó khăn là một đêm nghỉ khoẻ. Anh hãy nghe lời em đi, cảm giác không đánh lừa em đâu, đi vào họng Flores đêm nay không an toàn đâu."

Dù vậy, những lời nói nhẹ nhàng ngon ngọt của tôi cũng chẳng có tác dụng gì với anh lúc này. Anh vẫn kiên quyết một mực:

- "Cảm giác với chả cảm giác! Dưới tàu này, anh là tài công thì anh có toàn quyền quyết định! Suốt cả chuyến đi. Tại sao cứ phải chạy theo cảm giác của em. Em là cấp chỉ huy của anh đó hả?!"

Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, máu nóng lại bốc lên đầu, tôi xổ luôn:

- "Em không cần làm cấp chỉ huy của anh. Trên tàu chỉ có em với anh thì chúng ta phải bàn bạc kỹ lưỡng rồi mới quyết định. Anh nói anh rành biển hơn em. Anh là tài công toàn quyền quyết định mà anh lại muốn đi vào họng biển giờ này. Anh uống phải thuốc liều không đúng lúc thì có. Suốt đường đi anh lo lái tàu không có thời giờ nhiều coi bản đồ, còn em thì nhìn bản đồ đến thuộc lòng, nên em chỉ muốn cố vấn cho anh vậy thôi. Bây giờ, anh lại nói như thế, thì ra anh thích được chỉ huy, thích được có quyền. Đi trên biển dài ngày sống chết có nhau. Không yêu thương nhau, anh lại còn muốn gây gổ với em nữa. Nói rôi, tôi oà khóc.

Chồng tôi dịu giọng:

- Suốt chuyến đi em đã quyết định nhiều rồi, thôi lần này cho anh quyết định. Nói rồi, anh tăng tốc độ máy tàu.

Suốt trong thời gian cãi nhau, máy tàu được giảm ga, sau cơn mưa trời cũng bớt gió rất nhiều và sóng biển cũng có phần dịu hơn. Nhưng tôi biết chồng tôi đã nhất quyết vượt họng nên anh mới gia tăng tốc độ máy tàu.

***

 

Ánh điện giữa biển khơi

Khi còn ở trong họng biển Sumbawa, tôi đã thề là không đi vào lòng họng và cũng không vượt ngang qua họng trong đêm tối, nhưng giờ này đã không thuyết phục được chồng, tôi vô cùng hoảng hốt. Tôi la lên thất thanh:

- "Tôi phản đối, không thể liều như thế được!"

- Có liều mới đi Úc bằng tàu, em không muốn liều sao không ở lại Việt Nam, chờ mua vé máy bay mà đi!

- Anh đừng khích tôi! Tôi nói trong cơn giận tột cùng:

- Tôi nghĩ rằng tôi mắc một sai lầm lớn là đi vào lòng họng Sumbawa, đó là một sai lầm lớn nhất trong chuyến đi, nhưng giờ này tôi biết có một sai lầm còn lớn hơn nhiều, đó là cùng đi với anh trên chuyến tàu này! Và để sửa cái sai lầm này, tôi sẽ để cho anh đi một mình. Từ nay, anh sẽ được toàn quyền quyết định, tha hồ mà làm cấp chỉ huy.

Nói rồi, tôi nhảy ngay xuống biển cái đùng!

Nước biển ấm áp vô cùng. Sau hơn 10 giờ đồng hồ ướt đẫm nước mưa lạnh như nước đá, giờ đây ngâm mình trong nước biển mới dễ chịu làm sao. Nước biển làm ấm thân tôi. Nhưng ngay sau những phút khoan khoái đầu tiên, tôi nhận ngay ra một điều là nước chảy xiết như thác cuốn, tôi không thể bơi nổi. Trên tàu, chồng tôi la hoảng lên:

- Sư tử Hà đông, lên tàu mau, anh đồng ý quay lại.

Anh cho tàu chạy theo tôi, nhưng thoáng một cái tôi đã trôi ra xa về phía họng. Trên tàu, chồng tôi nghĩ là tôi còn làm nư nên lại hét lên:

- Sư tử Hà đông, anh đồng ý quay lại hàm cá, sao không bơi về tàu. Không tự bơi vô tàu, anh không thể nhảy xuống biển mà cứu em đâu.

Nước mắt tôi chảy dài. Đôi chân tôi đạp nước hết sức cũng chỉ trồi được đầu lên thở thôi. Tôi không thể bơi nổi trong dòng nước chảy xiết như thác này. Càng trôi đi xa, nước càng chảy xiết. Tôi hét to lên:

- Nước cuốn dữ quá, em không thể bơi được!

Chồng tôi hoảng hồn thật sự. Có lẽ, vì lúc trước anh ỷ y tôi bơi giỏi, vì biển bây giờ cũng bớt sóng gió, và ngày thường tôi vẫn bơi dưới biển để tắm. Bây giờ, không phải tôi bơi mà nước đẩy tôi đi, trôi dần về phía họng Flores. Chồng tôi không thể buông tay lái tàu để nhảy xuống biển cứu tôi. Con tàu cứ chòng chành, lắc lư chạy theo tôi. Cứ như thế này, chẳng mấy chốc chúng tôi sẽ đi vào lòng họng biển. Tôi thất kinh, la lớn:

- Quăng dây cho em!

Lập tức, chồng tôi quăng cho tôi cuộn dây, và may thay, đầu dây rơi lại trúng ngay đầu tôi, tôi chụp được ngay tức khắc. Cuộn dây thừng này tôi dùng để buộc vô người đi châm dầu cho máy những khi gặp sóng gió lớn. Một đầu dây lúc nào cũng được cột chặt vào sườn tàu. Nắm được sợi dây, tôi cuốn chặt vào tay và nói chồng tôi quay tàu ngược về hàm cá, tôi cứ bám chắc lấy sợi dây thừng, lần từ từ về tàu. Tàu đi một quãng xa, tôi mới đến sát được sườn tàu leo lên.  Chồng tôi vừa đưa tay kéo tôi lên tàu, vừa mắng:

- Sư tử Hà đông, anh muốn mổ bụng em ra coi cái gan em nó lớn cỡ nào.

Tàu chúng tôi tăng ga chạy hết tốc lực, nên về được hàm cá cũng mau. Nhưng đi mãi trong hàm cá vẫn không tìm được chỗ trú. Chồng tôi đã khẳng định đúng, sóng trong hàm cá lớn gấp mấy lần sóng ngoài khơi, gió thổi lồng lộng không ngớt. Mưa lại bắt đầu rơi, tuy không to như cơn mưa vừa rồi nhưng sóng gió trong hàm cá rất lớn, khiến tàu chúng tôi di chuyển rất khó khăn.

 Chồng tôi vừa lái tàu vừa càu nhàu:

- Em coi đó, anh nói có sai đâu, gió trong hàm cá và gió ngoài khơi lớn ngang nhau, mà sóng trong này lớn hơn sóng khơi gấp bội. Em có thấy hối hận khi đi vào trú trong cái hàm cá này không?

Tôi lắc đầu:

- Em chẳng thấy hối hận chút nào, em vãn nghĩ rằng giữa cái hàm cá và cái họng Flores, thì cái hàm cá này vẫn an toàn hơn.

Dẫu tàu đang đi trong mưa gió, lắc lư như đưa võng trên những con sóng đan nhau tiếp nối, nhưng tôi không thể không nhìn biển để thấy thiên nhiên là một tác phẩm tuyệt vời. Từ đầu chuyến hải hành đến giờ, chưa bao giờ tôi được xem thấy cảnh đẹp như thế này. Trước đây, khi đi trên vùng biển Kalimantan, tôi mê mải nhìn những trái núi đơn lẻ giữa biển, những ngọn núi ấy tuy đẹp nhưng chúng nằm cách nhau rất xa, và mặt biển nơi đó hiền hoà quá. Ở trong hàm cá này, từng đợt sóng cuốn lên như mái nhà, rồi đổ xuống tung bọt trắng xoá như thác nước. Mà ở đây, không phải là thác nước đơn độc, chúng cứ liên tục lớp lớp cuốn lên rồi đổ xuống trắng cả một vùng rộng lớn, nhìn như một bức tranh tuyệt tác. Lại có thêm ba sườn núi đá của hàm cá, như một quần đảo đứng xếp với nhau, tạo nên nên vẻ đẹp tưởng chừng như chỉ có trong những truyện cổ tích thần thoại. Dãy núi ở giữa hàm cá có vô số đảo nhỏ với nhiều hình thù ngộ nghĩnh. Ở ngay chính giữa những đảo nhỏ này là một trái núi trông giống như hình hai trái tim lồng vào nhau. Thật lạ lùng, hai trái tim to lớn như trái núi nhưng trông nó rất sắc nét và đều đặn, cân đối, y như hình in trên thiệp cưới.

Tôi biết chồng tôi đang quạu vì không tìm được nơi trú cho tàu. Tôi nhìn sóng cũng biết con tàu có thể bị lật bất kỳ lúc nào bởi vì sóng quá lớn. Tàu đi cứ nhích từng chút. Tôi lăng yên nhìn khắp xung quanh mà không dám mở miệng nói gì cả. Nhưng trước cảnh thiên nhiên quá đẹp, không nhịn được, tôi buột miệng kêu lớn:

- Anh ơi! nhìn trái núi đôi hình trái tim kìa, nó  giống y hình hai trái tim lồng vào nhau trên tấm thiệp cưới!

Chồng tôi đã không hứng thú ngắm cảnh lại còn gắt lên:

- Em im đi, trời đã tối rồi, không tìm được chỗ trú thì chết đến nơi, ở đó mà ngắm với nhìn!

Bất chấp sự cau có của chồng, tôi tiếp tục nói:

- Anh à! trái núi đôi đẹp quá, có lẽ có người lên đó đục đẽo thành hình trái tim.

      Chồng tôi nổi quạu, mắng một hồi:

- Em dẹp bỏ ngay cái máu lãng mạn không phải lúc của em đi! Sắp chết đến nơi rồi, lo nhìn đường không lo, cứ lo nhìn núi đẹp với chả đẹp. Em lo cho cái mạng của mình đi, lo làm chi núi đá có người lên đục đẽo. Thuở giờ, có ai lại đi đục đẽo núi đá để thành hình trái tim bao giờ. Cái đó, có đi mà hỏi Đức Chúa Trời! Ngày đi qua vùng biển Kalimantan, em cứ lo ngắm núi hình con thỏ, hình mái nhà, đảo hình vườn địa đàng... Chồng em lo lái tàu muốn vẹo xương sống, còn em chỉ biết đeo ống nhòm lên để nhìn với ngắm. Biết vậy, anh cho em lên đảo dừa mà ở, leo dừa riết cho biến thành khỉ luôn!

Trời ơi! Tôi bật cười lớn:

- Con người mà không biết thưởng thức cái đẹp thì có khác chi tình yêu không có một chút lãng mạn, nấu chè không bỏ đường, ướp đồ ăn thiếu muối.

- Nè! Em hơi một chút là ví anh như chè không đường, canh thiếu muối, nếu không có thứ chè không đường, canh không muối chịu lái tàu cho em, thì em làm sao có dư thời giờ mà ngắm cảnh đẹp. Bắt đầu từ ngày mai thay phiên nhau lái tàu, mỗi người một ngày.

- Ok! Tôi vui vẻ đùa lại: với em chuyện đó chẳng có gì là mệt nhọc.

Chồng tôi nói:

- Anh cảnh báo cho em biết, hãy nhìn những ngọn sóng cao ngất kia mà chuẩn bị tinh thần.

- Chuẩn bị tinh thần hả? Tôi nói ngay: Em chẳng cần phải chuẩn bị tinh thần gì cả, anh lái tàu thì vẹo cột sống nhưng đến phiên em lái thì khoẻ re. Tại sao hả? anh lắng tai nghe em nói đây: "Trước khi dựng nên loài người, Chúa đã tạo nên trái đất, bầu trời và biển cả. Chúa nói tất cả đều tốt đẹp. Nhưng Chúa nhìn tác phẩm và muốn cho sinh động lên, Chúa đã tác tạo cây cỏ và muôn loài cầm thú cho sinh sôi nẩy nở khắp mặt đất và trong lòng biển. Tất cả đều tốt đẹp. Cuối cùng, Chúa tạo ra loài người. Con người là hình ảnh của Thiên Chúa, được giao trách nhiệm làm chủ và cai quản muôn vật trên địa cầu. Những ai biết thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên là tác phẩm của Chúa, sẽ được ban mọi ơn sức dồi dào. Lái tàu đi biển là chuyện nhẹ nhàng thôi, như là đi ngắm hoa trong vườn vậy."

Chồng tôi phì cười:

- Đúng rồi! người biết thưởng thức cảnh đẹp như em, lái tàu đi biển rất nhẹ nhàng, cho nên mới cho tàu chạy vào lưới giăng cá, chạy đụng đá ngầm gãy chân vịt, nếu mà không có anh thì sẽ ra sao?

Tôi cãi lại ngay:

- Em nói không đúng sao? Vì cái gì mà tàu mình đã bao lần thoát chết. Chỉ có Chúa cứu mình mới sống được đến hôm nay. Bây giờ, cứ nghĩ lại, anh đếm thử xem bao nhiêu lần chết hụt, có phải Chúa cứu mình không? Chúa sở dĩ cứu tàu của mình vì đi suốt chặng đường em luôn miệng ngợi khen Chúa. Chúa ơi! Chúa đã tạo nên cảnh nơi đây tuyệt đẹp và Chúa đã quan phòng cho tàu chúng con đi bình an.

Chồng tôi nói thở ra:

- Chúa ơi! cho con ơn khôn ngoan để con cãi lại cái miệng lép tép của vợ con!

Tôi cười bò ra sàn tàu:

- Trời ơi! anh xin ơn khôn ngoan để đấu khẩu với vợ mình, Chúa chẳng bao giờ cho anh đâu!

- Này, em nín cười đi, anh đang lo sợ quá chừng đây nè. Sau khi em bị xỉu, không còn biết sợ là gì nữa. Không thể tìm được chỗ trú cho tàu, cứ lái đi mãi như vầy hay sao? Mình sẽ đụng phải đá bể tàu mà chết. Xung quanh đây chỉ toàn đá với đá.

- Thì thả neo xuống đây, đáy biển vùng này toàn là đá, neo sẽ dính cứng ngắt, lo gì!

Nói thì nói vậy chứ trong bụng tôi run sợ vô cùng.

Chồng tôi với nét mặt buồn so:

- Em không thấy sóng cao ngất hay sao mà lại nói như vậy. Từng đợt sóng cao ngất như mái nhà như thế này, nước trong hàm cá lại chảy tam tứ chiều, mình không thể thả neo chênh vênh như vậy được. Anh chép miệng tiếc rẻ: Phải chi hồi chiều em nghe lời anh vượt họng Flores thì có lẽ giờ này đã qua đến nơi rồi!

- Thôi, anh đừng nhắc đến Flores nữa. Cái quan trọng lúc này là tìm chỗ nào dịu sóng để neo tàu. Nơi này sóng cao thật, nhưng không phải là loại sóng sủi ùng ục, đen ngòm như trong lòng họng. Neo được tàu xong, anh hãy ngủ để lấy sức. Em sẽ thức suốt đêm ngắm sóng, phong cảnh vùng này em thấy thích muốn mê đi được. Những ngọn sóng bay bổng lên cao như ngọn núi rồi đổ ầm xuống trắng xoá, vỡ ra như muôn ngàn cánh hoa. Người ta vẫn chẳng gọi là hoa sóng đó sao. Nhìn cảnh này em liên tưởng tới chốn địa đàng. Sóng ở đây là sóng thiên đàng, còn ở trong lòng họng là thứ sóng địa ngục.

Chồng tôi nhăn nhó:

- Em dẹp cái ý tưởng lãng mạn của em đi! Với anh, sóng chỗ nào cũng đều gớm ghê như nhau, có thể giết chết người.

Nhưng tôi vẫn ráng cãi:

- Không đúng, nếu phải chết nơi vùng sóng thiên đàng này thì sẽ thành thiên thần, còn chết trong lòng họng sẽ biến thành ác quỉ. Em vẫn nghe nói vùng biển Bali là nơi du lịch có tiếng, nhưng cảnh Bali mà so với vùng biển này sẽ bị xếp vào hạng tầm thường. Nơi này đẹp gấp mấy lần Bali. Tại sao người ta không phát hiện ra để đến đây du lịch. Nó xứng đáng là một nơi du lịch của thế giới.

Chồng tôi lệch người loay hoay với tay lái, anh chẳng thèm quan tâm để ý đến lời tôi nói, cũng chẳng ngó ngàng chi đến cảnh đẹp thuộc vào loại kỳ quan của thế giới này. Cả hai chúng tôi rất lo sợ vì cứ đi mãi cũng không sao tìm được chỗ trú. Tôi cũng không còn nhìn được cảnh biển đẹp vì trời đã tối và lạnh run vì đẫm nước mưa... Bất chợt, tôi nhìn thấy ánh đèn! Trong làn mưa, rõ ràng là có loé lên ánh đèn. Tôi dụi mắt nhìn lần nữa, đúng là ánh đèn thật rồi. Tôi gọi chồng tôi và chỉ cho anh coi:

- Anh ơi! Chúa ban phép lạ! anh ơi!

Tôi mới đứng lên thì lập tức té dập mặt xuống sườn tàu. Đau điếng! Sờ lên mặt thấy máu chảy, bị dập môi, nhưng mừng quá khiến tôi không hề thấy đau. Tôi đứng chồm ngay dậy chỉ cho chồng tôi thấy ánh đèn, nhưng chồng tôi chẳng thấy gì cả. Anh còn mắng là tôi chỉ nói nhảm, cười quá đến hoa cả mắt. Nhưng tôi quả quyết có ánh đèn thật, và thúc dục chồng tôi lái tàu vào gần hơn nữa. Sóng lớn quá nên chúng tôi không dám cho tàu vào gần. Chỉ đến lúc nào nhìn thấy rõ ánh đèn thì mới cho tàu đi ngay vô vùng sóng lớn đó.

Chồng tôi do dự nói:

- Cả một dãy đảo dài không hề thấy có người ở, nếu ở đây có người, thì có lẽ là một bộ lạc ăn thịt người. Nhưng tôi đã thuộc lòng bản đồ, tôi biết bên kia dãy núi là một thành phố, nên tôi nói:

- Bộ lạc ăn thịt người không có ở gần thành phố đâu. Cứ cho tàu chạy vào đi anh.

Thế là chúng tôi cho tàu đi sâu vào vùng đó. Sóng lớn khủng khiếp, đưa con tàu chúng tôi bổng lên cao rồi đổ xuống như bị rớt theo gềnh thác nghe ầm ầm. Cả hai tay phải bám chặt sườn tàu, sợ bị hất văng ra ngoài. Thật chẳng uổng công chúng tôi đã vượt sóng đi vào. Khuất bên trong bờ có một khu nhà, mà nhà nào cũng có điện, kỳ lạ thật! Xung quanh đây chỉ toàn núi đá, sao mọi nhà đều có điện?!

***

Nhìn thấy nhiều người đứng nhốn nháo trên bờ, họ vẫy, họ la, họ chỉ chõ. Chúng tôi không thể nghe được họ nói gì, vì khoảng cách còn khá xa. 

Chúng tôi vô cùng mừng rỡ và cho tàu chạy vô gần hơn nữa. Họ đang thi nhau để nói, những cánh tay cứ quơ lên quơ xuống, vừa chỉ chõ vừa la. Chúng tôi không thể nào chạy gần hơn vì sóng bờ rất lớn. Bấm đèn pin soi xuống đáy biển, chúng tôi quyết định buông neo cho tàu nghỉ.

Khi thấy chúng tôi sắp thả neo, đám người trên bờ xua tay lia lịa. Họ chỉ tay sang vùng mé bên phải nơi chúng tôi đứng. Lập tức, chúng tôi cho tàu chạy đến nơi họ vừa chỉ. Chỗ này sóng lớn kinh hồn, dưới đáy toàn là đá xám xịt xen kẽ nhau thấy mà chóng mặt. Chúng tôi là cho tàu trở về chỗ cũ, nơi này ít đá hơn, dưới đáy đá chỉ lưa thưa, phần lớn là cát, mà sóng tương đối dịu hơn so với chung quanh.

Nhưng tôi thác mắc, không hiểu sao dân bản xứ lại tỏ vẻ không muốn chúng tôi trú tàu nơi này. Trên bờ, họ xúm nhau xua tay lia lịa. Mặc kệ, chúng tôi cứ buông neo!

Mới vừa tắt máy thì con tàu cứ quay ngang. Sóng đập bên này cái đùng, rồi lại đập bên kia cái đùng. Chồng tôi cứ đi qua đi lại, điều chỉnh cho con tàu hướng mũi vào sóng. Nhưng vô ích, chẳng có cách nào điều khiển được. Mực nước rất sâu, tôi có cảm tưởng phải mấy con sào cũng chưa thọc tới đáy. Đám đông người ở trên bờ cứ tiếp tục xua tay lia lịa, tôi nghĩ, chắc có điều gì bất ổn chỗ này. Chúng tôi bàn nhau dời tàu đi nơi khác. Khi tôi đi ra mũi tàu kéo neo lên thì trên bờ dân chúng vỗ tay hưởng ứng. Nhưng chưa kịp dời tàu đi thì một cơn mưa từ đâu ập xuống, nước trút xuống ào ạt, chúng tôi đành lại thả neo xuống biển. Trên bờ, đám người cũng bỏ chạy tán loạn, có lẽ họ trở về nhà.

      Chúng tôi thi nhau tát nước, không còn chuyện gì quan trọng hơn là lo tát nước lúc nầy. Sóng cứ nhồi con tàu lên xuống, qua lại như chiếc xích đu. Khổ một nỗi là tàu cứ quay ngang con sóng. Sóng vỗ vào mạn bên này đùng một cái, rồi bên kia lại đùng một cái, nghe đau lòng. Trong lúc tát nước tôi té lên té xuống, toàn thân bị thương tích khắp nơi, trên mặt nhiều chỗ chảy máu. Máu hoà với nước mưa, nhìn gương mặt bây giờ chẳng khác gì người đang đóng phim kinh dị.

Cơn mưa kéo dài đến 12 giờ đêm thì dứt, nhưng cái khổ là vì con tàu cứ bị sóng đánh ngang hông mà không làm sao có thể tránh được. Sóng đập đùng đùng nghe như trống trận, gây cho chúng tôi một cảm giác vô cùng lo sợ, chỉ sợ bể con tài thì thân xác chúng tôi cũng sẽ phải thuỷ táng theo. Tôi ngồi không vững và cứ muốn ói. Từ lúc ra đi đến giờ tôi chưa hề bị say sóng hay ói bao giờ.

      Chồng tôi cứ bẻ qua bẻ lại, tìm cách điều chỉnh cho con tàu cỡi ngược sóng, nhưng vô ích. Nó như một con ngựa chứng, chẳng hề biết chúng tôi là chủ. Nó chỉ biết vâng theo cơn sóng mà thôi. Tàu và sóng như cặp nhân tình lâu ngày gặp lại, chúng quấn quýt hôn nhau nồng nàn, táo bạo, làm cho chúng tôi muốn phát điên lên được.

      Tôi nói: "Anh đừng loay hoay mãi như thế, cứ nghỉ một chút đi, vài tiếng nữa là hừng sáng, thấy đường là chúng ta sẽ dời tàu ngay. Con tàu coi bộ cũng chắc lắm, sóng đánh như thế nhưng chẳng hề hấn gì, em chỉ lo mình sẽ mệt vì cứ bị lắc lư mãi thế này."

      Nhưng biết làm cách gì đây? Cả hai chúng tôi đều ướt như chuột lột, nước mưa bây giờ lạnh như nước đá. Tôi run lên từng cơn, hai hàm răng đánh bồ cạp liên hồi. Giờ này tôi ước có một bộ quần áo khô để mặc, và một chiếc lò sưởi thì tuyệt, nhưng chỉ là một sự mơ mộng viễn vông mà thôi. Tàu không có mui nên tất cả mọi thứ trên tàu đều như ngâm dưới nước, ngoại trừ thùng gạo có nắp đậy rất chặt nên nước không thể vào được.

      Chúng tôi cởi quần áo ra vắt thật kỹ cho ráo rồi mặc lại vô người. Nhưng quần áo có được vắt hết nước, mặc vào cũng chẳng thấy đỡ lạnh chút nào. Cái lạnh buốt như thấm vào xương, vào tủy. Tôi rên lên khe khẽ trong khi hai hàm răng khua lập cập. Chồng tôi nhìn tôi buồn rầu: "Ráng lên em, vài giờ nữa nhìn thấy đường rồi mình sẽ dạo khắp vùng biển này tìm một chỗ trú tốt hơn.

Gió mỗi lúc một lớn. Tốc độ gió tưởng chừng còn lớn hơn là lúc tàu chúng tôi đi trong đêm hôm qua. Gió nghe vù vù như muốn nâng bổng con tàu lên khỏi mặt biển. Chúng tôi ngồi ôm chặt lấy sườn tàu, nghe gió thổi mà hãi hùng làm sao. Có lúc, tôi nghĩ, nếu dây neo tàu mà bị bứt ra khỏi tảng đá lớn dưới đáy biển, thì con tàu dám bị thổi bay lên không chứ chẳng chơi.

       Chồng tôi nắm chặt tay tôi và nói: "Em cố bám chặt vào tàu kẻo gió thổi đưa lên đỉnh núi đó. Giờ này mà đang chạy ngoài khơi thì chết là cái chắc. Còn như đang trong họng Flores mà sóng thế này thì tàu sẽ xoay như chong chóng rồi vùi chôn xuống lòng biển chứ chẳng phải đùa."

Nếu lúc bình thường không như bây giờ mà nghe chồng tôi nói như vậy tôi sẽ vặn lại ngay: "Chứ không phải anh có nhiều kinh nghiệm đi biển nên đã nuốn lái tàu qua họng Flores đêm nay sao?" Nhưng lúc này tôi mệt đừ người và lạnh buốt nên thôi, giữ im lặng là hơn!

Chồng tôi thấy tôi không nói gì, nên tiếp: "Gió thế này không thể nào mà đi tiếp thêm nữa được đâu em ạ, mình phải tìm nơi trú ẩn ít ngày rối tính. Tình hình này cơn bão càng lúc càng mạnh hơn".

Tôi nói lập bập: "Em đồng ý, mình nên trú lại đây ít ngày, chứ gió như vầy không thể đi thêm được, và ngay bây giờ phải làm sao chế ngự được cái lạnh, em không còn chịu nỗi nữa rồi."

"Cách gì bây giờ?" Chồng tôi cũng lập bập nói: "Em có ý kiến gì thì nói ra đi, em vốn là quân sư giỏi mà."

"Anh đừng đưa em lên như thế rồi đạp em xuống vũng sình, quân sư gì? quân sư quạt mo thì có." Tôi muốn cười mà không sao cười nổi, miệng bây giờ như tê cứng và toàn thân lạnh cóng như băng. Lúc trời còn mưa, chúng tôi phải luôn tay múc nước nên không thấy lạnh, bây giờ cơn mưa đã dứt nhưng sức gió mạnh quá, sau nhiều giờ bị dầm mưa nên cái lạnh đã thấm vào tận trong xương.

Sau một hồi suy nghĩ, tôi nói: "Cứ tình trạng này thì cả hai sẽ bệnh, mình không thể để cho bị bệnh, phải chống chõi với tất cả để có sức khoẻ mà sống còn." Tôi đề nghị: "Hay là anh và em chơi trò gây lộn, cãi nhau. Mình cứ la hét lên thật to, cố moi hết những điều gì tức tối trong lòng của suốt chuyến đi mà đè nén chưa nói ra được thì bây giờ cứ nói hết ra.

Chồng tôi phản đối liền: "Chơi trò gây lộn là điều mà anh ghét nhất trên đời, thôi dẹp cái ý tưởng kỳ cục của em đi."

Tôi nói: "Thì em có thích gây lộn đâu, nhưng bây giờ mà gây lộn sẽ có lợi vì nó làm cho chúng ta nóng người lên, chừng nào hết lạnh thì mình ngừng khẩu chiến. Cứ  hét cho lớn lên cho át tiếng sóng, chứ sóng cứ vỗ đùng đùng vào sườn tàu thế này làm sao chịu nỗi. Vậy, em hét trước nha!" Nói rồi, tôi hét lên thật lớn, tưởng như tiếng hét của tôi làm bể toang lồng ngực phun máu ra ngoài: "Ai ngu nhất thế giới?  Tôi! Ai nói tháng Ba, bà già đi biển? Nói láo! bây giờ là tháng Ba, trên biển chỉ toàn là gió bão...".

Chồng tôi nhìn tôi cười với cái miệng méo sệch trông thảm não làm sao, anh nói: "Đó là em hét đó hả? chẳng giống tiếng của em hàng ngày chút nào, giống tiếng con vịt cồ quá đi!".

Tôi nhìn chồng tôi và nói: "Vậy là anh chấp nhận trò chơi rồi phải không?".

"Không!", Chồng tôi dứt khoát từ chối.

"Vậy thì chơi trò gì? hay là mình kể chuyện đi"." Tôi đề nghị tiếp.

Chồng tôi vui vẻ: "Đó là sáng kiên tuyệt vời, anh hưởng ứng cả chân lẫn tay".

"Trúng ý anh rồi phải không? anh là chúa mê nghe kể chuyện, nhưng bây giờ người kể chuyện trước phải là anh!".

"Không! anh không chịu, em kể chuyện cho anh nghe đi!".

Tôi nói: "Bộ anh muốn ngồi nghe em đọc truyện như hồi ở Sàigòn sao? ở đây, bây giờ, cả em và anh đều phải kể chuyện, anh không ráng nói mà chỉ ngồi nghe thôi thì làm sao cho tan đi cái lạnh".

- "Ok, nhưng em phải kể trước!"

- "Để cho công bằng thì oẳn tù tì, ai thua thỉ phải kể trước". Tôi nói tiếp: "Mà không được kể về người khác, phải kể về chính mình. Trong đời mình đã từng làm việc gì xấu nhất, tệ nhất, mà chưa bao giờ nói ra, thì hôm nay 'bật mí' ra hết, Ok?"

- "Ok!".

Chúng tôi oẳn tù tì.  Chồng tôi ăn gian, lúc nào cũng ra chậm hơn tôi nên phải làm lại hoài, mà làm lại thi phần thua vẫn về anh. Dù vậy nhưng cũng không chịu kể trước, đòi làm lại nữa.

Tôi nhìn anh, nói khích: "Đã già rồi mà anh còn vậy, chắc lúc nhỏ có nhiều tật xấu, ăn cắp tiền cha mẹ, đánh bài, trốn học, dối cha dối mẹ đủ thứ chuyện phải không!"

- "Ê! đừng có nói ẩu nha, anh không bao giờ ăn cắp, chắc em là người chuyên ăn cắp tiền của cha mẹ để ăn quà. Nhìn cái  cái miệng ăn quà như mỏ két của em thì biết. Cứ suy bụng ta ra bụng người!".

Thấy chồng tôi la bai bải, tôi khoái chí nói: "Lúc nãy em nói mình làm bộ gây lộn thì anh không chịu, bây giờ thấy mồm miệng anh đâu có thua gì mấy mụ bán cá! Nhưng em giao giá trước, khi đấu khẩu chỉ được nói đến bản thân hai đứa, tuyệt đối không được động đến người khác, nhất là cha mẹ. Lúc cãi nhau cứ thoải mái xưng tao tớ mà không được giận".

Chồng tôi nhăn mặt: "Em ăn hiếp anh, xưng tao tớ thì anh lỗ nặng, anh không chịu!".

- "Trong lúc gây lộn thì phải tức giận, mà tức lên thì xưng tao tớ, miễn là đừng mang cha mẹ ra nói là được, chịu chưa?".

Chồng tôi nói ỉu xìu: "Cả đời anh không thích gây lộn, mà gây lộn với em thì anh biết trước mình thua, làm sao cãi lại cái mỏ của em?!".

- "Vậy sao? Bộ oẳn tù tì thua rồi bây giờ anh muốn chạy làng hả?".

- "Ok, anh kể chuyện trước, em hãy tập trung mà nghe cho rõ câu chuyện ác ôn của anh đây nè!". Chồng tôi tằng hắng mấy lần ra vẻ quan trọng lắm rồi mới mở đầu câu chuyện:

- "Từ nhỏ anh đã ít nói, nhưng ít nói thì hay nghịch ngầm, anh chuyên bày ra những trò chơi quái ác, bạn bè trang lứa cùng xóm tôn anh là sư phụ vì những trò nghịch ngợm ác ôn này.

Dân ở quê anh rất mê coi cải lương, mỗi lần có đoàn cải lương nào về diễn là già trẻ, lớn bé, đều đi coi rất đông. Có thể nói nhà cửa thường bị bỏ trống, không có ai chịu ở lại trông coi. Lúc đó anh khoảng 9 hay 10 tuổi, thấy đoàn cải lương về diễn tuồng là anh tập trung mấy đứa trẻ trong xóm lại rồi bày trò phá phách. Tụi anh đi bắt rất nhiều cào cào, châu chấu cho vào bọc phân người, đem tới chỗ đám đông đang tụ tập coi hát rồi thả chúng bay ra tứ tung. Mùi hôi thúi toả ra khắp nơi. Cào cào, châu chấu theo ánh sáng bay lên sân khấu làm cho các diễn viên lo sợ nên phải ngừng hát và bỏ chạy tán loạn. Đến lúc vãng hát thì tụi anh chạy về trước, pha nước vô phân thật loãng rồi vẫy lên cỏ dọc theo lối đi. Ở vùng quê đường mòn nhỏ xíu, cỏ mọc um tùm lấn ra lối đi. Tụi anh cứ đi trước rồi quay lại mà vẫy nước dơ lên cỏ; khi qua cầu khỉ thì quét nước dơ vào tay vịn.

Đêm hôm đó, tất cả những người đi coi cải lương về ai cũng bị dính phân hết, ngay cả hai bà chị của anh cũng chịu chung số phận. Còn cha mẹ anh đi xuồng nên được bình yên vô sự. Đêm đó, hai bà chị của anh chửi rủa quá xá. Cả hai bà kêu anh lại chất vấn, hết dụ ngọt đến doạ nạt, anh nhất định không chịu nhận cha ăn cướp.

Suốt cả tuần sau đó, hết ở nhà rồi lại đến trường, anh bị chất vấn triền miên, rồi lại phải nghe bao nhiêu câu chuyện học làm người ù cả tai. Có điều may mắn là chuyện nghịch ngợm của bọn anh không bị tiết lộ ra ngoài. Cho mãi đến bây giờ cũng chẳng ai biết chính anh là thủ phạm bày ra trò chơi ác ôn đó!."

Tôi nhăn mặt phát gớm cái trò chơi của chồng tôi thời trẻ con, có lẽ ở cái tuổi đó ít có ai chơi trò nào gớm ghiếc hơn trò này!

Về phần tôi:

"Lúc nhỏ tôi có tật khóc dai, không biết dùng từ gì để tả cho đúng cái tật khóc dai của tôi. Nếu tôi muốn cái gì mà không được vừa ý là tôi khóc mãi, khóc hoài, bỏ cả ăn uống. Ba Mẹ tôi rất sợ cái tật khóc dai của tôi. May mắn là tôi được Ba Mẹ cưng chìu nên không bị ăn đòn. Cũng vì tật khóc dai mà cái tên mít ướt nó đã gắn liền với cuộc đời tôi hơn hai mươi năm trời!.

Khi tôi được cho đi học, năm đầu tiên, Ba tôi làm cho tôi một cái bàn, nó xinh xắn và dễ thương làm sao. Tôi ngắm nó mãi ra chiều thích thú lắm. Ba tôi thấy vậy thì hỏi: 'con ưa cái bàn này lắm phải không?'. Tôi trả lời: 'cám ơn Ba, cái bàn này Ba làm đẹp lắm!'. 

Tôi còn muốn có một tấm ảnh Đức Mẹ nữa, Ba tôi chìu tôi ngay, lập tức trên bàn học của tôi có một bức hình Đức Mẹ bồng Chúa Giêsu, và còn có một miếng kiếng để đặt bình bông nữa.

Nhà tôi có một bàn thờ Chúa rất lớn, Mẹ tôi chưng một bình bông hồng bằng lụa. Trên bàn học của tôi cũng có một bông hồng bằng lụa, cắm trong cái bình nhỏ tí xíu, rất dễ thương. Nhưng tôi không muốn bông hồng bằng lụa. Một ngày kia, trên đường đi học về thấy một vườn bông, tôi cố chui vô bẻ bông trộm. Tôi bẻ được một bông thật lớn đang hé nở, nó đẹp làm sao!.

Trong lúc chui rào để ra, tôi bị chó cắn rách quần, rách cả đùi, nếu không có chủ nhà chạy ra thì chắc là nó cắn chết tôi rồi. Vết thương chó cắn máu chảy ròng ròng tôi không lo, nhưng chỉ sợ hư mất cánh bông, nên tôi khư khư giữ chặt cánh bông đi khập khểnh về nhà. Báo hại Ba Mẹ tôi phải đưa tôi đi khắp các ông lang để chạy chữa. Có một ông lang coi cho tôi xong, nói chắc chắn tôi bị chó dại cắn. Ông lấy miếng vải nhúng nước lạnh lau dọc sóng lưng tôi, rồi chỉ cho Mẹ tôi xem vết bầm trên đó, và khẳng định đó là nọc chó dại đang chạy trên lưng tôi. Mẹ tôi khóc quá chừng. Mẹ lo sợ tôi không thể sống nổi.

Mẹ tôi đã mua rất nhiều thuốc của ông lang này, thứ thuốc đen thui, vò viên như cứt chuột. Tôi nhìn mà phát khiếp, nó hôi rình, vậy mà ông lang nói tôi phải uống thuốc đó đủ 100 ngày. Kèm theo với nó, tôi còn phải uống nước nấu từ cỏ xước, thứ nước nhạt nhạt, lờ lợ, rất khó uống. Ba tôi phải vất vả đi kiếm loại cỏ ấy. Mẹ tôi lo chăm sóc tôi thường xuyên. Tôi phải nghỉ học và kiêng cữ đủ thứ. Trời nóng hay lạnh gì cũng phải mang vớ, đi dép, chân tay không được chạm đất.

Sau 100 ngày, tôi khoẻ mạnh. Ba mẹ tôi vui mừng mang tôi đến cho ông lang khám lại lần chót. Ông lang nói tôi đã hoàn toàn khỏi bệnh, nọc độc của chó dại đã bị thuốc tiêu hủy. Ba mẹ tôi mở tiệc ăn mừng, mời bà con họ hàng đông đủ đến dự tiệc mừng tôi thoát chết.

Sau đó, thỉnh thoảng có người bị chó cắn đến hỏi mẹ tôi để xin địa chỉ của ông lang. Mẹ tôi cứ khen ông nức nở, chữa bệnh tài tình, và cứu tôi thoát chết.

Nhưng có một điều mẹ tôi không hề hay biết là tôi đã vất bỏ hết thứ thuốc cứt chuột đó. Mấy lần đầu mẹ cho uống thuốc, tôi ói lên ói xuống vì cái mùi vị đáng sợ của nó. Sau tôi ngoan ngoãn uống đàng hoàng, mẹ rất vui, luôn miệng khen con gái mẹ giỏi.

Mẹ đâu có ngờ là tôi đã đổ hết thuốc vào bên trong áo, chờ cho Mẹ đi khỏi, tôi đem vùi hết vào gốc bụi bông lài trước cửa phòng.

Khi nghe Mẹ tôi khen ông thầy lang nức nở, tôi muốn thú thật cho mẹ biết, nhưng rồi cứ lần lữa mãi cho đến hôm nay.

Thời gian dần trôi, mấy mươi năm trải qua với những biến động và thăng trầm không ngừng của cuộc sống, nhưng dù ở đâu hay bất kỳ lúc nào, mỗi khi nhìn thấy hoa hồng là tôi chợt ngậm ngùi nhớ về Ba Mẹ."

***

 

Bóng ma theo tàu!

Đêm dần trôi trong khi chúng tôi thay phiên nhau kể chuyện, xua đi bớt phần nào cơn lạnh tê tái.

Bây giờ trời đang hừng sáng, đã có thể nhìn thấy đường nên chúng tôi chấm dứt kể chuyện và dời con tàu đi nơi khác. Nhưng ngặt nỗi, máy không nổ. Chồng tôi cứ quay hoài, quay mãi, máy vẫn cứ ì ra, đúng là nó trở lại nguyên hình là một cục sắt vô tri.

Trời đã dần sáng rõ. Trên bờ người đông ơi là đông. Họ lao xao vẫy gọi, la ó đủ kiểu. Lúc này, nước thủy triều xuống thấp nên khoảng cách từ con tàu chúng tôi đến chỗ họ đứng không xa lắm, hai bên có thể nghe được tiếng nói của nhau. Cả đám đông la lớn, bảo  chúng tôi phải dời tàu đi chỗ khác. Họ nói rằng nơi tàu chúng tôi đang đậu nguy hiểm lắm, và họ lại chỉ về vùng biển mà hồi đêm qua họ đã chỉ cho chúng tôi.

Tàu không chạy được, máy hư rồi, tôi bắt tay làm loa ráng hết sức la lớn báo cho họ biết. Lập tức, có hơn chục người đàn ông chạy xuống biển, hấp tấp bơi ra tàu của chúng tôi.  Người Indo họ bơi như cá rái vậy. Sau thủ tục xã giao ngắn gọn, tất cả xúm vào đẩy tàu. Nhìn cảnh đẩy tàu thật nhộn nhịp và cảm động. Thả neo tàu xong xuôi, họ mới nói cho chúng tôi hay nơi tàu đậu hồi nãy là cửa của một con suối lớn, nước suối đổ ra biển theo thủy triều lên xuống.

Cả vùng biển này đâu đâu cũng chỉ toàn là đá, duy có nơi đó đáy biển là cát, nhưng lại là vùng nguy hiểm nhất. Hèn gì, cả đêm qua tàu chúng tôi cứ quay ngang sóng, sóng vỗ đùng đùng hai bên sườn tàu nghe chát cả tai. Bây giờ  mới vỡ lẽ, thì ra nước suối đổ ra biển, mà sóng biển thì lại đánh vô bờ, cho nên mới gây nên trường hợp này.

Dân địa phương kể cho chúng tôi nghe, vùng này năm nào cũng có bão, từ bao ngàn năm không biết, nhưng hết năm này sang năm khác, bão theo định kỳ cứ vào những ngày này mỗi năm, hễ có bão thì có tàu chìm và người chết. Bị thiệt mạng vì bão toàn là những người từ vùng xa đi ngang qua đây, dân địa phương tuyệt đối không đi biển trong mùa bão này. Những ngày có bão chỉ có loại tàu Popo của cảnh sát đi tuần cứu vớt người mà thôi.

Cũng vào ngày này năm trước, có một tàu buôn cá rất lớn đi ngang qua đây, vì gặp bão nên họ đưa tàu vào trú ở đây, tàu họ bị lật ngay chính nơi chúng tôi đậu tàu đêm qua. Mấy hôm sau, xác người và xác cá trôi lềnh bềnh nên cả tháng trời dân trong vùng không ai dám ăn cá.

Đã mấy tuần nay, tin bão được thông báo trên tivi để cảnh báo người đi biển, mà vẫn không tránh khỏi tàu chìm, người chết, vì dọc theo dãy đảo là đường ghe tàu thông thương giữa những hải đảo với nhau. Họ kể rằng, ngày nào thanh niên trai tráng trong vùng cũng ra bãi biển, nếu thấy tàu vô trú thì chỉ cho tàu đi vào dừng ở nơi bớt sóng gió.

Chúng tôi hỏi họ "tại sao đêm qua nhìn thấy chúng tôi đậu tàu nơi đó mà họ không ra cứu chúng tôi?". Họ trả lời: "Lúc mới đầu, họ đã chỉ cho chúng tôi dời tàu đi, nhưng chúng tôi lại dong tàu về lại chỗ cũ, họ xua tay cỡ nào chúng tôi cũng không nghe, cứ thả neo xuống chỗ đó. Rồi mưa ập xuống, nhiều thanh niên muốn bơi ra tàu chúng tôi, nhưng mấy người già nói: "Có lẽ hồn ma cái tàu năm trước rủ rê chúng tôi đi theo, nếu bơi ra cứu thì sẽ chết theo chúng tôi" nên họ sợ không dám ra cứu. Tất cả mọi người nghĩ rằng chúng tôi đã chết đêm qua, sáng nay họ cùng nhau ra biển sớm để coi, ai ngờ chúng tôi vẫn còn sống nhăn.

Lo mọi chuyện cho con tàu xong xuôi, họ bơi vào bờ, tôi cũng cùng họ bơi vào bờ luôn. Lúc tôi vừa kịp tới bờ, thì trời ơi! tất cả những người đàn bà vây quanh lấy tôi, họ ôm tôi mà khóc, chẳng ngại mình mẩy tôi đang ướt nhẹp nước biển. Tình cảnh này chẳng khác nào những người thân gặp lại nhau sau bao nhiêu năm dài xa cách, chứ không phải là người xa lạ mới gặp nhau lần đầu. Thấy họ khóc và tôi cũng khóc theo mùi mẫn.

Họ nói rằng, Thánh ALA đã làm phép lạ cho con tàu của tôi, họ cứ nói vậy mãi và sụt sùi khóc, họ làm cho tôi vô cùng ngạc nhiên. Quả thật, những con người nơi đây rất giàu tình cảm, cái tình chân thật hiếm thấy.

Sau khi biết chúng tôi từ Madura tới đây, họ tròn mắt nhìn tôi: "Chắc phải đưa tin này lên tivi, chúng tôi chưa rtừng thấy chuyện lạ như thế xảy ra bao giờ". Họ nói thêm: "Vùng này tàu đánh cá rất nhiều nhưng không ai dám đi vào trong lòng họng Sumbawa, kể cả lúc bình thường, chứ đừng nói đến những khi trời đang có bão như hôm nay". Họ nhao nhao hỏi: "Chị là đàn bà, ngồi trên tàu nhỏ đi xa như vậy mà không sợ sao? Bộ đàn bà Madura, ai cũng đi ra khơi đánh cá hay sao?".

Tôi cứ đứng trơ mặt, không sao tìm được câu trả lời. Đàn bà Madura thế nào, tôi làm sao biết được! Bản thân tôi chưa hề thấy phụ nữ Madura, tôi chưa một lần đặt chân đến vùng đất đó, tôi chỉ biết điạ danh qua bản đồ mà thôi. Trong chuyến đi này, chúng tôi có lái tàu chạy trong bến cảng Surabaya, thuộc vùng Madura, nhưng chỉ có một đêm duy nhất trên bến cảng. Sau đó, chúng tôi đã chạy băng qua biển sang Java. Nhưng vì tôi không thể nói thật với họ tôi là người Việt Nam, không thích nhà nước độc tài nên đã bỏ xứ đi tìm tự do, nên tôi cũng ậm ừ cho qua chuyện. Họ hỏi về Madura là tôi nói lảng sang chuyện khác.

Người dân ở đây thật tốt bụng, ai cũng giành nhau mời tôi về nhà họ chơi. Một chị kéo tôi lại gần và nói với những người phụ nữ kia: "Inda sẽ đến nhà tôi trước, rồi ngày mai, này mốt sẽ đến nhà các chị". Tất cả  đều đồng ý, lời của chị này được mọi người vui vẻ nghe theo. Tôi thật cảm động trước tình người nơi đây. Nhưng ruột gan tôi đang rối bời vì nghĩ đến cái máy tàu bị hư đang còn nằm dưới biển kia. Tôi cố lựa lời để nói với họ: "Xin cảm ơn lòng tốt của các chị dành cho tôi, nhưng hiện giờ máy tàu của chúng tôi đang hư, xin các chị giúp chỉ đường cho tôi đi mua phụ tùng về để sửa máy. Xong rồi, tôi sẽ đến thăm nhà các chị".

Nghe tôi nói, tất cả mọi người nhao nhao lên: "Nghe kìa, đàn bà Madura không giống đàn bà Indo!". Tôi giật mình hỏi lại: "Tại sao tôi không giống đàn bà Indo?". Họ nói: "Vì ở đây, đàn bà Indo không đi biển, mấy việc đánh cá, kéo lưới là của đàn ông, chúng tôi thấy chị cùng chồng đi biển kéo lưới nên thấy lạ", rồi chị tiếp: "Hiện giờ đang có bão, dân vùng này không ai dám đi xa. Chị nhìn xem kìa, gió đang thổi vù vù. Đây chỉ là gia đoạn mở đầu cơn bão, vài ngày nữa chị sẽ thấy cây đổ, nhà sập, những cây kia bão sẽ bứng gốc không biết lúc nào!".

Tôi nhìn theo tay họ chỉ mà nghi ngờ, mấy hàng cây to lớn, đến mấy vòng tay ôm chưa hết một thân cây, làm sao bão có thể bứng gốc cây to như vậy được. Có lẽ mấy chị này thấy tôi từ xa đến nên hù cho sợ, tôi nghĩ vậy mà không nói ra và cũng không muốn bàn thêm. Tôi nhắc lại một lần nữa, xin các chị chỉ đường cho tôi đi mua đồ sửa máy tàu, rồi sau đó, tôi sẽ ghé đến nhà các chị chơi.

Các chị nhìn tôi, ân cần hỏi máy tàu bị gì vậy?.

- Máy tàu tôi hư tùm lum, bị nứt ống dẫn dầu, khói đóng nghẹt béc, heo dầu cũng bị nứt nhưng đã có đồ sơ cua, nhưng cái béc thì không có phải đi mua cái khác thay thế.

Tôi gắng gượng tìm cách diễn tả, vì tiếng Indo của tôi chỉ có thể dùng để xã giao và đi mua sắm bình thường, còn mấy danh từ máy móc tôi không thể nói được. Tôi cứ lúng ta lúng túng như thợ vụng mất kim, nhưng hình như họ cũng không mấy để ý.

Họ nói: "Muốn đi mua đồ cho máy phải đi lên thành phố cách đây 60 km, lúc này đang có bão, không ai dám đi ra đường sợ bị cây đổ chết người bất cứ lúc nào, chỉ vài ngày nữa thôi chẳng ai còn dám ra bãi biển này vì sợ cây cối bị gió bão thổi sập, đè chết."

Tôi thở dài não nuột, không biết cách gì để đi lên đó mua đồ. Ở đây không có xe bus, mọi người đi bằng xe ôm mà chủ xe không chịu đi trong thời gian có bão, vậy thì tôi cứ hỏi đường cho rõ rồi ráng đi bộ, cứ vừa đi vừa chạy, hy vọng rồi cũng đến nơi. Tôi nói cho mọi người biết ý định này, họ ái ngại nhìn tôi tội nghiệp, rồi họ chép miệng giải thích: "Đây là vùng núi, thành phố cũng trên núi, từ đây đến phố trên 60 km đường núi làm sao mà chị lội bộ nổi. Mà chưa chắc lúc này các shop đã mở cửa, đang có bão có lẽ các shop cũng đóng cửa hết trơn rồi."

Thế là hết phương cách, đành phải bó tay!.

Trước hết, tôi theo chị Haizati về nhà, vừa đi chị vừa giới thiệu, thì ra đây là khu du lịch dành cho người nước ngoài. Chị Haizati tự hào: "Vùng biển này đẹp nhất Indo!"

Điều này, tôi đã công nhận ngay đêm hôm qua,  trong lúc thập phần nguy hiểm tôi vẫn thấy nó đẹp rực rỡ như một cảnh thiên đàng.

Chị Haizati là chủ một khách sạn lớn, có luôn cả một nhà hàng. Mới bước vô nhà chị, tôi đã nhìn thấy ngay hai cái xe hơi bóng loáng, mắt tôi sáng lên mừng rỡ, tôi níu lấy tay chị năn nỉ:

- Chị ơi! chị có thể giúp em đi mua đồ sửa máy tàu được không? Chị Haizati nói rằng chị rất muốn giúp tôi nhưng không thể, vì mấy ngày nay bão nên không cần tài xế, cả hai tài xế đều được cho nghỉ. Còn chị thì không biết lái xe, mà dẫu có lái được đi nữa thì chồng chị cũng nhất định không cho mang xe đi trong những ngày có bão.

Tôi không nhìn vào hai cái xe hơi nữa, mà chuyển sang nhìn mấy chiếc Honda, lòng thầm ước ao: "Giá như giờ này có một chiếc honda thì tôi sẽ lái như bay lên thành phố, mua đồ về cho chồng tôi thay sửa máy tàu. Đành rằng tàu không thể tiếp tục cuộc hành trình trong lúc bão, nhưng biển động gió lớn thế này mà tàu tôi hư máy thì quả là nguy khốn vô cùng, không biết con tàu của chúng tôi sẽ bị lật lúc nào. Tôi biết chồng tôi là dân vùng biển, anh bơi rất giỏi, nhưng tàu mà bị lật trong đêm tối thì chưa chắc chồng tôi bơi nổi vào bờ."

Chị Haizati đãi chúng tôi một bữa mì thập cẩm nhớ đời, có đầy tôm và mực loại ngon, chỉ dành để đãi khách. Chị dẫn tôi đến hồ nuôi tôm, nhìn tôm đang bơi lội mà phát ham, con nào con nấy từ nửa ký trở lên. Chị đưa vợt cho tôi và nói:

- "Em muốn ăn con nào thì bắt, chị mang lên cho bà bếp nấu". Tôi nói:

- "Chị cho em ăn mì được rồi, không cần phải nấu tôm đâu".

Nhưng chị cầm lấy vợt, bắt ngay hai con tôm và nói:

- "Phải ăn mừng thoát chết chứ em!".

Nghe chị nói, tôi cảm động ứa nước mắt. Tôi với chị xa lạ mới gặp nhau lần đầu mà chị đối đãi với tôi như người thân của vậy, y như mừng em gái của mình thoát nạn trở về.

Đưa tôm cho bà đầu bếp xong chị lo cho tôi đi tắm, chị lấy đồ của chị cho tôi thay. Chị Haizati lớn con và cao, mặc đồ của chị tôi đi vấp lên vấp xuống làm cho mấy người trong nhà hàng cũng tức cười. Họ lôi tôi vô bếp sưởi ấm. Ở đây toàn nấu bằng củi, nhà bếp khói um lên.

Trưa nay có hai chiếc tàu buôn gỗ vào đây lánh nạn, họ kể chuyện mà mặt mày họ tái xanh. Họ có cả thảy ba chiếc tàu cùng đi qua dãy Flores, khi vượt họng Flores về đây, một tàu bị bể ngay trước mắt họ, hai cái còn lại ráng chạy thoát vào đây trú. Họ khóc, lo cho người bạn tàu kia không biết có thoát chết không. Khi tàu kia chìm thì 2 tàu này đi đằng sau, vì sợ quá nên 2 tàu này chạy thục mạng không biết người bạn kia có bơi được vô bờ hay bị chìm xuống biển theo tàu. Mọi người bu quanh nghe hai anh chủ tàu chở gỗ kể lể, ai cũng khóc. Tôi khóc thương cho người chủ tàu mới gặp nạn, và khóc cho chính chúng tôi trong hoàn cảnh hôm nay thật vô cùng bi đát!

Buổi chiều, tôi đem cơm về cho chồng tôi, rồi lên tàu và ở lại đó, không trở về nhà chị Haizati. Khi đi, chị Haizati đã dặn tôi phải về nhà chị ngủ, nhưng tôi không thể ngủ yên ấm trong nhà chị trong khi chồng tôi phải sống chết với con tàu. Mọi người không thấy tôi trở về thì ra bãi biển tìm. Họ kêu réo om sòm nhưng tôi nhất quyết ở lại tàu. Lúc này nước đã lên cao, khoảng cách con tàu chúng tôi vô bờ khá xa, nên tôi không thể bơi nổi vô bờ. Mọi người kêu gọi một hồi rồi cuối cùng cũng đi về.

Tôi muốn sống chết cùng với chồng tôi và con tàu, nếu đêm nay tàu chúng tôi bị sóng đánh bể thì vợ chồng tôi cùng chết. Nếu như tàu đã bể, chúng tôi có còn sống cũng vô dụng, vì không biết mình sẽ đi về đâu? Chúng tôi không muốn phải đi xin chính phủ Indo giúp đỡ cho chúng tôi về lại Việt Nam.

Hồi sáng nay, chị Haizati thấy tôi quá lo lắng cho con tàu nên đã nói:

- "Em hơi đâu mà lo! tàu có chìm thì thôi không đi Flores nữa, hai vợ chồng ở lại đây làm việc cho chị, ở đây chị có rất nhiều việc làm".

Chị Haizati không biết chúng tôi là người Việt Nam, nếu biết, chị có dám nhận chúng tôi vào làm hay không.

Suốt cả đêm ngồi trên tàu tôi tức muốn phát điên, chồng tôi la mắng tôi không tiếc lời vì tôi không chịu ngủ lại nhà chị Haizati. Chồng tôi không hề nghĩ rằng, trong gian nguy đồng cam cộng khổ có nhau, tôi không muốn để anh chết một mình, nếu ban đêm tàu bị lật. Nhưng anh cứ mắng la tôi hoài khiến tôi phát khùng lên, thế là trở thành một cuộc gây gổ.

Nhớ lại đêm hôm qua, vì quá lạnh, cả hai vợ chồng run cầm cập, tôi đề nghị giả vờ gây lộn để qua bớt cơn lạnh thì chồng tôi không chịu, nhưng giờ này thì anh la mắng át cả tiếng của tôi. Anh cứ nói mãi không chịu ngừng! Cuối cùng, anh bỏ ra mũi tàu nằm trên đống dây!

Tôi tức quá! phần thì lạnh, phần thì tủi thân và giận chồng. Tôi ngồi co ro, tuy đã quấn hết khăn áo vào người nhưng vẫn không hết lạnh! Suốt ngày hôm nay, tôi đã lo phơi quần áo, bây giờ có quần áo khô mặc cũng đỡ lắm. Nhưng dù đã trùm thêm áo mưa mà tôi vẫn còn run! Tôi thầm cảm ơn chị Haizati đã cho chúng tôi 2 tấm áo mưa. Áo mưa chúng tôi mang theo từ Việt Nam đã bay mất sạch từ lâu. Tàu chúng tôi không có mui mà gió biển thổi đùng đùng nên đã làm bay tất cả tài sản trên tàu, chỉ còn sót lại hai cái mạng sống của chúng tôi thôi. Không biết giờ phút nào 2 cái mạng này sẽ chôn xuống lòng biển lạnh?

      Gió thổi ù ù đến nhức tai, đêm nay gió còn mạnh hơn đêm qua nhiều. Nhưng vì mũi tàu hướng về con sóng nên dẫu tàu có bay bổng theo sóng lên cao, xuống thấp, cũng không gây nên tiếng vỗ đì đùng khó chịu như đêm qua. Nhưng trời lạnh quá, tôi không làm sao ngủ được, cái lạnh thấm vào tận xương.

Tôi đang lạnh run thì chợt nhìn thấy 4 bàn tay đang bám vào thành tàu ngay trước mắt. Tôi sợ muốn líu cả lưỡi nhưng cố sức thét lớn lên. Tôi nghĩ đó là ma. Bởi vì người dân ở đây cho biết, một con tàu đã chìm trong cơn bão và tất tả những người trên tàu đều chết tại đây.

Con tàu bị kéo lệch qua một bên, nghiêng xuống mặt biển, chồng tôi hốt hoảng chạy lại.

***

 

Giữa lòng cơn bão

Khi chồng tôi nhìn kỹ những bàn tay và nhìn xuống bên hông tàu, thì ra không phải ma, mà là hai người chủ tàu buôn gỗ. Sóng đã đánh banh tàu, thế là họ bơi được sang tàu của chúng tôi.

Hai vợ chồng tôi và hai người chủ tàu ngồi co ro trong cơn rét với sự lo lắng hãi hùng, không biết lúc nào sẽ đến lượt tàu mình?! Ai nấy đều chuẩn bị tinh thần, nếu tàu lật thì lập tức nhảy ngay xuống biển. Trong 4 người chỉ có tôi là bơi dở nhất. Ba người đàn ông không lo cho họ mà chỉ lo cho tôi. Hai ông chủ tàu ái ngại nhìn tôi hỏi:

- "Chị có bơi nổi vào bờ không? Trong lúc lâm nguy giữa đêm, chưa chắc mọi người có thể giúp chị được!".

Chồng tôi được thế lại tấu tiếp bản nhạc còn dở dang lúc nãy:

- "Người gì mà cứng đầu cứng cổ, ngủ trong nhà cho yên thân lại không chịu, nhất quyết phải ngủ lại tàu, giờ thì biết làm sao?"

Tôi bực mình quá gắt lên:

- "Chết là cùng chứ gì, mệt quá đi!".

Cả bốn người chúng tôi nhìn sang con tàu bên cạnh, đó là tàu du lịch của Boss, khách sạn Bali. Ông Boss này giàu lắm, khách sạn mở khắp nơi, ông là người Bali nên đặt tên khách sạn của ông là Bali. Con tàu màu trắng mang tên Thompson, hình dáng như một chiếc xe có nhiều cửa kiếng cho khách ngắm cảnh thiên nhiên.

Trên tàu Thompson lúc này không có người. Con tàu được giữ chắc tại chỗ bằng hai cái neo lớn thả xuống biển và hai sợi dây thừng, dòng từ con tàu vào bờ, buộc vào hai thân cây to. Nhưng lúc này con tàu đang ngã nghiêng trên sóng, bị sóng giằng vật, cuối cùng con tàu bị đánh vỡ tan!

Hai vợ chồng tôi cùng hai chủ tàu buôn gỗ nhìn nhau kinh hoàng,  nhắc nhau không được ngủ, có gì là nhảy ngay xuống biển bơi hết sức vào bờ. Sau một đêm thật hãi hùng, một đêm dài khôn tả, may mắn thay tôi lại được thấy bình minh chan hoà trên sóng nước, con tàu bé nhỏ của chúng tôi vẫn còn bềnh bồng trên biển cả.

Hai chủ tàu buôn gỗ khuyên vợ chồng tôi hãy lên bờ. Nếu sau cơn bão tàu còn thì tốt, trường hợp chìm tàu thì đóng chiếc khác, vùng này gỗ rẻ, đóng tàu rất dễ dàng.

Ở trên bờ, người ta lao nhao rộn ràng, những người làm trong nhà hàng chị Haizati cũng có mặt. Họ vẫy gọi chúng tôi lên bờ. Hai chủ tàu buôn gỗ ráng ở lại thuyết phục vợ chồng tôi cùng bơi vô bờ, nhưng sau một hồi thuyết phục một hồi vợ chồng tôi vẫn không nghe. Nản lòng, họ bỏ mặc chúng tôi ở lại, hai người bơi nhanh vào bờ. Gió lớn lại nổi lên đùng đùng, mọi người vội vả chạy về nhà.

Trên biển lúc này chỉ còn lại vợ chồng tôi với con tàu nhỏ bé mong manh. Trời không mưa nhưng gió lớn kinh khủng. Từng đợt sóng liên tiếp chồm lên như những trái núi rồi đổ xuống ầm ầm. Hai chiếc neo của tàu được móc chặt dưới tảng đá lớn dưới đáy biển, dây neo luôn căng thẳng như dây đàn sắp đứt. Sóng gió mỗi lúc một dữ tợn hơn như sẵn sàng lôi tuột con tàu chúng tôi văng đi. Vợ chồng cứ nhìn nhau, mặt mày tái mét. Đôi mắt chồng tôi dán chặt vào hai sợi dây neo, lo lắng không biết nó sẽ đứt lúc nào. Anh chẳng còn lưu tâm đến việc cằn nhằn, mắng mỏ tôi như đêm qua. Suốt đêm hôm qua, chồng tôi mắng tôi là loại cứng đầu hết thuốc chữa, là óc đá tảng, óc đá gan gà, đồ lì lợm khó ưa... Tôi vẫn còn bực tức trong lòng. Bây giờ nhìn mặt chồng tôi rầu rĩ như đưa đám, không còn sức để la mắng tôi được nữa. Giờ phút này, không ai có thể nghe được tiếng nói, dẫu có hét đến bể lồng ngực cũng vô ích, chỉ nghe tiếng gió thổi ào ào.

Tôi nhìn những con sóng dâng lên cao ngất, rồi nhìn lại hai sợi dây neo càng thấy nó mỏng manh quá. Tính mạng chúng tôi như sợi chỉ treo chuông, không biết con tàu sẽ lật lúc nào. Hễ dây neo mà đứt thì con tàu lập tức sẽ bị lộn nhào. Sóng to kiểu này, có sức khoẻ như chồng tôi cũng không bơi vào bờ nổi, nói chi đến tôi, chỉ bị một đợt sóng dập cho là chết chìm ngay.

Nhìn lên bờ, cây cối đang ngã nghiêng, vật vã trong cơn gió. Những cành cây oằn lả mình, rạp xuống và xoay xoắn qua lại như những vũ công đang vặn vẹo, nhảy múa trên sân khấu. Những thân cây oằn oại như muốn trốc gốc lên để bay theo chiều gió. Nhìn hàng cây nghiêng ngã, quay cuồng trong bão lốc, tôi thấy chóng cả mặt. Mới hôm qua, nghe dân ở đây nói trong cơn bão sẽ có cây đổ, nhà sập, tôi cứ nghĩ rằng họ chỉ muốn dọa để mình phải sợ, giờ này tôi biết người ta đã không nói sai chút nào. Một sự thật rõ ràng đang diễn ra trước mắt tôi, sự thật kinh hoàng, biển gầm, gió hú như tiếng gọi của những oan hồn từ đáy âm ty, địa ngục. Xung quanh tôi bao trùm một màu tang tóc của sự chết.

Người ta vẫn gọi cơn điên của gió là "bão" thật chẳng sai chút nào. Cơn gió này quả thật hung dữ, nó gào thét suốt ngày không nghỉ. Bãi biển vắng tanh không một bóng người, giữa biển trời vần vũ chỉ có con tàu nhỏ bé và vợ chồng tôi.

Vào buổi chiều, gió thổi chậm lại một chút, không còn nghe tiếng rú. Có hai thanh niên xuống bãi biển và bơi ra tàu chúng tôi. Họ nói, chị Haizati nhờ họ bơi ra đây kêu chúng tôi lên bờ ngay. Chồng tôi nhất quyết sống chết với tàu, nhưng anh lại bắt tôi phải lên bờ cho bằng được. Anh dọa nạt dữ dội quá làm cho tôi phải rời tàu.

Lên đến bờ, tôi quay nhìn con tàu mà khóc. Suốt từ đêm hôm qua đến bây giờ, ngồi dưới tàu với sóng gầm, gió hú, có thể chết bất cứ lúc nào, thế mà tôi không khóc. Đến giờ này bước lên đây, một nơi an toàn mà nước mắt tôi cứ tuôn trào. Tôi lo sợ, không biết chồng tôi và con tàu nhỏ chịu được đến bao giờ. Thời gian sống chết  không phải tính bằng ngày hay bằng đêm, mà phải tính từng giây từng phút một. Tôi chỉ còn biết phó dâng, trông cậy nơi Chúa mà thôi.

Khi vào đến nhà hàng, tôi không muốn khóc, không muốn để cho mọi người nhìn thấy nỗi lo lắng trên mặt mình. Nhà hàng lúc này đang là giờ đông khách. Tôi cố gắng ra sức làm việc, dù mọi người không cho tôi làm nhưng tôi cũng kiếm ra việc để làm. Tôi đi rửa chén dĩa.

Trời ơi! cả một núi chén dĩa! Tôi và một cô gái nữa rửa liên tục cho đến một giờ đêm mới xong. Sau đó, mọi người cùng nhau ăn đêm rồi đi ngủ. Chị Haizati cho tôi ngủ riêng một phòng ở khách sạn nhưng tôi từ chối, xin được ngủ chung với hai cô người làm. Ba người lớn và một cậu bé con ngủ chung một chiếc giường. Suốt đêm, tôi chỉ nằm nghiêng một phía, không trở mình được.

Đêm hôm trước tôi đã nghe người làm ở đây nói về chị Haizati. Ai cũng có vẻ thương và quí chị, họ luôn nói những lời tốt đẹp về chị. Chị Haizati là người có đạo đức, chị luôn giúp đỡ những người gặp hoạn nạn. Bao nhiêu vụ tàu gặp bão tấp vô đây đều được chị giúp đỡ. Chị lấy chồng là một người Pháp, ông này đi sang đây du lịch, kết hôn với chị và chọn nơi này làm quê hương đã hơn 20 năm rồi. Hai người thỉnh thoảng cũng trở về Pháp thăm gia đình, nhưng có một điều không vui là hai người cho đến giờ này vẫn chưa có con.

Sáng hôm nay tôi được gặp ông chủ, ông ta là người rất vui vẻ, bình dân. Ông bảo tôi đừng rửa chén, hãy tập nấu ăn. Ở đây có 5 bà bếp, tôi muốn theo bà nào học cũng được. Ông chủ cùng ăn sáng với mọi người. Ông ta ăn bốc cũng hệt như người Indo vậy, không biết ông ấy có theo đạo Muslim hay không?

Mọi người thay nhau nhắc nhở tôi không được chạy ra biển vì họ sợ cây đổ đè chết. Đường ra biển phải đi qua những hàng cây khá dài, giờ này không còn ai dám mon men ra biển nữa. Việc đưa cơm cho chồng tôi do con trai của bà nấu bếp đảm trách, nó bơi giỏi nhứ rái cá vậy. Chờ lúc gió dịu xuống là nó mang cơm ra, mang một lần ăn nguyên ngày. Như vậy là tốt lắm rồi.

Thật ra, tôi không mấy lo chuyện ăn uống, vì dưới tàu có sẵn mì gói, có bánh, cần thì ăn tạm cũng được. Tôi chỉ lo cho cái máy tàu đã hư. Trong cơn bão lớn thế này chồng tôi có thể gặp nguy bất kỳ lúc nào. Tôi lo quá nên cứ liều, hễ không có ai để ý là tôi phóng ngay ra bãi biển, nhìn con tàu một chút rồi đi thất thểu trở về. Tôi không thể bơi ra tàu được, vì khi nước ròng chồng tôi đã chống sào đưa con tàu đậu tuốt ngoài xa. Chồng tôi sợ sóng trong bờ, vì sóng bờ ở vùng này lớn gấp mấy lần sóng ngoài khơi. Tôi biết chồng tôi chỉ lo cho sinh mạng của con tàu mà thôi. Nếu đậu tàu gần bờ, lỡ bị lật còn có thể bơi vào được, nhưng đậu ngoài khơi như thế thì khi gặp nạn biết phải làm sao. Chồng tôi đã chấp nhận chết nếu rủi ro gặp nạn. Vì tàu đậu quá xa như vậy nên cậu con trai của bà bếp cũng không thể nào mang cơm ra được.

Bà bếp và mọi người hỏi, tại sao chồng tôi lại đậu tàu xa như vậy? Nếu lật tàu là sẽ chết ngay, không thể bơi nổi vào bờ, dân ở đây không ai dám bơi xa như thế. Họ nói, chồng tôi quí cái tàu hơn mạng người.

Tôi không biết phải trả lời làm sao, nhưng mấy hôm nay con bà bếp không còn mang cơm ra biển cho chồng tôi được thì, trong nhà bếp mọi người coi bộ yên tâm hơn. Mấy ngày trước, những lúc thấy gió dịu xuống, thì những người trong bếp nhao nhao lên, kêu thằng nhỏ mang cơm đi ra biển. Thằng nhỏ ra đi, chạy như tên bắn. Ở nhà bà bếp bỏ cả việc nấu ăn, ra sân đứng chờ con. Lâu quá mà nó chưa thấy về, cả nhà bếp nhốn nháo, lo lắng. Tôi cũng lo sợ vô cùng, nếu chẳng may có chuyện gì xảy ra cho thằng nhỏ thì tôi không biết phải làm sao? Có đập đầu vào tường mà chết cũng không tạ lỗi được với họ.

Mấy hôm nay, mọi người trong bếp không còn chú ý nhìn gió để mang cơm đi, không còn cảnh nháo nhác trông chờ thằng nhỏ trở về, chỉ còn mỗi mình tôi luôn âm thầm lo lắng. Chị Haizati nhắc mọi người phải canh chừng không cho tôi đi ra biển. Nhưng trong nhà hàng đông khách, và ai cũng bận rộn, thừa lúc mọi người lo công việc, lơ là chẳng để ý, tôi chạy bay ra biển ngay. Tôi luôn sống trong tâm trạng lo lắng và khổ sở.

Chiều nay, đám thanh niên khiêng vào nhà chị Haizati hai người bị nạn. Một người bị gãy xương vai, nằm nhắm mắt rên hừ hừ, cái xương gãy lòi ra ngoài nhìn thấy mà ghê. Chị Haizati đốc thúc mọi người lo săn sóc cho nạn nhân, mang cơm hay cháo ra cho họ nhưng anh ta không ăn được. Cái miệng anh như bị dính chặt không thể mở ra được, cố banh miệng đút cơm và đồ ăn vô, nhưng đút bao nhiêu thì nó cứ trào ra bấy nhiêu. Tôi mang sữa đến đút cho uống, anh ta cũng không nuốt vô được. Đám thanh niên trẻ tuổi nhưng họ rất tốt bụng. Khi tôi mang nước ấm đến, họ giành lấy rồi lau cho người bị nạn, họ thay áo quần cho anh ta. Nhìn anh vô cùng thảm thương và tội nghiệp!

Người kia thì máu me đầy mặt và mình mẩy, nhưng anh này coi vậy mà tỉnh táo hơn. Khiêng vô nhà xong, anh đã khập khiểng đi lại được và anh bắt đầu khóc sướt mướt. Anh vừa khóc vừa kể: tàu anh ta từ Sumatra đi ngang qua đây, trên tàu tất cả là 16 người, khi tàu bị sóng đánh chìm, anh đã ráng hết sức bơi vào bờ, thân thể bị đá cắt máu me cùng mình. Rồi anh khóc nước nở như một đứa trẻ. Nhìn anh thật tội nghiệp! Người ta mang quần áo cho anh thay, nhưng anh cứ ôm khư khư như kẻ mất hồn, không chịu thay quần áo. Cơm mang đến anh cũng không ăn, cầm trên tay run rẫy một hồi và làm đổ ra sàn nhà. Anh cứ khóc mãi, hết khóc thì lại ngồi bó gối nhìn mọi người mà thần trí như lạc ở đâu đâu.

Ông chủ đến xem xét vết thương của người bị nạn, rồi đốc thúc đám thanh niên khiêng anh gãy vai kia đi ngay đến bệnh viện. Tôi nhìn theo đám người đang khiêng nạn nhân đi mà lòng xót xa tuôn nước mắt. Nghĩ đến chồng tôi đang còn dưới biển lại càng lo sợ hơn. Tôi chạy ngay ra bờ biển và nhìn thấy con tàu vẫn còn đang bay bổng, nhấp nhô trên sóng.

Chiều nay, cái cây ở phía sau nhà kho của chị Haizati bị tróc gốc và đổ xuống. Gốc cây to bằng hai vòng tay ôm, còn đang xanh tốt mà bị đổ nhào cái rầm như trời sập, sau cơn bão. Cả nhà bếp tất cả đều nhốn nháo chạy ra xem có ai bị nạn không. Cũng may, không có ai đưng gần đó.  Chị Haizati chỉ vào cái cây nói: Inda hãy nhìn cái cây này, đừng trốn ra biển nữa. Như cây này mà đổ đè lên người thì người sẽ nát ra như tương. Chị nói "hãy ráng chịu đựng một tuần lễ nữa, vì cơn bão sắp hết rồi. Sau một tuần em sẽ được ra biển thoải mái, không lo sợ gì nữa".

Tôi nhìn những ngọn cây đang còn vật vã trong cơn bão, gió rít bên tai ầm ầm, nên ngạc nhiên tôi hỏi chị:

- "Sao chị biết một tuần nữa là hết bão?" 

- "A, chị sinh ra và lớn lên ở đây từ bao nhiêu năm rồi! Mỗi năm cứ đúng ngày, đúng tháng là bão đến, nó hoành hành khoảng một tháng hoặc 40 ngày rồi ngưng". Chị nói tiếp:

- "Tuy bão chỉ trong vòng hơn một tháng và biết trước, nhưng năm nào cũng có tàu chìm, người chết. Vì vậy, ngay trong cơn bão mà nhìn thấy vợ chồng tôi trên chiếc tàu nhỏ băng qua lòng họng sang đây, mọi người đều cho đó là một phép lạ".

Quả thật, chúng tôi đã may mắn! Có lẽ Thiên Chúa đã che chở cho chúng tôi.

***

 

Một cuộc đấu trí căng thẳng

Gió nay đã bớt nhiều, tôi được tự do ra biển. Chồng tôi còn sống và con tàu tôi vẫn còn nguyên vẹn. Chị Haizati nói:

- "Quả là một phép lạ, có bốn chiếc tàu trú cùng một chỗ mà hai tàu buôn gỗ và chiếc tàu du lịch Thompson đã tan tành, duy chỉ con tàu chúng tôi sống sót, lại là con tàu nhỏ nhất mà máy đang bị hư".

Tôi mang cho chồng tôi nhiều đồ ăn nóng tự tay tôi nấu. Tôi còn lấy nguyên một rổ đầu, cổ và chân gà chiên cho anh ăn. Trong nhà hàng ngày nào cũng chiên một rổ lớn đầu cổ và chân gà, suốt từ sáng đến tối ăn không hết. Tôi chỉ muốn đem đi một ít cho chồng tôi ăn, nhưng bà bếp trút hết cho tôi nguyên cả rổ.

Vì gió đã dịu xuống rất nhiều nên chồng tôi chờ nước ròng đã cho tàu vô gần bờ, nhờ vậy, tôi bơi ra dễ dàng, lên được tàu tôi mừng vui khôn tả. Tôi ôm chồng tôi và khóc mùi mẫn! Anh bị sóng to gió lớn làm điếc cả hai tai, không còn nghe gì được cả, mặc dù tôi hét thật lớn anh tôi cũng không thể nghe được. Tôi phải nói chuyện với chồng tôi bằng cách ra dấu như người câm.

Tuy bão đã ngớt hẳn, nhưng chị Haizati vẫn chưa đi mua đồ sửa máy tàu cho chúng tôi. Xe ôm trở lại tấp nập ở cửa các khách sạn. Tôi muốn mướn một xe chở tôi lên thành phố, nhưng họ lại không chịu đi lúc này, vì sợ trong lúc bão những cây bị ngã ngang trên đường chưa được dọn dẹp. Chồng tôi đề nghị "bớt bão rồi, chờ vài ngày nữa đi mua đồ về sửa máy cũng được".

Chiều hôm qua, police đến nhà hàng của chị Haizati gọi tôi lên hỏi KTB (giấy căn cước). Tôi nói với họ là KTB của chúng tôi bị mất dưới biển. Họ hỏi tôi mấy câu ngắn đơn giản rồi đi. Tưởng vậy là xong, không ngờ, sáng sớm hôm nay họ trở lại, đòi vợ chồng tôi đến đồn cảnh sát. Tôi năn nỉ van xin, chị Haizati và mọi người cũng xúm lại xin dùm chúng tôi, nhưng police vẫn một mực phải dẫn vợ chồng tôi về bót. Cuối cùng, tôi xin cho chồng tôi được ở lại để coi tàu, một mình tôi đến bót, họ cũng nhất định không chịu.

Nhóm police dẫn tôi ra biển, một ở lại giữ tôi trên bờ, hai người police bơi ra tàu. Họ khám xét tàu xong rồi cùng chồng tôi bơi vào bờ. Dọc đường đến đồn, vợ chồng tôi nhìn nhau chết lặng, muốn khóc cũng không sao khóc được.

Trời ơi! chúng tôi đã đi qua bao cửa địa ngục hiểm nguy dưới biển nay lại chịu chết đứng trên đất liền. Đầu óc rối bời trong lo sợ. Vợ chồng muốn bàn bạc với nhau cũng không được, vì chồng tôi đang điếc mà police thì ngồi kè bên cạnh. Lợi dụng lúc police xuống đường mua thuốc hút, tôi vội nói với chồng tôi:

- Dù hoàn cảnh có tệ đến đâu cũng không được nhận mình là người Việt Nam. Còn nước còn tát, hết nước thì tát sình. Để cho chắc ăn, tôi lấy bút, viết vào lòng bàn tay để chồng tôi nhìn chữ cho nhớ, không được nói tiếng Việt, không nhận mình là người Việt.

- OK, chồng tôi xem và gật gật đầu.

Xe đưa chúng tôi tới đồn cảnh sát, cách nơi tàu chúng tôi đang neo khoảng 10km. Thủ tục đầu tiên là viết bản tự khai. Vì chúng tôi nói không biết chữ nên một người police vừa hỏi vừa ghi dùm luôn. Người police này còn rất trẻ, chỉ vào khoảng 20 tuổi. Cậu ta vui vẻ giới thiệu và nói:

- "Tôi còn trẻ, chỉ bằng tuổi con cái của baba, Ibụ (ba mẹ) mà thôi."

 Ở xứ Indo này người dân tỏ sự tôn trọng nhau trong cách xưng hô. Trai gái đã có gia đình rồi đều được gọi là baba, Ibụ.

Cậu police trẻ trấn an chúng tôi:

- "Baba, Ibụ đừng sợ, chúng tôi chỉ mời Baba, Ibụ đến đây hỏi địa chỉ, quê quán. Sau khi xong rồi, chúng tôi sẽ chở Baba, Ibụ trở về. Cậu cũng giải thích, police chỉ làm phận sự cứu giúp người gặp nạn mà thôi, ngoài ra không có ý làm gì phiền hà đến ai hết.

Dù cố gắng bình tĩnh nghe police nói, nhưng trong lòng chúng tôi cứ đánh lôtô. Lâu nay, chúng tôi vẫn lên nhà dân chơi, mới đầu thì sợ, sau cũng thấy quen dần không còn sợ nữa. Nhưng nói chuyện với dân thì khác, họ đâu có bao giờ hỏi chúng tôi số nhà, làng xã làm chi. Nếu có hỏi chăng thì trong lúc trò chuyện làm quen hỏi để cho có vậy thôi, chúng tôi muốn trả lời sao cũng được. Nhưng ở đây là đồn cảnh sát, phải khai báo rõ ràng bằng giấy trắng mực đen, lấy đâu ra tên làng, tên xã để mà khai. Phen này thì chết chắc rồi!

- Bây giờ bắt đầu được chưa Baba, Ibụ?

Tiếng cậu police thật nhẹ nhàng mà khi chúng tôi nghe như bị điện giật. Cuộc đấu trí này thật gây go còn hơn cả vật lộn với tử thần trong lòng họng Sumbawa.

- Bây giờ tôi hỏi ai trước, Baba hay Ibụ?

Tôi nhanh nhẩu trả lời: hỏi tôi trước.

- OK, tên Ibụ là gì?

- Tôi tên là Inda.

- Tên Baba của Ibụ?

- Tên Baba của tôi là Mama.

- Tên Ibu của Ibụ?

- Enda.

- Ibụ có mấy anh chị em?

- Tôi không có anh chị em nào hết.

- Ibụ từ đâu tới?

- Tôi tới từ Madura.

- Ibụ đọc cho tôi viết địa chỉ quê quán của Ibụ, làng, xã, huyện?

Mắt tôi hoa lên, tim đập mạnh trong lồng ngực.

- Nơi tôi ở tên là Timor.

- Nhà Ibụ số mấy?

- Nhà tôi không có số.

- Tên làng?

- Timor.

- Tên xã?

- Timor

- Tên huyện?

- Timor.

Cậu police ngừng viết, ngẩng lên hỏi:

- Sao kỳ vậy? Sao tên cái gì cũng Timor hết ráo vậy?

- Vì nơi tôi ở là một đảo nhỏ.

Tôi ráng trả lời bằng tất cả sự cố gắng, gan lì.

- Vậy tên cái đảo Ibu đang ở, là gì vậy?

- Tên đảo đó là Timor.

Cậu police đặt bút xuống bàn, nhìn chúng tôi và nghĩ ngợi điều gì không rõ. Một lúc sau, cậu ta cầm lại cây viết và nói: Bây giờ đến phiên Baba.

Phần hỏi chồng tôi thật khó khăn vì chồng tôi đang điếc đặc. Nói với người điếc lại không biết chữ thì chẳng khác gì nói chuyện với đầu gối. Nhưng cậu police này quả là người tử tế và dễ chịu, cậu ta lặp đi lặp lại hoài cho đến khi nào chồng tôi hiểu được mới thôi.

- Tên Ba của tôi là Vang Vang.

Ngay lập tức, chồng tôi quay sang phía tôi, thì thầm: nhớ dùm anh, tên Ba là Vang Vang.  Nghe anh ấy nói tiếng Việt, tôi hoảng hồn nhắc ngay: - Ta bi lang vi (không nói tiếng Việt)!

Nhưng vì tai chồng tôi đang còn điếc nên anh chưa nghe biết được tôi nói gì thì cậu police đã nghe được cả rồi.

Cậu ta hỏi tôi:

- Hai người nói gì mà tôi không hiểu?

Có lẽ cậu ta nghĩ rằng chồng tôi đã đọc cho cậu ta ghi điều gì đó mà cậu không nghe rõ, nên hỏi lại.

Tôi lúng túng nói lãng đi: chồng tôi bị điếc không nghe được.

Câu trả lời của tôi lạc đề nhưng cậu police cũng bỏ qua. Cậu ta nhìn tôi, ái ngại:

- Baba bị điếc lâu chưa?

Tôi trả lời:

- Cũng mới trong cơn bão này thôi. Suốt trong cơn bão, chồng tôi ngồi dưới tàu, gió thổi ù ù làm cho điếc tai.

- Tội nghiệp quá! Cậu ta chép miệng nói.

Thấy cậu police trẻ vui vẻ và thân thiện, tôi liền bắt chuyện để khỏa lấp sự căng thẳng.

- Anh là người vùng này?

- Không, tôi là người Sumatra. Cậu vui vẻ trả lời.

- Có vợ con gì chưa?

- Chưa, tôi chưa có vợ. Mới có 21 tuổi, còn trẻ mà!...

Thấy nói chuyện vui vẻ, tôi liền năn nỉ xin cậu ta cho chúng tôi trở về coi tàu. Hiện giờ, con tàu chúng tôi đang bị hư máy, không thể không có người trông coi. Chúng tôi ngồi đây mà trong lòng như bị lửa đốt, tài sản của chúng tôi duy nhất chỉ có được con tàu ấy...

Tôi cố van xin thật tha thiết.

Cậu police nói nhẹ nhàng:

- "Tôi chỉ làm theo lệnh cấp trên, tôi không dám tự quyền để hai người trở về. Nhưng hai người yên tâm, sau khi làm bản khai rồi là hai người ra về thôi. Trong mùa bão này, rất nhiều tàu đi qua đây bị nạn, police phải kiểm tra giấy tờ và có trách nhiệm cứu giúp".

- Chúng tôi không cần cứu giúp gì cả, chỉ xin cho chúng tôi trở về coi tàu mà thôi, vì đi lâu như thế này, chúng tôi rất lo lắng cho con tàu.

- Xin hai người đừng buồn. Tôi chỉ là lính, tôi không thể tự ý để hai người về được. Thôi bây giờ tiếp tục làm bản khai nhá. Cậu police nhắc chúng tôi.

Chúng tôi nhìn nhau thở dài áo não. Tôi lại sợ chồng tôi nói tiếng Việt nữa, giấu đầu sẽ lòi đuôi, nhưng biết làm cách nào để nhắc chồng tôi khi tai của Anh đang điếc đặc. Tôi lúng túng không yên như gà vướng phải tóc. Chợt nhớ ra trong lòng bàn tay có viết mấy chữ, khi hai vợ chồng ngồi trên xe cảnh sát đến đây. Mừng quá, lọi dụng lức cậu police cúi xuống đọc lại bản tự khai, tôi liền xoè bàn tay ra cho chồng tôi đọc.

Tiếp tục cuộc phỏng vấn, cậu police làm việc rất nghiêm chỉnh và kiên nhẫn:

- Tên mẹ tôi là Lang Lang

- Baba có mấy anh chị em?

- Tôi không có anh chị em.

Cậu ta ngẩng lên nhìn vào mặt chồng tôi:

- Hôm qua, Ibu nói với chúng tôi, hai người đi tìm em ở Flores mà!

- A, đứng rồi, chúng tôi có em ở Flores.

Chồng tôi hết sức lúng túng khi trả lời. Nói dối thì không lòi đầu cũng lòi đuôi.

- Người đó là trai hay gái?

- Là trai.

- Tên là gì?

- Van Van.

Chồng tôi trả lời cụt ngủn.  Chợt cậu ta bật cười, cười quá như điên. Dứt trận cười, cậu ta nói:

- "Hai người làm cho tôi mắc cười quá đi, tôi chưa bao giờ nghe thấy những cái tên mà hai người mới khai.

- Rồi, bây giờ đến địa chỉ, nơi cư ngụ của Baba. Cậu ta nghiêm chỉnh trở lại.

Tôi trả lời thay cho chồng tôi:

- Chúng tôi cùng ở chung một hòn đảo. Có nghĩa là không có số nhà, không tên làng, tên xã.

Lập tức cậu ta hỏi luôn:

- Vậy, còn tên và địa chỉ của em trai ở Flores, hai người nói cho tôi ghi vô.

- Tôi không biết địa chỉ.

- Không biết địa chỉ làm sao tìm được nhà?

- Chúng tôi đi theo bản đồ.

Cậu police nhanh nhẹn:

- Vậy tôi đi lấy bản đồ.

Chỉ trong vài phút, bản đồ được mang tới. Cậu ta nói hãy chỉ nơi nào là Flores. Điều này dễ ợt. Tôi chỉ ngay vào dãy Flores trên bản đồ.

- Vậy người em của Baba ở khúc nào?

- Ở đây này. Chồng tôi chỉ ngay vào khúc giữa dãy đảo Flores.

- Vậy khi đến Flores, hai người làm cách nào tìm được nhà của người em?

- Nhà em tôi ở ven biển, vừa đi chúng tôi vừa hỏi thăm.

Lúc này, cậu police không còn hỏi thêm. Im lặng một lúc, cậu ta nói:

- "Tôi biết hai người không phải là người Indo, hai người từ đâu tới cứ nói thật đi".

Tôi khẳng định ngay, chúng tôi chính thật là người Indo.

Cậu ta nói: Người Indo mà hai người không biết tên làng, tên xã nơi mình ở, và cuộc đi thăm người em của hai người rất mơ hồ. Cái dãy Flores dài như vậy, nó là mấy chục hòn đảo mà hai người không có địa chỉ người em thì làm sao mà tìm được nhà? Một điều lạ nữa là những cái tên trong gia đình hai người, tôi chưa bao giờ nghe thấy. Rồi cậu nhìn vào bản khai đọc lớn:

- Vang Vang, Lang Lang, Van Van... Cái giọng của cậu ta đọc cũng làm cho tôi nghe mắc cười quá. Nếu vào lúc bình thường thì tôi sẽ bò ra mà cười, nhưng lúc này thì không cười nổi.

Gặng hỏi chúng tôi thêm một hồi không thấy có kết quả, cậu ta bước ra khỏi phòng, và ba đồng nghiệp của cậu ta bước vào tiếp tục cuộc phỏng vấn.

Ba người police này khác hẳn với cậu police vừa rồi, cả ba rất khó chịu. Khi hỏi chúng tôi thì có thái độ hách dịch, mặt khinh khỉnh. Nhưng hỏi gì thì hỏi, vợ chồng tôi vẫn cứ khai y như cũ. Chồng tôi bị gió làm ù tai, phải nói thật lớn chồng tôi mới nghe được. Nhưng vì thái độ hách dịch của ba người police này, chồng tôi hoảng sợ quá nên điếc luôn, cứ ú ớ như người câm. Phần tôi, sợ quá chỉ còn biết khóc.

Hỏi mãi cũng chẳng có gì mới, ba police này chán nản bỏ ra ngoài. Lúc này, tôi chẳng còn năn nỉ, cũng klhông thèm hỏi bao giờ mới thả chúng tôi về.

Cậu police trẻ lại đi vô nói cho vợ chồng tôi biết, chúng tôi ngồi ở đó chờ xếp của cậu ta đến.

Trong khi chờ đợi, họ cho chúng tôi ăn cơm, không phải cơm tù mà là cơm tiệm đàng hoàng. Tôi nhìn hai phần cơm mà ngạc nhiên: cơm gà chiên, rau xào còn nóng hổi. Có nước suối uống tráng miệng thật đầy đủ.

Khoảng hơn hai giờ chiều thì xếp police tới. Tôi nhìn ông ta không có dáng vẻ gì là một police. Ông ta trông giống như một thương gia hay một nhà ngoại giao, với thân hình to, cao, khuôn mặt vui vẻ, sáng rỡ. Đặc biệt, ông có nước da thật trắng, không như người Indo. Có lẽ ông là người Tàu.

Sau màn giới thiệu, ông ngồi xuống chăm chú đọc tờ khai của chúng tôi. Ông nhìn chúng tôi một hồi, rồi hỏi:

- "Nếu tôi muốn liên lạc về địa phương của anh chị, thì liên lạc bằng cách nào?

- Thư, chúng tôi chỉ biết một cách liên lạc bằng thư. Tôi trả lời.

Ông ta ngẫm nghĩ rồi nói rất chậm:

- "Vậy, trong khi chờ xác minh, chúng tôi sẽ giữ anh chị ở lại đây".

Lời ông ta nói như tiếng sét nổ bên tai, tôi ráng hết sức bình tĩnh để nói:

- "Thưa, vậy còn tàu của chúng tôi?".

Ông ta nói:

- "Anh chị đừng lo, nếu đã giữ anh chị thì chúng tôi phải lo cho con tàu. Chúng tôi sẽ đưa tàu lên bờ, máy móc mang gửi vào khu nhà gần đó, tài sản của anh chị sẽ không mất một món nào. Sau khi xác định được nguồn gốc của anh chị, chúng tôi sẽ hoàn trả lại anh chị đầy đủ".

***

 

Tia hy vọng sau cùng

Vợ chồng tôi cảm thấy thật đau khổ, tôi run run nói:

- "Thưa ông, sao ông lại bắt chúng tôi? chúng tôi chỉ đến đây trú bão, nếu ông không cho chúng tôi trú lại đây nữa thì chúng tôi sẽ ra đi. Xin ông cho chúng tôi về".

Chồng tôi tiếp lời:

- "Vợ chồng tôi chỉ có duy nhất con tàu này là tài sản, xin cho chúng tôi về coi tàu, vì tàu chúng tôi đang bị hư máy, không có ai coi sóc sóng sẽ đánh bể tàu".

Cả hai chúng tôi vừa khóc vừa van xin thật thảm thiết.

Xếp police ôn tồn giải thích:

- "Anh chị trú bão ở đây một tháng, một năm, cũng không hề gì. Nhưng anh chị phải có KTB để lỡ sau khi anh chị chết, chúng tôi biết địa chỉ để báo cho thân nhân của anh chị".

Câu nói của xếp police làm cho tôi tức muốn lộn ruột. Người đang còn sống ngồi đây mà ông ta cứ nới y như mình sắp chết đến nơi rồi. Tôi nổi sùng lên, tuy sợ nhưng hoá liều thành hết biết sợ luôn. Tôi nói:

- "Thưa ông, tôi phản đối sự giam giữ này!".

Ông ta nhìn lom lom vào mặt tôi mà không tỏ vẻ gì là giận dữ hay khó chịu. Rồi ông ta hỏi:

- "Có thật anh chị là người Indo không?".

- Thưa ông, tôi đúng là người Indo! tôi đáp một cách quả quyết.

- Ông ta hỏi tiếp:

- Tại sao nơi chị ở lại không có tên?

- Tôi đáp lại cứng cõi:

- "Thưa ông, nơi tôi ở có tên là Timor.

- Tại sao chị không biết chữ?

Trời đất, cái ông này hỏi mới ngộ làm sao, ở đảo nhỏ làm gì có được trường mà đi học để biết chữ. Không do dự, tôi nói ngay:

- "Thưa ông, tôi không biết chữ vì tôi không được đi học".

- Tại sao? Tại sao?. Ông ta hỏi tới tấp.

- Vì nhà tôi nghèo, và đảo tôi không có trường học.

- Vậy chị có biết viết chữ nào không?

- Thưa có, tôi viết được tên tôi.

Lập tức. ông ta chuyền ngay giấy bút đến trước mặt tôi.

- Chị viết tên chị vào đây.

Tôi cầm bút viết ngay chữ INDA to như nắm tay.

- Tại sao đảo chị ở không có tên xóm làng chi hết?

- Tôi không biết.

- Vậy ở đó có bao nhiêu nóc nhà?

- Khoảng 50 nóc nhà. Tôi trả lời đại.

- Họ làm gì để sống?

- Tất cả đều theo nghề đánh cá.

- Tại sao gia đình chị có những cái tên không giống tên Indo?

Im lặng một hồi, rồi ông ta hỏi tiếp:

- Nơi đảo chị ở có bao nhiêu police? và tên họ là gì?

- Đảo tôi ở không có police.

Ông ta ngừng hỏi và nhìn chăm chăm vào mặt vợ chồng tôi, rồi ông phán:

- "Chúng tôi bắt buộc phải giữ anh chị lại, đưa lên thành phố giao cho big boss của chúng tôi, vì chúng tôi không thể giải quyết được chuyện này.

Câu nói này của xếp police chẳng khác nào lưỡi dao của đao phủ thủ chém phập vào cổ tử tội. Sau câu phán chết người ấy, ông ta đứng lên chuẩn bị ra xe đi về. Trước khi đi, ông nói thêm một câu an ủi:

- "Xin lỗi, thật đáng tiếc!' .

Rồi ông bước đi bình thản, nhẹ nhàng như trút xong được một gánh nặng.

Phần vợ chồng tôi thì ngồi chết trân như tượng gỗ. Thế là hết! tất cả mọi phấn đấu cho một chuyến đi, qua bao nhiêu gian nan trên biển. để rồi lại... sắp bị đưa về nơi điểm xuất phát ban đầu. Nỗi thất vọng làm tê đắng cả đầu lưỡi, viễn ảnh tương lai thật đen tối. Tôi cắn môi đến chảy máu và thẩn thờ nhìn chồng tôi đang ngồi bất động như chết. Trước mắt tôi lại hiện lên hình ảnh cái họng Sumbawa tối tăm, với những con sóng đen thui của tử thần.

Trong đầu tôi bỗng bùng dậy sự thiết tha muốn sống. Tôi muốn vùng vẫy, muốn thoát ra khỏi cái chết. Nhưng thân tôi giờ đây như cá nằm trên thớt, đang giương cặp mắt thao láo nhìn lưỡi dao bén ngót sắp phập xuống. Tôi muốn giẫy giụa bằng tất cả sức lực của mình trước khi phải chết. Sự ham sống đã thôi thúc tôi khiến tôi như một người lên cơn điên. Không suy nghĩ gì cả, tôi vụt đứng dậy, hối hả chạy bằng hết cả sức lực. Tôi băng qua khoảng sân rộng, chạy băng đến ngay chiếc xe xếp police đang ngồi, mấy lần tôi nhũi đầu suýt té vì bị vấp. Khi đã đến được xe, tôi thở hào hển và hai tay bíu chặt lấy cánh cửa, chỉ sợ xếp police nổ máy chạy mất.

Xếp police nhìn tôi với ánh mắt ngạc nhiên. Ông ta đã ngồi yên trong xe, nhưng không hiểu sao vẫn chưa đề máy. Không tỏ chút gì khó chịu, ông ta nhẹ nhàng hỏi:

- Chị muốn nói gì với tôi?

- Thưa ông, tôi muốn nói chuyện với ông.

Tôi nói mà nước mắt cứ tuôn xuống đầm đìa.

- Thưa ông, xin ông cho chúng tôi trở về coi tàu. Nếu ông bắt chúng tôi, thì cũng giống như ông đã giết chết chúng tôi vậy.

Vốn liếng Indo của tôi chẳng có bao nhiêu, mà trong cơn hoảng loạn tôi đã nói lắp bắp rất khó nghe. Không biết có phải vì vậy mà làm động lòng xếp police hay không, mà khi đó, ông ta nhìn tôi và ôn tồn nói:

- Chị hãy bình tĩnh lại và đi vào đây với tôi.

Xếp police mở cửa xe, đi trở lại văn phòng. Tôi đi theo sau ông ta, lòng hoang mang khôn tả. Tôi cố gắng sắp xếp trong đầu những chữ cần dùng để có thể nói những điều tôi muốn nói.

Khi đã vào đến văn phòng, ngồi yên xuống ghế, xếp police nói:

- Bây giờ chị đã bình tĩnh lại chưa? tôi sẵn sàng nghe chị nói đây.

Tôi rụt rè:

- Thưa ông, tôi rất sợ.

- Chị sợ gì?. Ông ta nhướng mắt nhìn tôi. Trông đôi mắt của ông ta tôi không thấy sự bực bội khó chịu, mà là sự thông cảm, nhưng tôi vẫn chưa nói được, không biết nên mở đầu như thế nào. Tôi không đủ giỏi tiếng Indo để diễn tả cho được lưu loát những điều tôi muốn nói. Tôi cứ ấp a ấp úng...

- Thưa ông, ông đừng bỏ đi. Tôi muốn nói chuyện với ông, nhưng mà tôi sợ.

- Chị sợ gì?

- Tôi sợ ông, vì ông là police!

- Tại sao chị lại sợ police đến như thế?

Trong lòng tôi rủa thầm: bộ ông này tưởng giờ này tôi mới biết police Indo hay sao?! Hơn 6 năm ở Galang, tôi đã biết police Indo đánh người như thế nào, và tôi đã từng bị police lôi đi như một con vật, bắt phải chụp hình hồi hương. Và giờ đây, cũng police Indo đang cầm giữ tôi, đưa chúng tôi vào tuyệt lộ. Tôi muốn trút ra hết tất cả cho ông ta nghe, nhưng tôi không thể. Những lời tôi muốn nói đó như con sóng dâng lên cao rồi bị tan vào gành đá.

Xếp police đăm đăm nhìn tôi và lặp lại:

- "Tại sao chị lại sợ tôi? và lúc nãy chị nói tôi đã giết vợ chồng chị, chị hãy nhìn tôi xem tôi có có giống cọp không? Chị cứ nói đi, đừng sợ gì cả, police luôn là bạn của dân, luôn giúp đỡ dân".

Thấy tôi vẫn ngồi im lặng, ông ta hỏi tiếp:

- "Ở nơi chị ở người ta nói police đánh người dữ lắm phải không?". Tôi gật đầu.

- "Chị mới gặp police lần đầu phải không?". Tôi lại gật đầu.

- "Hèn gì mà chị run lên như thế kia, hãy bình tĩnh lại".

Lúc này tôi nghĩ, ông police này là người hiền lành nhất thế giới. Gặp người khác, nếu không đập bàn thì cũng bỏ đi lâu rồi. Tôi như mạnh dạn hẳn lên, và nói thật mạch lạc, rõ ràng:

- "Thưa ông, tôi muốn xin ông một điều, ông đừng bỏ đi khi tôi chưa nói hết, vì tôi biết có nhiều từ tôi nói ông không hiểu, cũng như ông nói tôi cũng không hiểu được nhiều; Vì tôi là người dân Madura khác với ngôn ngữ ở đây.

Tôi nói như vậy, vì ban nãy nói chuyện với cậu police trẻ, tôi được biết vùng này không có dân Madura. 

Tôi nói tiếp:

Thưa ông, ông nói police là bạn của dân, luôn giúp đỡ dân, nhưng tôi thấy điều đó không đúng. Vì bây giờ con tàu của chúng tôi đang hư máy, mà hôm nay trời vẫn chưa hết bão, khi police đến bắt vợ chồng tôi lên đây, tôi đã xin cho chồng tôi được ở lại coi tàu, nhưng họ nhất quyết không cho. Rồi bây giờ, ông còn muốn đưa chúng tôi lên thành phố, trong lúc ấy tàu chúng tôi bị sóng đánh chìm thì sao?. Thưa ông, tài sản gia đình tôi chỉ duy nhất là con tàu ấy. Chúng tôi còn có cha mẹ già và hai con còn nhỏ, ông bắt hai vợ chồng tôi cũng như ông giết chúng tôi, và giết luôn gia đình chúng tôi. Xin ông thương cho hoàn cảnh chúng tôi, tha cho chúng tôi trở về, chúng tôi rất biết ơn ông! Đó mới là police, là bạn của dân như lời ông nói".

Tôi nói liền một hơi, chẳng còn biết sợ là gì. Một là được tha thì sống, hoặc là bị bắt thì chết, coi như một ăn một thua. Tôi nhìn thẳng mặt xếp police hỏi thêm:

- "Thưa ông, tôi có thể nói nữa được không?".

Xếp police vẫn ôn tồn:

- "Chị muốn nói gì nữa thì cứ nói đi, tôi sẽ ngồi nghe chị nói, vì bữa nay tôi cũng không bận chuyện gì".

Nghe thấy vậy, tôi lên tinh thần nói thêm:

- "Thưa ông, police ở đây nói tên chúng tôi không giống tên Indo, và tiếng nói chúng tôi  không giống tiếng Indo. Nước Indo có hơn 20 thứ tiếng, tôi là người Madura thì tôi nói tiếng Madura, có gì không đúng? Nước Indo có 11 ngàn hòn đảo, tại sao không có người có tên như tên của chúng tôi? Madura là vùng tự trị, đảo của chúng tôi nhiều chỗ không có police là điều đáng ngạc nhiên hay sao?"

Tôi nói một hơi như cái máy được tăng hết ga để vượt sóng. Rồi cuối cùng, tôi nói một cách ỉu xìu:

- "Thưa ông, tôi đã nói hết rồi!" và ngồi im, hồi họp chờ nghe kết quả.

Xếp police không nói ngay, ông ta ngồi trầm ngâm rất lâu, rồi ông nhìn tôi hỏi:

- "Chị nói chị không được đi học?"

Tôi không lên tiếng mà gật đầu.

Ông ta hỏi vặn:

- "Chị không đi học, sao chị biết Indo có hơn 20 thứ tiếng và 11 ngàn đảo?"

Tôi nói ngay:

- "Vì tôi là người Indo!"

Ông hỏi tiếp:

- "Đảo chị ở có TV không?". Tôi gật đầu.

- Nhà chị cũng có TV chứ?

- Không, nhà tôi nghèo không có tiền mua TV.

- Chị có được coi TV không?

Tôi nhìn ông ta vì không hiểu sao ông ta hỏi như vậy. Khi ông ta hỏi lại lần nữa tôi mới ngập ngừng trả lời:

- "Nhà tôi không có TV nhưng tôi đi coi nhờ nhà hàng xóm."

- Bây giờ thì tôi hỏi chị câu cuối cùng, nếu chị không trả lời cũng không sao, những ca sĩ Indo, chị thích ca sĩ nào nhất?

Tôi nhìn mặt ông ta với vẻ tò mò,  ông này thực có phải là police hay không, sao lại đi hỏi mình một chuyện chẳng ăn nhập gì để điều tra lai lịch là sao vậy?

- "Chị đừng nhìn tôi như thế. Chị trả lời tôi đi."

Ông ta cười cười. Khi cười, đôi mắt ông như biết nói, rất vui vẻ và ấm áp.

Tôi nhủ thầm, ông này chắc chọn lầm nghề, lẽ ra ông ta không nên theo ngành police. Với phong cách của ông, phải đi làm nhà ngoại giao mới đúng! Nhưng tôi chợt giật nẩy người khi nghe ông nói tiếp:

- "Nếu chị trả lời tôi nghe thấy được thì tôi sẽ để anh chị ra về."

Tôi mừng như muốn ngộp thở, tôi hỏi:

- "Ông nói thật?"

- Tất nhiên là tôi nói thật. Ông ta xác định rõ như vậy.

Không còn e dè nữa, tôi nói ngay:

- "Tôi rất mê nhạc, tôi biết nhiều ca sĩ nhưng tôi thích nhất 2 ca sĩ, đó là Nike và Roma Ilama. Tôi cũng coi nhiều phim do tài tử Roma Ilama đóng và tôi rất thích!

Ông ta chồm dậy.

- "Chị thích nhạc Nike? vậy chị biết gì thêm về Nike?".

- Thưa ông, tôi không biết nhiều về Nike, nhưng điều mà tôi biết là Nike rất đẹp và hát rất hay. Cô ta chết năm 20 tuổi vì tai nạn xe hơi khi cô đang say rượu. Mộ cô ta ngay trên bờ biển Bandung.

- Chị thuộc nhạc Nike?

- Thưa ông, tôi biết rất nhiều nhạc Nike, nhưng tôi thuộc không nhiều, vì tôi hát rất dở.

- Chị có thể hát một câu được không?

- Thưa ông, tâm trạng tôi đang rối nùi làm sao mà hát được. Xin ông cho chúng tôi về, lần sau gặp lại tôi xin hát cho ông nghe. Bài "Saza Cinta Kamu" của Nike là bản nhạc tôi thích nhất. Máy tàu chúng tôi cần được sửa chữa, nên chúng tôi còn phải ở lại vùng biển này thêm ít ngày rồi sẽ đi.

- Ok!  bây giờ tôi tin anh chị là người Indo, mặc dù chị nói rất ngọng! Ông ta vui vẻ đứng dậy.

***

 

Lại một tình huống oan nghiệt

Sau cái bắt tay, ông ta căn dặn:

- "Trong thời gian lưu lại vùng này, anh chị cần gì cứ nói nhé, đừng ngại. Ngày mai tôi sẽ cho mang đồ cứu trợ lại cho anh chị. Hết bão thì nên đi về quê ngay, đừng đi sang Flores nữa. Bên đó đánh cá khó khăn lắm, vùng biển Flores sóng rất dữ".

Cuối cùng, ông ta nói:

- "Rất tiếc, chị không được đi học!"

Vợ chồng tôi bước lên xe ra về mà cứ ngỡ như chiêm bao, chồng tôi cứ chụm đầu vô thì thầm: "mình được thả về thật hả?."

Tôi nhéo tay vào mình thấy đau điếng, sự thật đây chứ không phải nằm mơ! Tôi nhéo vào đùi chồng tôi một cái thật mạnh, anh la hoảng lên "ui da", tiếng ui da của chồng tôi khiến cho người lái xe quay lại hỏi "gì vậy?". Chúng tôi cười, lắc đầu.

Về đến nhà hàng chị Haizati, và mọi người đổ xô ra đón. Họ tíu tít hỏi thăm:

- "Sao lâu quá vậy? không có xe về phải không?"

Chị Haizati thì nói:

- "Thấy hai người đi lâu như thế, chị nghĩ bị police làm khó dễ rồi. Ở đây, police không khó đâu, nhưng người đến đây không có KTB đều bị giữ lại hết".

Chúng tôi trả lời qua loa rồi chạy ngay ra biển, bơi một mạch ra tàu, trong lòng mừng vui hớn hở. Trên tàu có thằng con bà bếp. Thấy vợ chồng tôi đi, chị Haizati và mọi người kêu nó ra coi tàu dùm. Tấm lòng người dân ở đây thật tốt, biết bao giờ chúng tôi mới trả được cái ơn này.

Chồng tôi cười, nụ cười thật rạng rỡ, nụ cười tươi nhất từ khi tàu khởi hành đến giờ.  Chúng tôi nói với nhau: "thật là hú vía, lúc nào cũng vậy, sắp phải chết thì lại được Chúa che chở, cứu thoát.  Chúng tôi cùng nhau đọc kinh tạ ơn Chúa đã mở miệng cho tôi biết đối đáp với người ta, nên mới thoát được nạn này. Nếu chuyện này đem kể lại chắc không ai tin, họ sẽ cho là mình nói dóc. Chính tôi là người trong cuộc mà còn thấy mọi sự xảy ra như trong giấc mơ. Giờ này, nằm trên con tàu mà chúng tôi còn chưa hết ngỡ ngàng.

Quả thật, chuyến đi của chúng tôi có Chúa an bài lo lắng, bao phen cận kề với cái chết, thì lại được cứu thoát. Nếu hôm nay cái ông Suvaot này hỏi tôi về đạo Muslim thì chúng tôi chết là cái chắc; cả hai vợ chồng đều mặc sarong và tự xưng là theo đạo Muslim, nhưng một câu kinh Muslim chúng tôi cũng không thuộc.

Lạy Chúa, Chúa đã bao lần cứu chúng con thoát chết; suốt đời này và muôn đời sau chúng con vẫn tôn vinh Ngài.

Sáng nay, police mang đồ cứu trợ tới gồm một bao gạo, trà, đường, cà phê, thuốc hút. Tôi không nhận gạo vì dưới tàu chúng tôi còn nhiều gạo mang theo từ Việt Nam, chúng tôi ăn chẳng được bao nhiêu, dọc đường đi chúng tôi nấu mì nhiều hơn nấu cơm. Nhưng chị Haizati nói, đồ gì cho cũng phải nhận hết, nên khi họ cho món gì chúng tôi cũng nhận tuốt.

Dân Indo nghèo, nhưng đời sống dân ở đây khá giả. Dọc theo bãi biển là khách sạn, nhà hàng san sát nối nhau. Khách du lịch là người ngoại quốc gồm đủ mọi quốc gia: Mỹ, Pháp, Úc, Korea, Singapore, Hongkong, Japan, Taiwan.... họ đến đây để ngắm biển và trượt sóng. Những ngày bão, du khách không ra biển được, họ tập trung lại nhà hàng chị Haizati suốt ngày đêm. Nhà bếp nấu nướng không ngừng nghỉ. Bão càng làm cho chị Haizati phát tài thêm. Chị giàu tiền của và giàu cả lòng nhân ái. Tính chị rất bình dân, mỗi bữa chị đều ăn cơm chung với người làm, và tính tình chị rất vui vẻ, hoà đồng.

Người dân ở đây rất giàu tình cảm. Vừa hết bão là họ lũ lượt mang bánh trái ra các nhà hàng để bán; gặp tôi là họ tay bắt mặt mừng cứ như đã thân quen nhau từ muôn kiếp trước, thậm chí, họ còn cho tôi bánh trái. Mỗi lần như vậy, tôi đều trả tiền nhưng họ nhất định không chịu nhận.

Police đến nhà hàng ăn uống cũng đưa thuốc lá, cà phê cho tôi, và bảo mang xuống tàu cho chồng tôi. Còn mấy chủ nhà hàng, khách sạn gọi tôi vô cho rất nhiều quà, nào là gạo, đường, trà, cà phê v.v... Tôi không thể từ chối được, nên suốt ngày cứ phải tay xách, nách mang. Có hai bà chủ khách sạn cho tôi một lố áo quần đủ màu còn mới nguyên, lại còn dúi cho tôi một mớ tiền và ân cần dặn cất đi, để mang về nhà cho các con. Những cư chỉ ân cần của họ đã khiến cho tôi nhiều lần phải ứa nước mắt! Dân chúng ở đây sao dạt dào tình cảm và thương người đến thế nhỉ!

Sáng nay chị Haizati đi lên thành phố mua những thứ cần dùng cho nhà hàng, tiện thể, chị mưa dùm phụ tùng sửa máy cho vợ chồng tôi. Khi trở về, có thêm một gia đình cùng về với chị, họ gồm hai vợ chồng và một cô con gái nhỏ. Chị Haizati giới thiệu họ là thương gia trên thành phố. Họ vốn là người gốc Madura đến vùng này lập nghiệp đã lâu, nghe tin chúng tôi là người đồng hương đang trú bão ở đây thì họ đến thăm.

Nghe chị Haizati giới thiệu họ là dân Madura tôi hét vía, nhưng phải ráng phớt tỉnh để tiếp họ. Sau cuộc nói chuyện, họ muốn ra biển coi tàu và để gặp chồng tôi, nhưng đang lúc nước lớn, tàu ở quá xa nên chồng tôi không thể bơi vô gặp họ được. Đứng nhìn trời mây một hồi, tất cả quay lại vô nhà chị Haizati. Gia đình Madura đã cho vợ chồng tôi một thùng quà gồm đủ các thứ: bánh kẹo, trái cây, thuốc hút, trà, mì gói, đường, quần áo... và một số tiền nhỏ.

Chiều tối thì xếp police đi cùng vợ con đến nhà hàng của chị Haizati. Vợ con xếp police mới đẹp làm sao! Trong chiếc áo đầm màu đỏ thẩm, xếp phu nhân như một hoàng hậu, và hai cô con gái y như hai thiên thần. Sau một màn giới thiệu là đến phần xếp phu nhân phỏng vấn. Những câu hỏi của xếp phu nhân quả thực như là cuộc tra tấn tinh thần. Cái đầu tôi như muốn nổ tung vì nhiều câu tôi trả lời chẳng ăn nhập vào đâu.

Cô rất ôn hoà, từ tốn, những chữ nào tôi không hiểu rõ thì cô giải thích đến khi nào tôi hiểu được mới thôi. Sau một lúc thật lâu làm cho tôi nhức óc, điên đầu, cô hỏi tôi:

- "Có nhiều từ chị nói ngọng quá. Tất cả mọi người sống trên đảo của chị đều nói ngọng như thế hay sao?"

Tôi chưa biết trả lời sao thì cô ta hỏi thêm:

- "Hay chị nói ngọng vì lưỡi của chị có vấn đề. Chị có thể cho tôi coi lưỡi chị được không?"

Trời đất! một cuộc phỏng vấn kỳ lạ nhất thế giới. Tôi không lè lưỡi ra mà hỏi lại:

- Thưa chị, chị là bác sĩ?

- Chị đoán không sai, tôi sẽ trở thành bác sĩ nếu như không trở thành vợ ông này. Vừa nói cô ta vừa chỉ tay vào xếp police.

Tôi nghĩ thầm, cô này chưa thành bác sĩ mà đã mắc bệnh nghề nghiệp nặng, nhìn đâu cũng thấy vi trùng và bệnh tật. Ý nghĩ này làm cho tôi bật cười quên cả sự căng thẳng hiện tại.

Cô nhìn tôi hỏi:

- "Chị cười gì thế?"

Làm sao tôi trả lời, vì con vi trùng tôi đâu có biết diễn tả bằng tiếng Indo. Nhưng tôi cũng cố gắng trả lời:

- "Dân đảo tôi ai cũng phát âm giống như tôi vậy".

Cô tỏ ra dễ dãi, không vặn hỏi thêm về những điều cô ta thắc mắc. Suốt cuộc nói chuyện khá lâu giữa tôi và xếp police cùng bà vợ chỉ ngồi nhìn và nghe, bây giờ ông mới lên tiếng:

- "Chẳng cần nhìn lưỡi chị ấy làm gì, tôi biết chị ấy nói ngọng không phải vì lưỡi có tật mà vì chị ấy không phải là người Indo".

Trời ơi! vợ đã hỏi những câu ác ôn mà chồng còn ác độc hơn nữa. Mắt tôi hoa lên và trước mặt lại hiện ra cái họng Sumbawa dậy sóng đen ngòm.

Ngừng một chút như muốn tăng thêm sự hồi hộp chờ đợi của người nghe, xếp police nói tiếp:

- "Thứ nhất, giọng chị nói không giống sắc dân nào trong đất nước chúng tôi; thứ hai, chỉ xử dụng chữ của rất nhiều vùng: tiếng phổ thông, Sumatra, Bali, Madura... nhưng không thể xác định được chị là dân vùng nào trong những nơi đó. Ngay khi nói chuyện với chị ở bót tôi đã biết được điều ấy, nhưng tôi không nỡ bắt chị, vì thấy chị quá sợ hãi. Tôi cũng nghĩ nên để anh chị về coi tàu. Muốn bắt anh chị thì tôi bắt giờ nào mà chẳng được. Tàu đã hư máy rồi, làm sao hai người ra khỏi vùng biển này được. Sáng hôm nay, tôi đã nhờ một cặp vợ chồng người gốc Madura đến gặp chị, họ đã xác nhận chắc chắn chị không phải là người Madura, và vùng Madura cũng không có cái đảo nào mang tên Timor như lời vợ chồng chị đã khai. Khi tôi biết chị Haizati đi mua đồ thay máy tàu cho anh chị, tôi đã dặn chị Haizati cứ giữ lại đó không được đưa cho anh chị khi chưa có ý kiến của tôi".

Xếp police nói chậm rãi, nghiêm trang như quan toà định tội phạm nhân. Chưa hết, xếp còn phán thêm một quyết định cuối cùng:

- "Bắt đầu từ đêm nay chị không được phép đi đâu hết, việc canh giữ chị là do chủ nhà chịu trách nhiệm, nếu chị muốn đi thăm tàu cũng phải có người đi kèm. Chúng tôi sẽ sắp xếp thời gian kéo tàu của anh chị lên bờ cất giữ nơi an toàn, và đưa anh chị lên thành phố giao cho big boss của chúng tôi".

Thế là hết, tôi thở dài não nuột. Bây giờ mới là lúc lưỡi dao oan nghiệt chờ sẵn ở cổ chúng tôi. Như cá nằm trên thớt, đã hết sức cựa quậy, chỉ còn biết giương hai con mắt thao láo chờ đợi phút giây định mệnh. Biết mình sắp chết mà không sao khóc được. Phải chăng nước mắt tôi đã cạn! Cố nén tất cả những cảm xúc, tôi nói một câu cuối cùng:

- "Thưa ông, chúng tôi đúng là người Indo!"

Câu nói thoát ra được bờ môi khô đắng, nhưng trong lòng tôi không có cái cảm giác nhẹ nhõm, vì tôi biết nó sẽ chẳng có tác dụng gì vào lúc này. Nhưng vốn bản chất tôi quen như vậy, thứ tính ngoan cố của loài cà cuống tới chết vẫn còn cay.

Xếp police nhìn tôi đăm đăm và thở dài:

- "Nếu đúng chị là người Indo, thì chị ở trong bộ lạc ăn thịt người!".

Sau câu nói của xếp police, tất cả đám đàn bà đứng bật dậy như bất chợt nhìn thấy ma. Ngay cả chị Haizati là người gần gũi với tôi hơn cả trong hơn một tuần lễ nay, chị cũng đứng nhích ra xa. Vợ ông còn hỏi bồi thêm:

- "Xin lỗi, chị có thể cho chúng tôi coi người được không?". Tôi đồng ý.  Thế là cả đám đàn bà mang tôi đi trắc nghiệm, coi họ có vẻ hăm hở với việc này lắm. Rồi sau đó họ nói to lên:

- "Người chị ấy không có đuôi, và cũng không có dấu xăm nào hết!".

Đợi một chút cho không khí ồn ào dịu xuống, xếp police lên tiếng:

- "Tôi biết anh chị không phải là người Indo, tôi muốn giúp đỡ anh chị với điều kiện chị phải nói thật. Sau khi biết nguồn gốc của anh chị rồi, tôi sẽ giúp anh chị được an toàn ra đi, vì vùng biển này do tôi quản lý".

- Ông giúp tôi? tôi nhìn xếp police bằng ánh mắt ngạc nhiên, đầy sự nghi ngờ.

- Chị đừng nhìn tôi như thế! Ông ta ôn tồn. Tôi không phải là hổ dữ ăn thịt người đâu.

- Thưa ông (tôi nghẹn lời). Đến giờ này tôi biết rằng không thể trốn tránh được sự thật. Tôi sẽ nói ra tất cả sự thật về chúng tôi, nhưng trước khi tôi nói, tôi muốn được biết một điều, tại sao ông lại giúp chúng tôi?

- Ồ! cái đó thì dễ thôi, để vợ tôi nói cho chị nghe.

Vợ ông bắt đầu kể:

- "Thuở còn là sinh viên y khoa tại Jakarta, tôi được rất nhiều người mến mộ giọng hát của tôi. Tôi hát hay và tôi rất tự hào về giọng hát của mình. Sau khi trở thành vợ của xếp đây thì tôi bỏ học. Tôi không hề buồn về chuyện bỏ học mà tôi buồn vì một chuyện khác. Tôi phát hiện ra chồng tôi chỉ yêu thích tiếng hát của Nike, ông ta không hề quan tâm để ý đến tiếng hát của tôi. Chồng tôi thích Nike một cách đặc biệt và mua tất cả những băng nhạc của Nike, khiến cho tôi giận điên lên và ghét cay ghét đắng nhạc Nike."

"Khi Nike chết, chồng tôi lộ vẻ rất buồn bã, làm cho tôi rất khó chịu. Nhưng chưa phải vậy là hết, chồng tôi đã trốn tôi đi đưa đám tang Nike, chắc chị biết từ đây đến Bandung bao xa phải không?"

"Khi đó, tôi đem tất cả những băng nhạc Nike dốt hết, và tuyên bố sẽ chia tay với chồng tôi. Những cuộc khẩu chiến liên tiếp xảy ra. Sau cùng, chúng tôi tìm được một giải pháp thoả đáng: Chồng tôi không được nghe nhạc Nike và nhắc đến tên Nike trước mặt tôi, ngoại trừ, khi chính tôi công nhận có người nào đó yêu thích nhạc Nike như chồng của tôi".

"Sau khi nói chuyện với chị, tôi biết người đó là chị chứ không phải ai khác. Chị nói chị là dân đảo nhỏ không hề được đi học, nhà không có nổi cái tivi để coi, nhưng chị biết rất nhiều nhạc của Nike và mong muốn có dịp chị sẽ đến Bandung chơi và thăm mộ Nike. Hoặc chị không phải là người Indo mà chị yêu thích nhạc Nike như thế thì quả là người mê nhạc Nike hơn cả chồng tôi. Vậy, từ nay trở đi, tôi sẽ để chồng tôi thoải mái nghe nhạc Nike, và nếu ông ta có yêu nhạc của ai khác nữa thì tôi cũng vui lòng".

-    Hoan hô! Xếp police vỗ tay cười vui vẻ.

***

 

Ở hiền gặp lành

Tôi nhìn gia đình xếp police và tất cả mọi người xung quanh rồi nói:

- "Trước hết, tôi xin cám ơn mọi người ở đây đã thương mến và giúp đỡ chúng tôi, một tuần qua. Tôi có cảm tưởng như tất cả quý vị là người thân của tôi vậy, và tôi cũng thành thật xin lỗi vì đã nói dối mọi người. Tôi không phải là người Indo!

- Ồ! ...tất cả mọi người nhao nhao lên như ong vỡ, và tranh nhau hỏi "vậy anh chị từ đâu đến? là người ở nước nào vậy?"

Tôi nhìn quanh từng người và cười cười để xem họ đoán thử có đúng không. Thế là tất cả mọi người tranh nhau đoán và dành nói trước, khiến gian phòng trở nên ồn ào như cái chợ. Tôi hồi hộp chờ họ nói đến tên nước mình, tên Việt Nam. Nhưng người thì nói vợ chồng tôi người Đài Loan, người đoán Singapore, người thì bảo là Nhật... Họ nói mắt chồng tôi giống hệt mấy ông Nhật đến đây du lịch. Riêng chị Haizati thì nói vợ chồng tôi là người Malaysia vì cách phát âm của chúng tôi giống dân Mã (Malaysia và Indonesia cùng một ngôn ngữ, có khác ít nhiều nhưng không đáng kể). Xếp police lại nói khuôn mặt vợ chồng tôi giống dân Afghanistan, mọi người liền đồng ý theo xếp.

Họ kể cho tôi nghe, cách đây không lâu police ở đây bắt được một con tàu Afghanistan, trên tàu có mang theo vũ khí. Họ hỏi trên tàu tôi có súng hay không? Tôi lắc đầu, tàu tôi chỉ có dầu, nước và lương thực, không có súng ống gì cả!

Tôi nói, tôi không phải là dân Afghanistan, tôi chưa từng nhìn thấy người Afghanistan bao giờ. Họ đoán không nổi đanh chịu thua, cuối cùng tôi phải tự nói ra.

- "Mọi người cứ nghĩ đến những nước xa xôi, còn nước tôi thì cũng ở gần đây thôi, sá nách quý vị mà mọi người không nghĩ đến. Tôi là người Việt Nam!"

Sau khi nghe tôi nói, mọi người lại nhao lên một lần nữa:

- "Chị là người Việt Nam? có gì để chứng minh không? tại sao chị nói được tiếng Indo?"

- Nói là người Indo thì tôi không có gì để chứng minh, nhưng nói tôi là người Việt Nam thì tôi có đầy đủ giấy tờ và tôi chứng minh được vì sao tôi biết tiếng Indo: tôi đã từng ở Indo hơn sáu năm, trong trại tỵ nạn Galang.

- Xếp police vỗ bàn: trời ơi! tôi quên khuấy đi chuyện người Việt Nam đã từng có một thời gian tỵ nạn trên đảo Galang.

Thế là mọi người đòi tôi kể về Galang, mà nghĩ thật ngộ, Galang và nơi này cùng một quốc gia nhưng người dân ở đây không có một ý niệm gì về Galang cả. Không biết có phải vì dân Indo rất ít hiểu biết về chính đất nước của họ không? Ngày tôi lên chơi ở vùng Bali hoặc Lombok, tôi nói tôi là người Madura, họ hỏi Madura ở đâu chẳng ai biết, tôi chỉ đông chỉ tây gì họ cũng tin tuốt. Có lẽ, họ quen sống yên phận, sống nơi đâu thì chỉ biết quanh quẩn nơi đó mà thôi. Tôi kể cho mọi người nghe về Galang mà giống như tôi kể về quê hương tôi cho người ngoại quốc nghe vậy. Vì tất cả mọi người ở đây chưa có ai từng đặt chân đến Galang.

Tôi vốn có một trí nhớ tốt, tất cả những gì xảy ra trong đời sống tôi đều ghi lại trong đầu. Trong bộ nhớ của tôi có chỗ dành riêng cho một thời của Galang. Galang tuy nay đã quá xa, tất cả đã lui vào dĩ vãng, mà giờ đây ngồi kể lại tôi cảm thấy dừng như chỉ mới hôm qua. Ôi! Galang của tôi với bao nước mắt, nụ cười, buồn vui lẫn lộn, bao nhiêu hy vọng rồi cuối cùng tuyệt vọng trong quãng thời gian sáu năm dài đằng đẵng.

Đêm đã khuya, tôi nhìn hai thiên thần của xếp police đang say sưa giấc điệp. Tôi nhìn mọi người và nói:

- "Đêm cũng đã khuya rồi, nếu mọi người còn muốn nghe tôi kể chuyện Galang thì ngày mai tôi sẽ kể tiếp". Nhưng chị Haizati nói:

- "Inda đừng lo điều đó, ở đây ai cũng quen thức khuya, sáng mai ngủ bù, sợ gì!"

Xếp police nhìn đồng hồ rồi nói:

- "Có lẽ đêm đã khuya thật, nhưng mà lâu lâu mới có dịp ngồi nói chuyện như thế này, nếu Inda không mệt thì kể cho tôi nghe tại sao chị lại đặc biệt thích nhạc của Nike, và tôi vẫn còn nhớ, chị đã hứa sẽ hát nhạc Nike "Saza Cinta Kamu".

- Được rồi, tôi sẽ nói về chuyện đó. Tôi sống ở Galang hơn sáu năm. Năm năm đầu trôi qua nhẹ nhàng, dẫu rằng đời sống ở đảo vui ít buồn nhiều, và chúng tôi thiếu thốn đủ mọi thứ, cả vật chất lẫn tinh thần. Nhưng chúng tôi sống trong niềm hy vọng. Hy vọng sẽ được định cư tại một quốc gia đệ tam nào đó. Nhưng sang đến năm thứ sáu thì tất cả niềm hy vọng nuôi dưỡng bấy lâu này đều tan biến, khi biết chắc rằng mình bị buộc phải về lại Việt Nam. Tôi vật vã như người điên, có lúc định tự sát, thà chết ở Indo chứ nhất quyết không để bị cưỡng bức hồi hương. Nhưng trước khi chết tôi phải làm một cái gì đó, giãy giụa cỡ nào cũng không ăn thua, hoàn cảnh lúc đó rất khó khăn, nội bất xuất ngoại bất nhập. Toàn trại có hàng rào thép gai bao bọc, police canh gác ngày đêm. Chúng tôi có gào thét đến vỡ tim, bể lồng ngực phun máu cũng chẳng có tác dụng gì. Trong trại lúc ấy có nhiều người tự sát vì quá tuyệt vọng. Người thì tự thiêu, người rạch bụng, người thì treo cổ chết, nhưng cũng không thể đổi ngược hoàn cảnh. Lúc ấy, chúng tôi trong cơn tuyệt vọng, bế tắc, cứ như điên loạn vậy. Đêm đêm chúng tôi tụ tập lại với nhau và nói chuyện cho đến sáng, nói đủ thứ chuyện vui buồn, rồi xoay ra hát hò. Đêm nào cũng vậy, dần dần trở thành thói quen. Trong nhóm chúng tôi chẳng có ai hát hay, thậm chí có người không biết hát. Nhưng khi tụ họp lại thì cứ hát búa xua. Chúng tôi hát cho vơi niềm uất ức, cho quên tháng ngày muộn phiền. Chúng tôi muốn trút những đau buồn chất chứa trong lòng ra ngoài bằng tiếng hát. Có hôm, sáng ra cây đàn guitar bị đứt hết dây và ngón tay của người chơi đàn rỏ máu.

"Trong những đêm hát như thế có một số police đi qua, họ không ngăn cản mà còn ghé lại nhập bọn với chúng tôi nữa. Đêm từng đêm đi qua, chúng tôi dạy cho police hát tiếng Việt, và police dạy chúng tôi hát tiếng Indo. Police Indo đã mang đến rất nhiều băng nhạc Indo cho tôi mượn. Tôi đặc biệt thích nhất là nhạc Nike và Roma Ilama. Hai  ca sĩ này có giọng hát tuyệt vời. Tiếng suối reo, chim hót cũng không bằng tiếng hát Nike, và giọng nam trầm ấm của Roma Ilama thật quá đỗi hay".

Xếp police hỏi tôi:

- "Vậy police Indo đối xử tốt với người Việt Nam ở Galang?

- "Police tốt cũng có, police hung dữ đánh người cũng khá nhiều. Tôi sẽ kể ra những vụ đánh người ác ôn của police Indo trên đảo Galang."

Một lần nữa, tôi lại phải nói:

- "Đêm khuya quá rồi, tôi xin chấm dứt câu chuyện về tôi tại đây. Sáng mai, tôi sẽ cho mọi người coi giấy tờ của chúng tôi. Chúng tôi cũng có mang theo một số hình chụp tại Galang, đang để ở dưới tàu".

Dù vậy, nhưng không ai chịu đi ngủ, họ đòi phải cho coi giấy tờ, hình ảnh của tôi liền. Tôi viết mấy dòng vắn tắt kể lại sự việc xảy ra cho chồng tôi biết, và nói anh lấy giấy tờ, hình ảnh, đưa cho người ta mang lên.

Hai thanh niên đi ra tàu, chẳng mấy chốc trở về mang đầy đủ những thứ tôi dặn. Mọi người hỏi tôi:

- "Hôm trước, police đã xét tàu rồi, tại sao không thấy những thứ này?"

Xếp police chăm chú nghe tôi trả lời. Tôi rất ngại ông ta sẽ la rầy nhân viên thuộc hạ, tôi đáp:

- "Tàu chúng tôi không có mui, mọi thứ trên tàu  đều bị ướt hết, chỉ duy nhất là thùng gạo được đóng nắp rất chặt. Tôi đã để giấy tờ dưới đáy thùng gạo, police có mở thùng gạo ra, nhưng chỉ nhìn thấy có gạo thôi nên họ bỏ qua".

Tất cả mọi người chuyền nhau coi giấy tờ và hình ảnh gia đình tôi. Đối với họ, Galang dường như là một nơi thật xa lạ mà họ chưa nghe đến bao giờ, nên họ chuyền nhau coi những tấm hình kỹ lắm. Khi coi giấy tờ rồi, không ai phát âm được tên tôi. Họ hỏi tôi do đâu có cái tên Inda. Tôi cũng thành thật trả lời:

- "Vì sợ police bắt nên tôi tự đặt cho mình một cái tên mới."

Chị Haizati hỏi:

- "Vậy tên Inda nghĩa là gì em có biết không?" Tôi lắc đầu làm họ cười ồ cả lên!

Chị Haizati nói:

- "Tên Việt Nam của em khó phát âm quá, ở đây không ai đọc được đúng tên em. Từ khi đến đây em đã có tên Inda, vậy bây giờ mọi người cứ gọi là Inda, em có đồng ý không?"

Tất cả mọi người vỗ tay hưởng ứng. Chị Haizati nói tiếp:

- "Ở đây, ai cũng thương mến em, vậy theo ý chị em nên giữ mãi tên này để nhớ đến mọi người ở đây".

Tôi cảm động nói:

- "Vâng, tôi sẽ giữ mãi cái tên Inda này để nhớ đến tình thương mọi người đã dành cho chúng tôi hôm nay".

Phu nhân của xếp police nói:

- "Chúng tôi sẽ làm một bữa tiệc nho nhỏ để kỷ niệm cho chị có cái tên Inda".

Tất cả lại vỗ tay hưởng ứng rất vui vẻ. Chị Haizati ra lệnh mở nhạc lên. Chúng tôi cùng hát vang. Tôi hát tặng họ một bản nhạc Việt Nam theo họ yêu cầu, sau đó, là nhạc Nike. Không khí vui như buổi dạ hội.

Khi chia tay ra về, xếp police vui vẻ nói:

- "Cám ơn Inda. Đêm nay tôi được nghe Inda kể chuyện và nghe nhạc Nike vui hơn bao giờ hết". Xếp phu nhân cũng ôm hôn tôi thật thân tình.

Trời đã hừng sáng, mọi người tranh thủ lo đi ngủ, lấy sức cho một ngày mới làm việc bận rộn. Riêng tôi lang thang trên bãi biển. Bình minh bừng lên ánh hồng ở cuối chân trời, biển hiền hoà một màu xanh biếc, lòng tôi cũng rộn lên niềm vui và hạnh phúc dạt dào. Tôi khóc vì cảm động trước tình người ở đây, và nghĩ đến những ngày sắp tới của cuộc hải hành. Không biết tôi còn sống được để có ngày trở lại nơi này hay không? Nếu chẳng may tôi chết thì thôi, còn nếu được sống sót, tôi sẽ trở lại thăm nơi này. Tuy không sinh ra và lớn lên ở đây, nhưng sao tôi cảm thấy nó thân thương và tình người gắn bó quá, như nó chính là quê hương của tôi.

      Một đời làm người có biết bao kỷ niệm vui buồn với hàng trăm, hàng ngàn đêm... nhưng đêm nay có lẽ là một đêm để thương và để... nhớ về tình người, sẽ mãi mãi lưu dấu trong lòng tôi, một phụ nữ Việt Nam gian nan trên đường vượt biên tìm tự do, và được gọi bằng cái tên Indo.

      Chuyện vượt biên vượt biển tìm tự do từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đối với dân tộc tôi là một chuyện bất đắc dĩ với biết bao chết chóc kinh hoàng. Nó chưa đi vào quá khứ mà hãy còn day dưa rướm máu. Giờ đây, trong lòng mỗi người Việt tị nạn trên các quốc gia khắp thế giới như vẫn còn in dấu thời gian khổ nhục của một lần phải gạt lệ ra đi. Riêng tôi, thì kỷ niệm về chuyến vượt biên này như là một huyền thoại. Những chuyện tôi đã gặp, đã trải qua trong chuyến đi này thật bất ngờ như một giấc mơ. Nó đã làm cho tôi mỗi khi nghĩ đến còn thấy ngỡ ngàng.

      Cả tuần nay chúng tôi sống nơi đây mà chan chứa tình thân, tất cả mọi người đối xử với chúng tôi bằng một tình cảm chân thật và thân thương, đúng với ý nghĩa của câu "người với người sống để yêu nhau". Đám đàn ông đã kéo tàu chúng tôi vào phía trong con suối để cho chúng tôi tiện việc sữa chữa máy móc. Nơi đậu tàu  ở ngay trước cửa nhà hàng chị Haizati, nên chồng tôi không còn ăn cơm một mình dưới tàu nữa, mà cùng với mọi người ăn uống trong nhà.

      Lúc này đã hết bão, tàu bè đi câu bình thường trở lại. Trong thời gian bão, nhà hàng chỉ bán chủ yếu là các món thịt, còn bây giờ thì cá lại nhiều hơn. Mỗi ngày mấy bận, người ta mang cá tới, nhìn mà phát mê. Vùng biển này có rất nhiều loại cá thu cờ, con nào cũng cỡ 10 ký trở lên. Chặt ra, lấy khúc giữa nấu cho khách, còn lại khúc đuôi và cái đầu là phần của nhân viên nhà hàng. Chúng tôi thích nhất món cá nướng trên than hồng, món này rất là tuyệt.

***

 

Giã từ vùng đất thân thương

Kể từ đó, gia đình xếp police đến thăm chúng tôi thường xuyên hơn, mỗi lần xếp đến, chị Haizati kêu tôi trổ tài nấu nướng. Tôi nấu những món ăn theo khẩu vị Việt Nam, dù tôi là đầu bếp hạng tồi, nhưng khi thưởng thức ai nấy đều khen nức nở rằng, những món ăn Việt Nam ngon tuyệt.

Tôi đi theo xe về nhà xếp chơi một ngày, và cũng nhân đó tôi đến những khách sạn và nhà hàng trong khu vực để cám ơn họ. Mọi người đón tiếp chúng tôi thật tình nghĩa.

Khi chị Haizati đi lên thành phố, chị cho tôi đi theo, và ghé vào thăm một gia đình gốc Madura. Gia đình này rất giàu có, họ làm chủ một nhà hàng lớn và và sang trọng với một cửa hàng bán đủ  các loại đồ dùng. Ở nhà họ chơi một ngày. và tôi được chở đi chơi một vòng thành phố và chụp hình kỷ niệm nhiều nơi. Hôm sau, chị Haizati lên đón tôi về, với một thùng quà lớn chất lên xe, thùng quà rất nặng, đến nỗi một mình tôi không bê nổi.

Qua một vài lần đi thăm nhiều chỗ trong thành phố này, tôi mới nghiệm ra là những nhận xét của mình lúc đầu không hoàn toàn đúng lắm. Đi sâu vào sinh hoạt của người dân mới thấy rằng họ rất nghèo, cái cảnh nghèo chẳng khác ở Việt nam, nhà cửa cũng xập xệ, và phương tiện thiếu thốn. Chỉ duy nhất khu vực mở nhà hàng và khách sạn ngoài bãi biển là giàu nhất. Mà trong những người này có lẽ chị Haizati là đứng số một. Không những chị có nhà hàng lớn và một dãy dài khách sạn, mà ruộng đất của chị cũng mênh mông, cò bay thẳng cánh. Tôi không biết chị có đến bao nhiều người làm công và giúp việc.

Có một điều lạ, là đi tham quan khắp thành phố, tôi không hề nhìn thấy người ăn xin. Tôi hỏi chị Haizati điều nầy, thì được cho cho biết, ở vùng này còn nhiều người nghèo khổ, nhưng dẫu là nghèo nhưng họ cũng có đủ ăn đủ mặc, không đến độ phải đi ăn xin. Tôi chợt nhớ đến Sàigòn,  nhan nhản khắp hang cùng ngõ hẻm, người ta đi ăn xin mà nghe xót xa trong lòng!

Chị Haizati là người giàu có nhưng tấm lòng rất nhân hậu. Khi nghe tin có một đám cháy làm cho 40 căn nhà bị thiêu hủy, lập tức chị đi mua một xe đồ cứu trợ gồm đủ như mắm, muối, đường, gạo, mì,... nang đến cho họ. Chị cho tôi đi theo, đến nơi nhìn khu nhà vừa bị hoả hoạn thật là thương tâm. Một khu khá lớn nay bị cháy rụi thành đống tro tàn. Người ta tập trung lại giữa một nơi gò trống, căng bạt ở tạm dưới cái nóng nung người. Nhìn thấy những phụ nữ và con nít lóc nhóc thật tội nghiệp.

Trên đường về, tôi xin chị Haizati cho tôi được giúp họ một phần. Chị gạt đi không cho, nhưng tôi cứ nói mãi nên chị cũng chịu. Dưới tàu chúng tôi có rất nhiều đồ ăn và quần áo do các nhà hàng, khách sạn và người dân quanh đây hoặc police cho, chúng tôi không thể nào dùng cho hết được. Vợ chồng tôi cũng đã bàn với nhau, gần ngày lên đường sẽ tặng lại cho mấy người làm trong nhà hàng chị Haizati, nhưng hôm nay, tôi thấy nên tặng cho những người đang gặp hoả hoạn khốn đốn kia.

Tôi xuống tàu soạn hết đồ, chỉ để lại những thứ cần thiết, như mì gói cho tiện nấu nướng, còn bao nhiêu gạo thì mang hết đem cho họ. Khi xe chúng tôi đến nơi, police hỏi chị Haizati "cho 2 lần đồ à?" Chị Haizati nói "lần này không phải của chị, mà là của Indo".

Police ghi từng món đồ xong xuôi, anh ta bảo tôi đứng ra và lớn tiếng giới thiệu với mọi người: "Đây là Inda người Việt Nam, đi du lịch qua đây thấy mọi người gặp nạn nên mang đồ đến giúp". Mọi người đều nói lời cám ơn, họ khóc: "Chị là người Việt Nam mà còn thương chúng tôi như vậy, còn  người đốt nhà, thì họ cùng chủng tộc với chúng tôi đấy!" Nhìn họ khóc, tôi cũng khóc theo. Tôi khóc thương họ mà cũng thương cho thân phận bất hạnh của mình. Suốt trong chuyến đi này chúng tôi được người dân Indo hết lòng giúp đỡ mến thương, nhưng họ với tôi đâu phải cùng nòi giống. Còn những kẻ đã làm cho chúng tôi phải trốn chạy, hy sinh mạng sống, rời bỏ quê hương ra đi, họ chính là những người cùng chung một giống nòi với chúng tôi. Người ta nói "tứ hải giai huynh đệ" nhưng trên đất nước tôi hôm nay vẫn còn đầy dẫy áp bức và hận thù. Tôi mơ ước một quê hương thanh bình để mọi người cùng vui sống trong yêu thương, no ấm và đầy tình người. Nhưng biết bao giờ tôi mới thấy được những hình ảnh thật giản dị này?

Hôm nay, chúng tôi có một cuộc nói chuyện riêng, gồm có vợ chồng tôi, chị Haizati và vợ chồng xếp police. Mọi người muốn chúng tôi ở lại nơi đây sinh sống, vì đường đi đến Úc muôn vàn hiểm nguy, đối diện với cái chết từng giờ, chi bằng chúng tôi nên ở lại đây sinh sống. Vùng này rất dễ sống, vợ chồng tôi có tàu, chồng đi đánh cá, vợ đi làm đầu bếp cho nhà hàng, không mấy chốc sẽ làm giàu. Nhà ở thì chị Haizati cho người làm ở miễn phí. Nếu vợ chồng tôi đồng ý ở lại thì xếp police sẽ lo thủ tục nhập quốc tịch Indo cho chúng tôi.

Chị Haizati nói, nếu không nhập quốc tịch cũng không sao, mình làm ăn đàng hoàng thì cả đời police cũng không bao giờ đến làm khó dễ. Như chồng của chị đã ở đây 20 năm, ông ta không hề có giấy phép ở lại nơi đảo này, nhưng chẳng ai làm khó gì ông ta cả.

Chúng tôi vô cùng cảm động trước lòng thương mến họ đã dành cho chúng tôi. Nhưng chúng tôi cũng chỉ biết cám ơn, và nhất quyết ra đi.

Vì chúng tôi quyết định ra đi nên chị Haizati tìm cho chúng tôi mấy người dân Flores có nhiều kinh nghiệm về biển, để họ chỉ dẫn cho chúng tôi hiểu thêm về vùng biển Flores. Những chuyện họ kể làm cho chúng tôi lo lắng và sợ đến nổi gai óc. Họ nói rằng, dãy Flores có bao nhiêu cái họng là bấy nhiêu cái tên kinh khiếp như: họng ăn thịt người, họng nuốt người, họng ma, họng satan... Họ vốn là dân Flores mà không thể theo nghề đánh cá, vì sóng gió nơi đó rất dữ. Vì vậy mà bên đó cá mắc hơn thịt vì không có tàu đi đánh cá. Những tàu buôn đi ngang qua Flores bị lật chết rất thường. Vì sống ở Flores không được nên họ mới rủ nhau sang Sumbawa tìm cuộc sống rất đông. Dù phải đi làm thuê làm mướn nhưng họ vẫn không chịu về lại Flores, nhiều người đã mua tàu đi câu cá, và lập nghiệp tại đây.

Chị Haizati nói: "cả vùng này không có tàu đánh cá, chỉ có tàu đi câu và giăng tôm mà thôi. Dân đi câu ở đây dễ phát tài vì cá tập trung rất nhiều ở trong hàm cá này. Quanh năm cứ đi câu lòng vòng trong hàm cá mà chẳng bao giờ đi mà về không, Còn tôm thì họ chỉ giăng lưới bắt những con lớn".

Chị nói tiếp: "Thử nói với chồng em cứ đi câu độ một tuần xem sao. Chị chắc là sau một tuần đi câu, chồng em sẽ bỏ ý định qua Úc mà muốn ở lại đây luôn".

Trước đây chúng tôi có ý định đi dọc theo dãy đảo Flores, khi đến được hai phần ba dãy đảo thì băng biển sang dãy đảo Timor, và từ Timor, tàu chúng tôi sẽ băng biển một lần nữa để đến Darwin, Úc Châu. Thật ra, con đường đi dọc theo dãy Flores là con đường rất xa so với đoạn đường vượt biển từ Sawu để sang Timor.  Vì tàu của chúng tôi quá nhỏ, và  chỉ có một máy duy nhất, nên chúng tôi chọn cách đi dọc theo dãy Flores, hy vọng sẽ có những chỗ trú dọc theo bờ của dãy đảo này. Nhưng sau khi nghe những người Flores chỉ dẫn thì chúng tôi lại chuyển hướng đi, bởi vì đi đường vòng hay đường thẳng thì nguy hiểm cũng ngang nhau. Chúng tôi sẽ đi thẳng bằng cách băng biển Sawu đi sang Kupang, và từ đây, đi tới Timor rồi băng qua Ấn Độ Dương để đến Darwin.

Vùng biển Sawu quanh năm sóng lớn, nên ai cũng lo ngại cho chuyến đi của chúng tôi. Họ nói: "khi thời tiết thật êm mới để cho chúng tôi ra đi". Cứ mỗi ngày nhìn họ chụm lại để nghe tin thời tiết, tôi lại nhớ đến một thuở ở Galang, hằng ngày luôn theo dõi và nghe ngóng radio để khóc và cười với những bản tin tốt hay xấu về người Việt tị nạn.

Chúng tôi quyết định sáng mai sẽ ra đi, không thể chần chờ thêm được nữa.

      Đêm nay, chị Haizati tổ chức một bữa tiệc nhỏ tiễn chúng tôi. Chị nói một câu làm cho tôi thật cảm động: "làm tiệc cho Inda nhận tên người Indo". Vợ chồng xếp police mang đến một con cá thu cờ cỡ chừng 10 ký, và xếp nói: "trong bữa tiệc này sẽ không có thịt, chỉ toàn là đồ biển. Ăn đồ biển cho vợ chồng Inda nhớ mãi về vùng biển này".

Chị Haiozati góp tôm và mực, còn một gia đình bạn của chị Haizati thì mang đến rất nhiều sò, tôi thì nhận nấu món sò này. Trong lúc ăn sò, chị Haizati nói: "từ nay, trong thực đơn nhà hàng của chị sẽ có thêm món sò của Inda. Đáng tiếc là Inda không chịu ở lại đây để những mói ăn Việt Nam mãi tồn tại ở nhà hàng này".

Chúng tôi cám ơn chị Haizati, cám ơn xếp police và tất cả mọi người mà nước mắt mặn bờ môi. Tôi nói với họ: "kể từ nay tôi có thêm một tên mới, và tôi hứa sẽ giữ mãi cái tên Inda đến cuối đời để luôn nhớ đến những người thân thương nơi đây.

Mọi người đều nói những lời chia tay thật nồng ấm. Còn chị Haizati thì nói: "Inda đừng nói lời cám ơn chị, bao nhiêu năm nay chị đã lo cho rất nhiều người đến lánh nạn nơi này, chị không muốn bất cứ ai phải trả ơn trả nghĩa gì cho chị. Chị chỉ mong làm được nhiều việc thiện để xin thánh Ala thương ban cho chị một đứa con. Chị lấy chồng đã 20 năm, đến nay vẫn chưa có con. Chị từng đi chữa bệnh khắp nơi, từ Indo qua đến nước Pháp, các bác sĩ đành chịu bó tay, nay chỉ biết trông vào thánh Ala ban phép lạ mà thôi".

Những lời của chị Haizati thật xót xa, làm cho không khí buổi tiệc chìm hẳn xuống. Tôi thầm ước nguyện, dù tôi không phải là người theo đạo Muslim, tôi cũng xin thánh Ala sớm cho chị Haizati được toại nguyện như lòng chị hằng mong muốn.

Xếp police nói: "khi ra khỏi vùng biển này, tôi không còn lo cho anh chị được nữa, chúc anh chị gặp may mắn và thượng lộ bình an. Sang đến dãy Timor, anh chị đừng lên bờ nữa, phải tránh police vì bên đó là vùng biên giới họ kiểm soát rất khắc khe. Anh chị cũng không nên cho tàu đi gần bờ".

Một chị người Madura nói: "ở đảo Timor, cả người Kupang và Timor đều theo đạo Công giáo, không có người Muslim sinh sống bên đó. Hai người nên nhận là người Muslim, nếu gặp trắc trở cứ khai là ở đảo Lambet". Rồi chị chỉ dẫn cho chúng tôi rất kỹ về hòn đảo Lambet, và dạy cho tôi đếm những con số bằng ngôn ngữ Madura. Sau đó, mọi người đã nói rằng, Inda đã nói tiếng Indo khá rồi, không còn ngọng nữa, cứ nói là người Madura không ai nghi ngờ gì nữa đâu.

Sáng sớm hôm sau, tàu chúng tôi nhổ neo rời bến. Những người bản xứ mới quen ra tiễn chúng tôi rất đông. Hai bên chia tay trong sự bịn rịn và tiếc thương. Nhóm phụ nữ ai cũng ôm hôn tôi và khóc nức nở. Tôi khóc sụt sùi trong cảm xúc dâng tràn, mãi cho đến khi bóng dáng họ đã mất hút ngoài tầm mắt, tôi mới dịu xuống.

Con tàu chúng tôi tiếp tục đi dọc đến hết dãy đảo mới đi băng qua biển Sawu để sang Kupang. Lúc này, chúng tôi đi trên vùng biển Sawu thật là đáng sợ. Tuy đã hết bão nhưng sóng vẫn lớn thật kinh hoàng, tàu phải tăng tốc lực chạy tối đa cả ngày lẫn đêm. Màu nước biển Sawu không đen ngòm như trong lòng họng Sumbawa. Nó không là màu xanh ngọc bích mà luôn luôn xanh thẩm. Tuy cũng là sóng lượn nhưng rất lớn, những con sóng cứ liên tiếp vút lên cao, chồm tới như muốn nuốt chửng lấy con tàu nhỏ bé của chúng tôi. Trong tình huống này, chúng tôi không thể nấu nướng gì được, chỉ dùng đồ ăn đã nấu sẵn. Vì trước khi ra đi, tôi đã nấu rất nhiều xôi và thịt gà mang theo. Trên tàu cũng có khá nhiều bánh, nhưng trong tâm trạng lo âu hiện giờ chúng tôi không thể nào ăn được. Tàu cứ lắc lư, ngồi không vững, tinh thần luôn bị căng thẳng, từng giây, từng phút phải trực diện với cái chết. Chúng tôi đi trong cơn hấp hối kéo dài thật đáng sợ.

Tội nghiệp cho con tàu bé nhỏ, nó đã tận lực chiến đấu với biết bao con sóng. Lúc trước đậu trong hàm cá, tàu và sóng cứ như quấn quýt bên nhau, lắc lư qua lại không ngừng suốt cả đêm khiến chúng tôi phải mệt nhừ không ngủ được. Còn bây giờ, nó lại phải chịu dưới sự điều khiển của chúng tôi, đang hết sức đương đầu với sóng to biển lớn. Nó như một dũng sĩ lâm trận, xông pha đạp lên xác quân thù mà hướng tới mục tiêu.

Đã ba ngày ba đêm trên biển Sawu, lúc nào cũng gặp sóng lớn. Nhưng cũng may không phải chịu cảnh mưa gió. Nếu gặp mưa to gió lớn nữa thì có lẽ sóng sẽ còn dữ dội hơn nhiều, không biết đâu mà lường.

      Trước đây, khi đi trên biển Kalimantan, cứ cho tàu chạy một ngày một đêm thì chúng tôi tắt máy thả trôi trong một giờ để dưỡng máy. Nhưng bây giờ, trên vùng biển Sawu này, chỉ cần giảm nhỏ máy xuống cũng đã nguy hiểm, chứ đừng nói đến chuyện tắt máy thả trôi. Nếu tắt máy, tàu sẽ bị sóng đánh lật ngay tức khắc.  Chúng tôi nhìn nhau buồn rầu, nhưng vẫn cứ phải chạy liên tục ngày đêm không ngừng nghỉ, chắc máy sẽ hư dọc đường và chúng tôi phải chết mất!

Con tàu tiếp tục đi trong sự lo lắng hồi hộp muốn bứt tim. Hết một giờ rồi thêm một giờ, một ngày qua rồi một ngày tới, đã năm ngày năm đêm đi qua mà chúng tôi vẫn chưa nhìn thấy quần đảo nào cả. Chồng tôi nói: "anh là thợ máy nên biết con tàu sẽ không còn chạy thêm được bao lâu nữa, có lẽ tàu sẽ nó không thể đến được Kupang. Máy tàu thuộc loại nhỏ lại đã cũ, nên trước sau gì cũng phải hư." Anh hỏi tôi: "em nghĩ gì khi biết chắc rằng mình sẽ phải chết?". Tôi đáp lại: "nghĩ gì bây giờ, đã biết chắc mình phải chết không thoát được thì nghĩ gì nữa cho thêm mệt óc!"

      Nhưng tàu vẫn cứ chạy, hết sáng đến chiều, ngày này qua ngày khác, máy vẫn nổ đều, chẳng có dấu hiệu gì cho thấy nó sắp tắt thở, có lẽ chúng tôi chỉ quá lo xa mà thôi. Nhìn quanh trên biển, tôi nói: "sao đi hoài không thấy tàu đánh cá, phải chi vùng biển này có tàu đánh cá thì không còn lo sợ phải chết".

      Chồng tôi nói: "sức em bơi nổi giữa biển này hay sao? Đừng nói giỡn, chỉ hai con sóng đã đủ tắt thở rồi!"

      Ý của tôi không phải là sợ máy hư, tàu chìm chờ tàu đánh cá cứu. Làm sao họ cứu kịp, vì sóng lớn thế này nếu hư máy là tàu bị chìm ngay, mà người cũng không thể bơi được bao xa. Tôi chỉ hy vọng có tàu đánh cá, chúng tôi sẽ nhờ họ kéo dùm mình vào gần đảo, kiếm chỗ dưỡng máy rồi lại đi tiếp. Nhưng rồi chẳng nhìn đâu ra một chiếc tàu đánh cá hay bất kỳ bóng dáng một con tàu nào khác.

Chồng tôi nhìn những con sóng lớn đang chụp xuống mũi tàu, anh lo lắng: "có lẽ tàu mình không qua được đêm nay em ạ, nghe tiếng máy là anh biết".

Tôi nhìn những can dầu và nói: "không biết vùng này có cá mập không nhỉ? nếu mình ôm can dầu, có lẽ cũng nổi được khá lâu".

Chồng tôi reo lên: "một ý kiến hay!". Lập tức, anh nói tôi lấy can mang lại cho anh. Tôi cầm 4 cái can đã hết dầu, dùng dây kết chung lại cẩn thận. Anh nhìn tôi làm và nói: "vậy là được rồi, chắc lắm rồi". Mặt trời vừa lặn màn đêm chụp chụp xuống rất nhanh, bóng tối dày đặc bao quanh. Chúng tôi cùng nhìn cái máy tàu mà lo lắng, chẳng biết có qua được đêm nay nữa không? Mặt biển cuồn cuộn sóng, biết con sóng nào sẽ đến nhận chìm chúng tôi? Suốt cả đêm tôi không thể nào ngủ được, ngồi nhìn biển và suy nghĩ ngợi mông lung. Tôi nhớ đến con, mà nghe nóng cả ruột gan!

Tôi nghiệm lại trong suốt cuộc hành trình, những lúc chúng tôi gặp hiểm nguy sắp chết đều là những đêm tối trời. Cái đêm trên biển Sumbawa, tàu chúng tôi chạy suốt không thể ngừng được, và hôm đó trời cũng tối đen như đêm nay. Trước mắt, sóng lớn cứ nối tiếp nhau nổi cuồn cuộn, nhưng con tàu nhỏ bé của chúng tôi vẫn cứ hùng dũng lướt đi băng băng cỡi trên đầu sóng. Tôi hồi hộp đếm từng khắc thời gian...

Và kìa! Ánh bình minh đang trải hồng trên mặt biển! Nhìn bầu trời xanh trong và sóng biển êm dịu hơn hẳn những ngày qua, chúng tôi cảm  thấy nhẹ nhàng và sướng vui khôn tả! Cám ơn Thiên Chúa đã quan phòng cho những ngày hiểm nguy! Tôi nhìn thấy một quầng mờ mờ, như vậy là tàu chúng tôi đang đến gần dãy đảo Kupang rồi. Thế là chúng tôi đã thoát chết!

***

 

Một kiếp giang hồ

      Chúng tôi cấp tốc chạy về hướng đảo, mong tìm được nơi trú cho tàu dưỡng máy rồi mới đi tiếp. Tàu chạy đến trưa thì chúng tôi nhìn thấy rõ dãy đảo Kupang, nhưng đi mãi cho đến tối vẫn chưa đến được cận đảo. Nhưng rồi bổng dưng... máy tàu ngừng chạy! Dù đã có chuẩn bị tinh thần nhưng tôi cũng không tránh khỏi phải rùng mình. Không phải do trời đêm xuống lạnh, mà tôi rùng mình vì nghĩ rằng chúng tôi sắp phải chết trong đêm nay.

Con tàu cứ lắc lư hết bên này sang bên kia, nhồi lên hụp xuống theo con sóng như muốn hất chúng tôi văng xuống nước. Tay tôi cố ôm thật chặt sườn tàu. Ngồi mà giữ cho vững đã là khó, đàng này lại còn phải một tay lo bấm đèn pin cho chồng tôi xem xét máy. Anh phải buộc dây vào mình và bò đi từng chút, từng chút một. Chồng tôi ráng sức quay máy tàu, nhưng quay muốn rã rời cánh tay mà máy tàu vẫn cứ ì ra. Máy tàu giờ này chỉ là một cục sắt vô dụng, nó đã kiệt sức và tàn tạ sau những ngày dài dốc toàn lực để vượt đại dương với biết bao sóng gió.

Tôi nói với chồng tôi:

- Anh ráng coi nó hư chỗ nào để sửa chữa, em vẫn chưa muốn chết!

- Thì anh cũng có muốn chết đâu! nhưng nếu đến giờ tận số thì đành phải chịu, chứ đêm tối thui lại sóng lớn, ngồi còn không vững thì làm sao mà sửa được tàu.

Như vậy là chúng tôi đành phải ngồi chờ tử thần đến rước. Hai chúng tôi ngồi bên nhau, tay níu chặt lấy sườn tàu, con tàu trôi được phút nào là  sự sống của chúng tôi kéo dài đến phút ấy. Tàu cứ lắc lư mãi nhưng không lật. Tôi khó chịu vô cùng. Tim, gan, phèo, phổi như đang lộn xà ngầu ở trong người. Cứ ngồi mãi như thế chịu không nổi, tôi nói:

- Đằng nào cũng chết, thôi thì lật tàu chết quách đi cho rồi.

Tôi hỏi chồng tôi:

- Nếu thật sự đời người có luân hồi thì kiếp sau anh muốn làm cái gì? Nói rồi, tôi hét lớn lên, muốn cho bể toang lồng ngực vọt máu ra mà chết.

- Anh muốn làm cái gì? nói ngay đi!

- Anh đang suy nghĩ.

- Trời ơi! chết đến nơi rồi còn suy nghĩ lâu la chi nữa!

Rồi chẳng chờ chồng tôi trả lời, tôi lại la to lên lần nữa:

- Chồng tôi tên Hồng Công Đắc, vì kiếp này bị câm, xin kiếp sau Chúa cho làm con vẹt, suốt ngày nói "vượt biên... vượt biên".

- "Không, tôi không làm con vẹt!" Chồng tôi la lên phản đối.

- Anh làm con vẹt vì kiếp này anh bị câm!

- Tôi không làm vẹt! tôi không bị câm! tôi không làm vẹt!

Chúng tôi cứ la, cứ hét giữa biển khơi bao la như vậy. La hét thật đã. Bỗng dưng nghe "ục" một cái, con tàu bị giật mạnh, nước chảy ào ào vô tàu. Tàu chúi mũi xuống biển.

- Ra ngay, đá đâm bể tàu rồi!

Anh kéo mạnh tay lôi tôi xuống biển. Chúng tôi ráng hết sức bơi ra xa con tàu. Sau khi tận lực bơi được một quãng khá xa, chúng tôi cứ ôm chặt chùm can làm phao cho người nổi lên mặt nước. Hai đứa nói với nhau, tàu đụng phải đá là đã gần bờ rồi, nhưng đêm tối đen biết đâu là bờ để bơi vào.

Thời gian trôi qua thật nặng nề và chậm chạp, người tôi thấm lạnh và tay chân tê cóng. Bám lấy can phao đối với với tôi lúc này là một việc vô cùng khó khăn. Tay tôi dường như không còn cử động bình thường nữa. Tôi nuốt một ngụm nước biển mặn chát, rồi thầm nghĩ: "hay là mình chịu chết bây giờ đi; đằng nào cũng phải chết, cứ nấn ná, bập bềnh như vầy mãi gặp cá mập nó phập cho một cái đứt đôi còn đau đớn hơn nữa."

Tôi run lập cập nói với chồng tôi:

- Em buông tay đây, không còn sức bám can nữa... Và tôi khóc.

Nhưng rồi chồng tôi vẫn cố tìm cách cứu vãn. Anh lần sợi dây buộc can vòng ngang thắt lưng tôi và cột chặt.

Chúng tôi cứ dập dềnh trên sóng nước như thế cho đến lúc nhìn thấy con đường xe chạy. Khi nhìn thấy đường, chúng tôi mới biết đã được sóng đẩy vào gần bờ. Mừng vui khôn xiết, chúng tôi bơi thục mạng vào bờ.

Chồng tôi vốn là dân đi biển, anh bơi rất giỏi, vừa bơi vừa kèm giúp tôi. Tuy tôi bơi cũng khá nhưng chỉ quen bơi trong hồ. Giờ này tôi đã quá mệt, sau một đêm ngâm mình dưới nước và bị sóng nhồi liên tục. Nhìn thấy bờ cứ tưởng gần, nhưng chúng tôi phải ráng hết sức, bằng tất cả năng lực mới bơi nổi vào bờ. Mệt muốn đứt hơi, chúng tôi nằm bất động trên bãi cát. Nằm thật lâu mới lấy tỉnh táo lại đôi chút, nhìn đồng hồ tay đúng 4 giờ sáng! Bãi biển giờ này còn vắng tanh, chúng tôi dìu nhau tìm một chỗ khuất tạm ẩn trú vì không muốn người ra bãi biển bắt gặp. Mặt mày, thân thể chúng tôi bây giờ thật khó coi vì bị trầy xước khắp nơi, máu chảy còn lưu dấu vết nhiều chỗ. Trên người hai vợ chồng chỉ mặc cái áo thun và quần cụt. Toàn thân tôi ê ẩm, nhất là hai bắp chân và hai đùi đau nhức kinh khủng. Mệt rã rời, tôi muốn được ngủ một giấc thật dài, giờ này mà được ngủ một giấc là điều tuyệt vời nhất. Nhưng không sao ngủ được, toàn thân tôi cứ run lên và ớn lạnh vì nằm nơi trống gió, và thân tôi đã bị ngấm nước quá lâu. Nằm xuống rồi, càng lâu càng thêm lạnh, nhưng vì mệt quá tôi không thể gượng dậy nổi. Tôi cứ nằm bất động và suy nghĩ mông lung. Tôi nghĩ tới viễn ảnh tương lai mù mịt, sau cuộc hành trình dai dẳng và đầy gian nan, nay con tàu đã từ giã cõi đời, chúng tôi không còn cách nào để đi Úc được nữa.

Tôi biết Đông Timor vừa mới độc lập và tách rời khỏi sự kiểm soát của chính quyền Indo, nên nảy ra ý định đi sang đó để làm thuê làm mướn kiếm sống, rồi sau tiếp tục tìm đường đi sang Úc.

Đường đi Đông Timor khó hay dễ để từ từ sẽ tính, ngay bây giờ phải tìm cách mua áo quần để mặc coi cho được một chút. Tôi vẫn sợ bị police bắt, sẽ không bao giờ có ông Swast thứ hai để cảm thông cho chúng tôi một lần nữa. Với hình dạng như thế này mà đi ra đường thì tránh sao không khỏi bị bắt. Tôi sờ lên mặt với những vết đá cắt rát buốt, nhìn tay chân mình mẩy cũng mang đầy thương tích. Tôi nghe đau rát khắp ngìời, trở mình một chút cũng đã là khó, làm sao có thể đi đâu mà mua áo quần đây?

Cũng may là tôi không bị mất tiền. Tiền đô mang theo từ Việt Nam và tiền Indo do người dân Sumbawa tặng vẫn còn đầy đủ cả. Tôi đã may một cái túi thật chắc vào quần đùi, bỏ tất cả tiền vào đó, nhờ vậy, trong cơn hoạn nạn dập vùi với sóng nước đêm hôm qua mà tiền không bị mất. Quả là một phước lớn! Tôi nghĩ rằng với số tiền đang có sẽ giúp chúng tôi sang được vùng đất Đông Timor.

Nhưng ngay bây giờ phải lo đi mua đồ mặc, không thể cứ nằm ì một chỗ như thế này. Nếu chần chờ đến trưa hay chiều mà đi ra giữ phố đông người sẽ bị bắt là cái chắc. Tôi coi bản đồ kỹ lắm, biết được thành phố Kupang ở ngay sát bãi biển, nơi chúng tôi đang nằm dưỡng sức.

Tôi lay chồng tôi dậy và giục phải đi mua quần áo ngay. Anh không chịu ngồi dậy nên tôi cứ nói hoài nói mãi cho đến khi anh chịu đi mua sắm mới thôi.

Nói là đi mà khi đứng lên mới thấy vấn đề, hai chân tôi đau nhức không sao chịu nổi! nhưng sợ chồng tôi nản chí lại nằm bẹp xuống ngủ nữa nên tôi phải ráng hết sức bước đi. Mỗi bước đi là một cực hình, đau muốn khóc được, nhưng vì sự sống còn, nên bằng mọi giá phải cố gắng đến cùng.

Chúng tôi xuống biển tắm rửa, lột áo quần ra giặt, vắt cho ráo nước rồi mặc lại vô người. Bây giờ chúng tôi chính hiệu là "lãng tử giang hồ, nhất y nhất quởn" Cái áo tôi mặc, giặt vò hoài mà nó vẫn cứ đen thui. Khó nhất là mái tóc của tôi, nó lỡ cỡ không đủ dài để cột, mà để cho buông xuống thì nhìn chẳng giống con giáp nào, nước mặn quện lại thành từng lọn rối nùi và cứng ngắt. Tôi phải nhúng nước biển cho ướt tóc rồi dùng mấy ngón tay gỡ cho tưa ra từng chút. Tôi cố vuốt đầu tóc cho gọn ghẽ lại và cột tóc bằng sợi dây gai nhặt được trên bãi biển.

Chúng tôi dìu nhau đi từ từ dọc theo bãi biển, một lúc chúng tôi tìm được một lối đi lên bờ. Cũng may, thành phố Kupang ở sát bờ biển nên không phải đi xa, nhưng phố xá hiện giờ còn đang ngu: vùi vắng tanh. Trước mắt chúng tôi là một dãy phố, tôi đoán là dãy shop nhưng còn đóng cửa im lìm. Đi thêm một đỗi, gặp một căn shop đã mở cửa. Shop này trông cũng khá lớn, nhìn vào trong thấy họ treo đủ loại quần áo. Mừng quá, chúng tôi liền băng qua đường đi ngay vào cửa tiệm.

Đáp lại những lời chào làm quen thật niềm nở của chúng tôi là sự xua đuổi tàn nhẫn. Chị chủ shop vội vàng đi ra đuổi chúng tôi như đuổi bọn ăn mày. Tôi nhìn chồng tôi rồi lại nhìn xuống thân tôi, quả thật cả hai giống y chang dân cái bang vừa trải qua một trận ác chiến với thương tích đầy mình. Tôi tần ngần đứng lại tính tìm lời nói với chủ shop, nhưng chưa kịp nói gì thì chị ta quơ chổi đuổi đi, miệng la ó um xùm, đi mau! đi mau!...

Tôi cắn môi muốn chảy máu để kìm lại tiếng khóc không cho bật ra. Tôi ráng nói nhỏ nhẹ:

- Chị ơi, chúng tôi không phải người xấu, chúng tôi chỉ muốn mua quần áo thôi!.

- Đi chỗ khác mua, đi ngay! Chị ta xua tay lia lịa, một tay lăm lăm cây chổi.

Tôi bực tức đi ra đường, nhưng nhìn quanh không có một tiệm nào mở cửa nên tôi đành dẹp tự ái quay lại năn nỉ:

- Xin chị bán cho tôi 2 cái sarong, xong rồi tôi sẽ đi ngay. 

Chị ta hỏi:

- Có tiền không?.

Tôi xoè tay ra cho chị ta nhìn thấy tiền. Chị ta nhìn tôi một lúc rồi nói:

- Đứng đó đi, tôi mang sarong ra cho, mà chị muốn mua loại nào?

- Tôi muốn mua loại sarong 20 ngàn rupiah.

Nhưng chị ta nói:

- Ở đây không có sarong loại 20 ngàn, chỉ có loại 25 ngàn thôi, mua không?

Tôi gật đầu và cố kềm hãm mình để khỏi chửi vào mặt chị ta, vì tôi đến mua đồ mà chị ta cứ nhìn tôi với ánh mắt coi chúng tôi còn tệ hơn lũ ăn mày mạt hạng.

Tôi không phải người Indo nhưng tôi khá rành giá cả về sarong, vì khi đi chợ ở Bali tôi đã mua sarong, và lúc còn ở Sumbawa tôi theo chị Haizati đi chợ mấy lần. Sarong loại mắc nhất  là 300 ngàn rupiah đến loại rẻ tiền nhất là 20 ngàn rupiah.

Nhìn ánh mắt khinh bỉ của chị chủ shop này tôi giận lắm, mua đồ tôi trả tiền hẳn hòi mà coi tôi y như đi xin ăn. Tôi ráng nuốt giận đưa đủ tiền cho chị ta vô trong lấy sarong. Được sarong rồi tôi định mua thêm vài món nữa nhưng chủ shop không chịu bán mà cứ như muốn đuổi chúng tôi đi. Chồng tôi không hé miệng nói một câu nào, anh nắm tay kéo tôi đi tuốt ra đường. Thiệt không biết nói sao cho thấu cái tình cảnh đời khốn khổ của chúng tôi trong lúc này.

Đi thêm một đoạn phố nữa, chúng tôi gặp vài nhóm học sinh mặc đồng phục cắp sách đi học. Tôi đến gần định hỏi thăm thì mấy cô bé lom lom nhìn chúng tôi không chịu trả lời mà ù nhau bỏ chạy.

Tôi đói bụng quá, ước gì có hàng quán nào như ở Việt Nam để vào mua một khúc bánh mì, một dĩa xôi ăn đỡ đói. Nếu được một tô phở lúc này thì không còn gì sung sướng và hạnh phúc bằng. Nhưng lạ thay trên phố chúng tôi đi không nhìn thấy một cái quán bán thức ăn nào cả. Bước đi từng bước thất thểu, cuối cùng tôi ngồi bệt xuống đường, không còn đủ sức lê chân được nữa.

Nghỉ mệt một chút, tôi nói với chồng tôi:

- Bây giờ có sarong để mặc rồi, mình đi xuống bãi biển ngủ một giấc anh nhé.

Nhưng chồng tôi lại muốn tìm khách sạn. Theo ý anh, thì chui vô khách sạn ngủ một giấc cho đã rồi mọi chuyện tính sau.

Tôi đang mệt lã người, hai đùi đau nhức không thể tả, mà khi nghe chồng tôi nói vậy cũng đâm ra phì cười. Được như vậy thì còn gì bằng. Nhưng nơi đây xứ lạ, trong mình không có miếng giấy tùy thân, cộng thêm cái hình dáng bệ rạc như vầy thì làm sao mà đi vô mướn khách sạn cho được?! Có lẽ vì mệt quá nên anh không nghĩ đến những điều đó và quên ngay chuyện mới vừa rồi đi mua đồ đã bị người ta xua đuổi như đuổi tà.

Chúng tôi dìu nhau trở lại bờ biển, vừa đi chồng tôi vừa càu nhàu: "Lên phố mua đồ cũng đòi đi cho bằng được, rồi bây giờ xuống bãi biển cũng đòi bằng được. Thứ cứng đầu cứng cổ gì đâu!"

Tôi mệt quá chẳng còn sức đâu mà nói. Kệ! anh cứ tha hồ cằn nhằn miễn là chịu xuống bãi biển nghỉ là được rồi. Chúng tôi tìm được một chỗ rất kín đáo, một khoang trống trong khối đá lớn. Nằm xuống rồi ngủ lịm dần vào giấc ngủ lúc nào không hay.

***

 

Trôi nổi giữa dòng đời

Khi chúng tôi thức giấc thì nắng đã chói chang, nắng làm rát da mặt và toàn thân,  người tôi nóng hâm hấp như muốn sốt. Đã 3 giờ chiều, bãi biển lác đác người đi lại hay ngồi ngắm biển, đám con nít chạy chơi tung tăng, nô đùa với sóng. Tôi để ý không thấy một người nào mặc sarong, họ mặc quần; một số phụ nữ mặc áo đầm.

Chúng tôi đi trở lại phố. Buổi chiều tấp nập người qua lại, nhưng cũng không thấy ai mặc sarong cả. Những cô gái bán quà bánh vỉa hè cũng môi son má phấn coi rất điệu.

Ghé vào shop chúng tôi mua mỗi người một bộ quần áo và mặc liền ngay tại chỗ. Chúng tôi mua dép; chải đầu lại cho tươm tất, trông mình cũng giống những người sinh sống ở đây. Ăn cơm xong, chúng tôi mướn hai xe ôm chở đi vòng vòng ngắm phố, cuối cùng, tìm một khách sạn ngủ qua đêm.

     Hai người chạy xe ôm cho chúng tôi biết, ở thành phố này có rất nhiều khách sạn, hạng sang 50 ngàn rupiah một đêm; hạng rẻ nhất 20 ngàn rupiah. Chúng tôi đến khách sạn loại rẻ nhất, nhưng vì không có giấy tờ nên phải trả tiền gấp đôi. Chủ khách sạn chỉ cho chúng tôi ở một đêm, ông ta nói nếu police biết sẽ phạt rất nặng.

Dù còn đang mệt nhưng sau khi được ăn uống no nê, tắm rửa sạch sẽ, chúng tôi thấy khoẻ khoắn hẳn lên. Giở tấm bản đồ ra, chúng tôi bàn đến cuộc hành trình tiếp tục vào ngày mai. Bằng mọi giá, chúng tôi quyết tâm phải vượt biên giới sang Đông Timor.

Nơi chúng tôi đang ở là thành phố Kupang thuộc Tây Timor. Đông và Tây Timor chung một dãy đảo mà thuộc hai quốc gia. Tây Timor vẫn còn dưới sự kiểm soát của Indo; còn Đông Timor mới tách ra thành một quốc gia độc lập. Ranh giới giữa hai nước là một dãy núi dài trùng trùng, điệp điệp. Thông thương giữa hai nước là hai con đường dọc sườn núi, chạy sát bờ biển mỗi bên. Một đường đi tới thành phố Dili và một đi Suay thuộc Đông Timor.

Sáng nay chúng tôi rời Kupang để đi Atambua, nơi có cửa khẩu thứ nhất đi sang Dili. Đường đi không mấy khó khăn, chúng tôi đi xe bus. Xe chạy khá nhanh, vừa đi chúng tôi vừa ngắm cảnh vật chung quanh cũng như một người khách bình thường. Phong cảnh Tây Timor không có gì đặc sắc lắm.

Người Indo ưa nói chuyện, họ mau mồm mau miệng, cứ mỗi lần xe lên xuống dọc đường là họ tíu tít thăm hỏi nhau cứ y như là những người thân trong nhà vậy, khiến cho tôi phải e dè. Tôi mua một tờ báo ngồi đọc để tránh nói chuyện với họ. Giả vờ đọc báo nhưng thực ra có biết chữ nào đâu, vậy mà tránh trời cũng không khỏi nắng. Tôi mới lật vài trang thì lập tức bị một phụ nữ ngồi cạnh khều hỏi "chị ơi! có tin gì về Timor không?"

Nhìn tóc chị ta quăn tít tôi biết ngay chị là người Đông Timor. Tôi đưa báo cho chị đọc, giả đò bị cận mà quên không mang kiếng. Nói chuyện với chị, tôi được biết tháng Tám này Đông Timor có bầu cử. Bây giờ mới đầu tháng Hai, còn tới sáu tháng nữa Đông Timor sẽ bầu một chính quyền mới. Nếu ráng vượt biên qua đó trước ngày bầu cử, chúng tôi sẽ xin nhập quốc tịch để đi bầu. Ý nghĩ này khiến chúng thấy phấn khởi, quên hết nhọc mệt.

Chiều tối xe đến Atambua, bác tài đưa chúng tôi đến khách sạn, bác thật là tử tế, không lấy thêm tiền mặc dù từ bến xe chạy đến khách sạn cũng khá xa. Bác còn chỉ cho chúng tôi một quán ăn rất ngon và rẻ.

Làm thủ tục ở khách sạn này rất dễ, không bị hỏi han nhiều như ở Kupang. Chủ khách sạn là người Hoa, dù biết chúng tôi không có giấy tờ nhưng ông ta vẫn tính giá như bình thường, 20 ngàn rupiah. Sau khi nhận phòng, chúng tôi đi ăn và đi lòng vòng ngắm đường phố. Đêm đó chúng tôi thức khuya, ngồi nói chuyện với người làm việc cho khách sạn, cậu ta người Đông Timor. Cậu ấy nói, đời sống ở Đông Timor dễ chịu lắm và khuyên chúng tôi nên qua Đông Timor sinh sống.

Tôi nói với cậu ta, chúng tôi là người Madura, đi dọc đường lỡ làm mất KTB rồi, vậy nhờ cậu ta xem có cách nào giúp chúng tôi qua Đông Timor được không?

Cậu ta nói: nếu không có giấy tờ thì không thể sang Đông Timor được, vì biên giới kiểm soát rất chặt chẽ. Muốn qua biên giới phải đi qua 3 trạm, 2 trạm của Indo bên này và 1 trạm của Đông Timor bên kia. Dân Đông Timor tỵ nạn ở bên này gồm khoảng 50 ngàn người. Họ cũng đang lần lượt đi trở về, nhưng bắt buộc họ phải làm passport.

Không thể đi qua cửa khẩu biên giới, chúng tôi bàn nhau tìm cách đi đường núi. Cả một dãy núi dài giáp ranh hai nước, chẳng lẽ không có con đường mòn nào đi xuyên qua được hay sao? Nhưng trước hết phải đi tới cửa khẩu Atambua để xem tận mắt coi ra sao đã. Nhưng không thể đi ngay như dự tính, vì nửa đêm chồng tôi lên cơn sốt. Hai cái mền sẵn trong phòng đem quấn hết cũng chẳng nhằm nhò gì, hết sốt rét lại nóng hầm hập. Suốt một đêm vật vã, sáng ra chúng tôi hỏi thăm để đi đến phòng khám bệnh tư nhờ bác sĩ chích thuốc.

Mua đồ ở Kupang mắc kinh khủng, một cái áo thun bình thường giá gấp bảy đến mười lần ở Việt Nam. Bác sĩ chích một mũi thuốc và cho thuốc viên uống 20 ngày phải trả 50 rupiah. Tôi không hiểu người dân ở đây làm những nghề gì để kiếm đủ tiền chi dụng cho cuộc sống.

Chích thuốc ba ngày thì chồng tôi khoẻ hẳn, nhưng khi hết bệnh, tánh tình chồng tôi lại giống một cụ già. Anh nản chí nói: "hay là mình đừng đi nữa, đi đường rừng sợ gặp thú dữ nó xé xác ra!"

Tôi nghe vậy mà phát bực. Trời ơi! không đi thì ở đâu? Nơi đây là đất Indo, ở lâu sẽ lộ mình là người Việt Nam, mà xét cho cùng nếu ở lại lâu cũng không có tiền để sống; mọi sinh hoạt tại thành phố Atambua đều mắc mỏ.

Sáng nay chúng tôi lên đường thật sớm, người làm ở khách sạn giới thiệu hai xe ôm chở chúng tôi đến cửa khẩu Atambua. Chúng tôi biết nếu đi xe ôm thì mắc gấp mấy lần đi xe bus, đi xe bus chỉ có 5 ngàn rupiah một người, còn đi xe ôm phải trả tới 100 ngàn cho hai vợ chồng. Lý do đi xe ôm vì hai người này nói rằng họ biết có một con đường nhỏ đi sang Đông Timor không có trạm kiểm soát. Nhưng đến nơi chúng tôi biết mình đã bị lừa, không có đường nào khác ngoài con đường phải qua trạm kiểm soát. Chúng tôi bấm bụng trả tiền cho hai chủ xe ôm mà không hé môi nói gì cả. Nhưng như vậy cũng chưa yên, hai người xe ôm cứ đi theo chúng tôi, bám chặt như đỉa đói. Chúng lải nhải: anh chị đi không được thì chúng tôi chở anh chị về lại khách sạn, chúng tôi sẽ lo làm passport cho anh chị đàng hoàng. Chúng nói có quen ông nọ, bà kia làm police v.v...

Biết là đã gặp phải người xấu, nhưng dứt được chúng cũng không phải là một chuyện dễ dàng. Nếu tôi là dân Indo, tôi đã kêu police bắt chúng rồi. Police nhan nhản khắp nơi, nhưng người sợ police là chúng tôi chứ không phải bọn xấu đó. Cuối cùng, để thoát khỏi hai tên xe ôm, chúng tôi liều mạng nhập vào hàng người Đông Timor đang đứng chờ hồi hương, họ xếp hàng để đi qua trạm kiểm soát.

Hàng người hồi hương dài thòng, mỗi người đề cầm sẵn Passport trong tay, khi đến trạm kiểm soát, nhân viên kiểm tra xong sẽ cho qua. Đến phiên chúng tôi chẳng có giấy tờ gì cả, chúng tôi lo quá hoá liều:

- "Thưa ông, passport là gì tôi không biết?".

Nhân viên kiểm soát hỏi:

- "Vậy KTB của hai người đâu?"

- "Thưa, chúng tôi bị mất KTB rồi!"

Thế là họ kêu chúng tôi vào trong văn phòng. Tôi sợ quá, bắt đầu khóc chảy nước mắt, rồi nói:

- "ở Kupang có kẻ cắp".

Cả đám nhân viên cười ồ lên, họ nói:

- "Trời ơi, ở đâu mà không có kẻ cắp, tại hai người không chịu giữ đồ cẩn thận dó thôi!"

Tôi cãi lại:

- "Ở nơi tôi ở không có người ăn cắp, nhà chúng tôi mở cửa cả ngày đêm, có bỏ nhà đi chơi suốt ngày cũng không bao giờ bị mất gì cả".

Họ hỏi:

- "Nhà anh chị ở đâu?

- "Nhà chúng tôi ở đảo Lambet, Madura."

- Hai người đi Đông Timor làm gì vậy?

Tôi nói:

- Vì nhớ đứa con gái nên chúng tôi đi thăm. Con gái tôi sống ở Dili, xin quí ông cho chúng tôi qua trạm.

Họ nói:

- Không được đâu, anh chị phải về Madura làm passport!

Mới ngồi một chút thì có một ông lớn tuổi đi đến, có lẽ ông ta là boss ở đây. Tim tôi thấy hồi hộp, lo sợ bị bắt một lần nữa, và chắc chắn lần này sẽ không còn gặp may nữa đâu. Tôi không muốn nhìn ông ta mà chỉ biết khóc, còn ông ta thì đứng lại nhìn tôi. Có lẽ ông ấy nghĩ tôi khóc vì bị mất tiền nên hỏi:

- "Hai người bị mất bao nhiêu tiền?"

Trong đầu tôi nghĩ ngay đến những lời chị người Madura dặn trước: phải đếm tiền bằng ngôn ngữ Madura. Tôi vừa lần ngón tay vừa đếm những con số bằng tiếng Madura. Tôi run nên không nói ra được lời nào.

Ông ta ngồi trầm ngâm một hồi rồi hỏi:

- "Tại sao muốn sang Đông Timor mà không đi làm passport?"

Tôi hỏi lại:

- Passport là cái gì? từ nhỏ đến tôi không nghe nói đến. Tôi có KTB muốn đi đâu thì đi, cần gì đến passport. Mấy năm trước con tôi đi Dili đâu có đi làm passport.

Ông ta nhìn tôi:

- Lâu lâu gặp phải mấy người ở đảo nhỏ, thiệt là khổ!

Rồi ông giải thích:

- Trước đây, con anh chị đi Dili không cần passport vì lúc ấy Đông Timor còn thuộc về Indo, biết chưa? Nay thì khác rồi, muốn sang đó phải làm passport. Thôi hai người trở về nhà đi làm passport đi! Ông ta đưa tờ passport cho tôi coi:

- "Đây, passport là cái này này, hai người đã biết chưa?

Tôi năn nỉ:

- Chúng tôi nhà nghèo, đường đi xa xôi, xin ông cho chúng tôi đi sang Đông Timor! Nếu đi về nhà, chúng tôi không còn tiền để đi nữa.

Ông ta nói:

- Không được đâu, nếu tôi cho anh chị đi qua trạm này, đến trạ thứ hai người ta không cho thì cũng quay về. Hoặc giả như cả hai trạm bên này cho anh chị đi, thì khi sang bên kia, trạm thứ ba, họ cũng sẽ không chấp nhận. Bên đó là Đông Timor. Nó khó lắm!.

Chồng tôi bấm vào đùi tôi. Tôi hiểu anh muốn nói "thôi, đừng xin thêm nữa, họ không bắt là may rồi, nói nhiều lòi cái giả dối ra thì chết!'.

Tôi buồn rầu nên không nói thêm gì nữa. Còn ông ta thì có vẻ ái ngại:

- "Đến đây lại phải quay về, tốn tiền quá. Anh chị còn đủ tiền mua vé tàu trở về không?"

Tôi gật đầu im lặng. Ông ta chép miệng:

- "Thiệt là khổ cho mấy người ở đảo nhỏ, không biết cái gì hết".

Chúng tôi nói lí nhí mấy lời cám ơn ông ta, chào mọi người rồi đi ra ngoài.

Ra khỏi trạm kiểm soát, tôi thở một hơi dài khoan khoái. Thật hú vía! Nhìn quanh không thấy hai tay lái xe ôm đâu, bọn này nghĩ vợ chồng tôi là người ngoại quốc xa lạ nên bám theo để moi tiền. Khi thấy chúng tôi ngang nhiên bước vô trạm kiểm soát, có lẽ họ nghĩ chúng tôi là người Indo thật nên đã bỏ ra về rồi.

Để tránh phiền toái với mấy tay xe ôm, chúng tôi lên xe bus ngay. Khi về gần đến thành phố Atambua, chúng tôi nhìn thấy hai tay xe ôm đó cũng đang trên đường về. Chúng tôi hụp đầu xuống tránh không cho chúng nhìn thấy.

Về đến bến xe Atambua, chúng tôi đi ngay vô chợ. Cái chợ này khá dài khiến cho tôi nhớ tới chợ Bà Chiểu, mà nó có vẻ cũng giống giống chợ Bà Chiểu thật. Khi đi hết chiều dài chợ, chúng tôi đến một bến xe khác. Ở chỗ này xe nhiều quá, chúng tôi lên xe đi về Buas. Đến Buas, trời còn sớm, chúng tôi đi tiếp đến thị trấn Betun.

***

 

Sầu đong càng lắc càng đầy,

Ba thu dồn lại một ngày dài ghê. (Kiều)

 

Con đường này chạy dọc theo dãy núi ngăn đôi hai miền Đông và Tây Timor. Dọc đường, tôi căng mắt nhìn vào bên trong núi, dãy núi cao khít liền nhau, không thấy có đường mòn nào xuyên qua. Cây mọc trên núi chằn chịt, rậm rạp, bạt ngàn bất tận, không có cách nào để băng qua núi được. Tôi thấy thất vọng vô cùng!

 Vùng núi này vắng vẻ quá, chẳng thấy có mấy nhà dân ngoài các trại lính.

Trên xe chỉ còn lại hai chúng tôi, bác tài hối chúng tôi đi xuống, tôi hỏi:

- "Đây có phải là Betun không?" Bác tài nói:

- "Từ đây đến Betun còn 7 cây số nữa, chúng tôi hãy xuống chờ xe khác để đi tiếp".

Vậy mà lúc lên xe, chúng tôi nhìn thấy bảng đề chữ Betun rõ ràng, chú nhỏ lơ xe cũng nói xe đi về Betun. Người ở đây sao họ gian dối quá!

Chúng tôi xuống xe, chờ hoài không có xe bus đi Betun, mà lính đi đầy đường làm cho chúng tôi càng lo sợ. Dân ở đây rất ít, nếu lính thấy chúng tôi là người lạ, hỏi giấy tờ là hỏng rồi. Thế là chúng tôi không dám ngồi một chỗ mà lội bộ đi từ từ. Đi được một đoạn, thấy có một đường nhỏ đi vào chân núi, mừng quá, chúng tôi đi ngay vô. Đây là lối đi vào chân núi đầu tiên kể từ đầu dãy núi Atambua đến đây.

Trong xóm nhà dân lụp xụp, vách đất nghèo nàn, chúng tôi ghé vào nghỉ trong cái quán duy nhất của xóm. Cái quán thật là nghèo: một cái chõng tre nhỏ vừa bày đồ bán, vừa dùng để ngồi. Đồ bày bán chỉ vài gói mì, vài gói bánh kẹo.

Để làm quen, tôi mua hai gói mì, nhờ chủ quán nấu dùm luôn. Cô chủ quán bụng chửa vượt mặt, mang mì đi nấu. Mì mang ra còn sống nguyên, cô ta nấu mì bằng nước trong bình thủy không đủ nóng. Thực ra, mua mì chỉ để làm quen, chứ chúng tôi không đói, vì mới ăn tại Buas. Tôi hỏi mấy đứa nhỏ, có muốn ăn thì ăn dùm. Chúng vui mừng bê lên ăn sì sụp ngon lành, thấy tội nghiệp quá. Tôi mua thêm bịch bánh chia cho chúng. Bánh kẹo ở đây cứng y như đá vậy, mấy đứa nhỏ ráng ghé răng vô cắn, chắc mẻ hết răng. Khu này toàn là dân tỵ nạn Đông Timor, họ cũng đang chờ làm thủ tục trở về quê cũ.

Lúc mới vào xóm, chúng tôi hy vọng con đường mòn này xuyên qua núi sang Đông Timor. Nhưng nó lại là con đường cụt. Chờ lúc vắng người, tôi hỏi cô chủ quán có cách nào giúp chúng tôi sang Đông Timor không? Cô ta gọi các anh chị trong nhà ra, họ cho chúng tôi biết, muốn sang Đông Timor không qua trạm kiểm soát thì chỉ còn cách duy nhất là vượt biển. Nhưng dân ở đây nhát lắm, họ không dám chở chúng tôi qua biển, vì sợ lính. Có thể bị bắn chết do lính bên này hoặc lính bên kia. Những người cũng cho chúng tôi hay, đừng hy vọng đi đường núi sang Đông Timor, vì cả dãy núi trùng điệp ngăn đôi 2 miền này không hề có đường băng qua núi. Họ khuyên chúng tôi nên về Madura làm passport, không thể nào khác hơn được.

Chúng tôi mướn xe ôm đi đến Betun. Đường đi Betun chạy quanh quẹo theo sườn núi, đường lồi lõm, sứt lở, rất khó đi. Khi đi qua một khúc quẹo, tôi nhìn thấy một xe tải bị đâm xuống vực, chiếc xe bị bẹp rúm thấy mà ghê, chắc là những người trên xe đều chết cả.

Betun là một thị trấn nhỏ, không có nhiều khách sạn như Kupang và Atambua, duy chỉ có một khách sạn để bảng hiệu "Star". Khách sạn này lớn và đẹp. Tôi không có tiền để vô đó, mà dẫu có đủ tiền, chắc chủ khách sạn cũng không dám chứa chúng tôi.

Người chạy xe ôm nói rằng, ở đây có vài khách sạn nhỏ, anh đưa chúng tôi đến nhưng đã hết phòng. Nói là khách sạn cho sang, chứ thực ra, nó chỉ là nhà trọ, không đề tên mà phòng thì nhỏ xíu. Khi chúng tôi đến cái thứ 3 thì có phòng còn trống, đúng hơn là không có khách. Ông chủ khách sạn đòi 30 ngàn Rupah một đêm và ông ta chẳng thèm quan tâm đến giấy tờ. Ông chỉ hỏi sơ qua chúng tôi là người vùng nào thế thôi. Ông nói, chúng tôi muốn ở đây bao nhiêu ngày tùy ý, cứ đưa đủ tiền là xong.

Chúng tôi đi thăm dò tất cả những con đường vùng này, cứ đi hết xe bus này đến xe bus khác, đi đến cuôi mỗi bến xe rồi lại về, không thấy có con đường nào đi qua dãy núi sang Đông Timor. Cửa khẩu bên này không cho dân đi qua, và khắp nơi, đâu đâu cũng thấy lính.

     Đọc hai bên đường từ Betun đến cửa khẩu Murtamau là nơi ở của dân tỵ nạn Đông Timor. Nhìn dân Đông Timor thì biết ngay: tóc họ quăn tít, và cái làm tôi sợ nhất là dân họ hầu như 100% đều ăn trầu thuốc, miệng mồm ai nấy đỏ lòm, phát ớn. Ai cũng mang kè kè hộp trầu và thuốc xỉa cặp bên hông, họ nhai cả cục thuốc thật to ở trong miệng.

Chúng tôi làm quen với dân tỵ nạn Đông Timor và đi vào chơi khắp các trại. Nhìn cuộc sống của họ ở đây khiến cho tôi nhớ về Galang quá chừng. Nhưng đời sống của họ còn khổ hơn dân ở Galang rất nhiều. Chính phủ Indo chỉ cho họ gạo đủ ăn ngày 2 bữa, tất cả mọi thứ sinh hoạt khác đều phải tự túc. Họ nói cả năm không ăn được một miếng thịt, tiền đâu mà mua. Họ trồng rau lang, củ mì để ăn độn cơm. Con cái trông nhếch nhác rất tội nghiệp. Đã vậy, nhà nào cũng đông con nên lại càng khổ hơn. Mỗi lần vợ chồng tôi đến trại là cả lũ con nít chạy ra reo mừng hớn hở. Thật ra, chúng chờ tôi đến để cho kẹo. Lúc nào tôi cũng để sẵn kẹo trong túi để chia cho từng đứa.

Trẻ con ở đây ăn uống không được đầy đủ, đứa nào cũng ốm nhom ốm nhách, cuộc sống khó khăn, cha mẹ chúng lo không xuể nên cũng lơ là. Có bữa đang ngồi chơi, thấy đứa bé con chạy bị té, nó đau và khóc điếng người. Tôi chạy lại bồng nó lên, xoa cái trán bị dập tím, nhưng cha mẹ nó thì ngồi cười như chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Họ còn nói, chị đừng lo, con nít mà, té rồi tự nó đứng dậy, đâu có sao! Tôi chợt thoáng buồn rồi thầm nghĩ đến chị Haizati. Thật tội nghiệp, chị vẫn đang khao khát có một đứa con để nựng nịu mà vẫn chưa được!

Ngã tư Murtamau có một cái quán lớn, bán đủ thứ. Cả tuần nay chúng tôi đã đi hết vùng này, đi đâu rồi cũng ghé lại quán, ăn vài cái bánh hay uống nước để làm quen với chủ quán. Nơi đây chỉ duy nhất một cái quán này thôi.  Quán dựng bạt ra sát ngoài đường, trước mặt là đường đi vào núi, có một bản dân sống trong đó, phía sau là đường xuống biển Murtamau, bên trái là đường về Betun, bên phải là đường vào cửa khẩu sang Đông Timor.

Hai vợ chồng chủ quán rất tức cười, cứ mỗi lần chúng tôi đến là họ ra hiệu cho nhau, có lẽ họ nghi chúng tôi không phải người Indo. Vừa nói chuyện với chúng tôi họ vừa ra hiệu nháy mắt, rồi khều tay, khều chân nhau. Tôi nhìn thấy mà tức cười, vì họ ra hiệu một cách lộ liễu quá, nhưng tôi không cảm thấy e sợ gì cả.

Thời gian này chúng tôi đi lang thang khắp nơi, chẳng còn biết sợ là gì. Tôi chỉ ngại có chuyện rắc rối khi phải gặp chính quyền mà thôi, còn đối với người dân thì chẳng nhằm nhò gì. Trong trại tỵ nạn dân Đông Timor, vài tháng trước họ đánh chết cả nhân viên cao ủy.

Chiều nào chúng tôi cũng đi tới cửa khẩu, đến gần sát trạm kiểm soát thì đi trở ra. Chúng tôi muốn xem thử có cách nào qua mặt được hai trạm kiểm soát bên này hay không? Nếu thoát khỏi 2 trạm này, đến trạm thứ 3 bên kia thì khoẻ. Bên đó là lính Đông Timor, chúng tôi sẽ nói thật cho họ biết chúng tôi là người Việt Nam, nếu họ có bắt luôn cũng không sao.

Chiều nay, vừa ở cửa khẩu đi trở ra, chị chủ quán rối rít ngoắc chúng tôi vào. Tôi hơi ngạc nhiên trước nhiệt tình bất ngờ của chị. Bước vô quán, chúng tôi gặp hai người lính. Chị chủ quán giới thiệu hai người lính là người  Madura. Thì ra, họ muốn thử xem chúng tôi có thật là người Madura hay không?

Vợ chồng tôi nói chuyện với họ rất vui vẻ. Hai người lính nói, nơi họ ở cách đảo Lambet "nơi quê hương tôi" không xa, họ đã từng đến đảo Lambet chơi nhiều lần, nhưng cũng đã khá lâu, không biết bây giờ Lambet có thay đổi gì không? Tôi kể cho mọi người trong quán nghe về "Lambet quê tôi":  Lambet là một đảo nhỏ, tất cả dân đều theo đạo Muslim. Người Lambet rất hiền hoà, đối xử với nhau rất tử tế. Ở Lambet không hề có ăn cắp, nhà nhà mở cửa đêm ngày mà không bao giờ lo đến chuyện bị trộm cắp. Thật ra, ở Lambet có rất ít nhà làm cổng, họ để cửa nhà mở suốt ngày mà đi chơi cũng chẳng có mất mát gì, kể cả các shop buôn bán cũng vậy. Xe Honda có bỏ quên ngoài bãi biển cả tuần lễ vẫn y nguyên, chẳng ai đá động tới. Vùng biển Lambet có rất nhiều cá, còn cây xoài thì nhiều vô kể. Tới mùa, xoài ở đây rẻ như bèo.

Hai vợ chồng chủ quán xuýt xoa, người ở Lambet sướng quá, hơn hẳn người sống ở đây.

Tôi hỏi hai người lính, hai người đã từng đến Lambet chơi, vậy có biết đặc điểm gì đáng nhớ ở Lambet hay không? Tôi kể tiếp cho họ nghe: Người Lambet không bao giờ giàu, mặc dù ở Lambet muốn làm giàu cũng dễ dàng thôi. Dân Lambet nhà nào cũng có tàu đánh cá, nhưng họ đi biển kiếm đủ để đổi gạo và mọi thứ cho nhu cầu sinh hoạt mà thôi. Đủ rồi họ nghỉ, chờ ăn hết tiền mới chịu đi tiếp. Ở Lambet nước uống có mùi vị hôi, nếu người nơi khác đến sẽ rất khó ăn cơm. Đó là nỗi khổ của người Lambet.

Tôi vốn có một trí nhớ trời cho, những gì tôi đã ghi vào đầu sẽ được giữ mãi nhiều năm vẫn không phai. Khi chị ở vùng Madura kể cho tôi nghe về vùng Lambet, tôi ghi nhớ tất cả, và giờ này tôi đem kể như một cuốn băng chiếu lại.

Sau khi nghe tôi kể, hai người lính trẻ gật gù, đúng y Lambet rồi; họ công nhận vợ chồng tôi là người Lambet một trăm phần trăm. Còn chủ quán thì nói, cả tuần nay họ nghĩ chúng tôi là người Malaysia.

Mọi nghi ngờ của họ nay đã được giải toả, tất cả đối với vợ chồng tôi hết sức thân thiện. Tôi nhờ hai người lính trẻ giúp đỡ vợ chồng tôi qua trạm kiểm soát sang Đông Timor. Chủ quán cũng nói thêm vào để giúp chúng tôi. Hai người lính dù là thân thiện nhưng họ vẫn không dám giúp. Họ một mực khuyên chúng tôi về Madura làm passport. Tôi hỏi chủ quán: có con đường nào vượt núi sang Đông Timor không?

Theo lời chủ quán nói, suốt dãy núi trùng điệp ngăn đôi hai miền, duy nhất chỉ có một con đường mòn xuyên núi sang Đông Timor, đó là lối vào bản dân thiểu số ngay trước mặt quán. Tuy nhiên không ai có đủ gan đi sang Đông Timor bằng con đường đó, vì phải leo qua nhiều núi cao, ở đó có nhiều phần tử sống ngoài vòng pháp luật, gặp phải là bị họ giết ngay. Họ giết người cướp của hoặc giết chỉ để lấy quần áo.

Nghe chủ quán nói chúng tôi cũng rởn tóc gáy, nhưng đang trong bước đường cùng, thôi thì liều một phen xem sao, cứ đi theo đường đó, may thoát được thì sang Đông Timor, bằng không thì chịu chết. Nhưng trước hết phải vô coi cho thấy đường rồi mới quyết định được.

Sáng hôm sau chúng tôi theo xe Lam vào bản. Đường vào bản này mỗi ngày chỉ có một chuyến xe Lam mà thôi. Khi ở Sumbawa, tôi đã đi thành phố núi chơi mấy bận. Đi mấy chục cây số cũng chỉ là đi vòng quanh theo triền núi, nhìn xuống vực sâu rất chóng mặt. Lúc đó, tôi khâm phục người Indo đã đẽo núi đá làm đường, và đặc biệt, tay nghề của các tài xế Indo. Nhưng bữa nay, chuyến đi này còn ghê gớm hơn. Những kẻ ngồi trên chuyến xe đi vào bản hầu như coi cái chết chẳng ra gì cả. Con đường chạy thẳng vô núi, càng vào sâu, dốc càng cao. Dốc núi gần như dựng đứng. Con đường lại có đầy dẫy ổ gà, xe cứ bò từng chút một. Lơ xe hầu như phải luôn phải đi bộ, 2 lơ xe đi hai bên, mỗi người vác một khúc cây vuông để chặn bánh không cho tuột xuống dốc. Nhiều lúc tôi thấy sợ toát mồ hôi, định xuống đi bộ cho chắc ăn. Nhưng nhìn thấy dân bản cứ thản nhiên ngồi trên xe ăn trầu xỉa thuốc, tôi lại tự ái, nghĩ chẳng lẽ tôi lại nhát gan hơn mấy người đó hay sao? Thế là, tôi quyết tâm thà có sợ chết cũng rán ngồi lại trong xe.

***

 

Xe cứ bò từng chút, từng chút, chậm hơn cả người đi bộ. Tài xế chạy đường này xem ra vất vả vô cùng. Sao họ không để dân gánh đồ đi ra chợ bằng đôi chân cho khoẻ, đỡ hồi hộp lo sợ? Khi xe đến đồn biên phòng thì quay ra. Tôi hỏi lơ xe: Sao không tiếp tục đi vô nữa? Cậu ta nói: Trong đó không có người ở và xe cũng không thể đi vô trong được  vì chỉ là đường mòn nhỏ xíu, người đi bộ cũng phải chống gậy mà đi.

Tôi nói, vùng rừng này đẹp quá, tôi muốn vô đó tham quan cho biết. Nghe tôi nói vậy, cả tài xế và hai người lơ xe đều nói: Đường trong đó không đi được đâu, người xấu ở trong đó mà thấy có ai vô là họ giết chết ngay. Họ đói lắm, họ quay chị lên than hồng nướng ăn cũng không chừng!

Lúc xe đi vô đã hồi hộp, còn bây giờ xe quay trở ra, xuống dốc còn phát ớn hơn, xe cứ chúi mui xuống phía trước. Ngồi trên ghế mà 2 tay luôn phải bám cho chặc, không thể ngồi ngay thẳng, cứ phải chúi nhũi đầu xuống. Tôi nghĩ dại, nếu xe chẳng may bị đứt thắng, nó sẽ lộn không biết bao nhiêu vòng xuống hố tuốt bên dưới. Lúc xe ra đến ngã tư, tôi thấy nhẹ người. Mấy giờ liền ngồi trên xe cũng chẳng khác gì bị tra tấn, sợ muốn chết được.

Thế là chúng tôi hết hy vọng đi đường núi sang Đông Timor. Đành xoay qua tìm đường biển. Muốn đi coi biển thì phải đi xe ôm, không thể đi bộ, vì đường ra biển rất xa. Xe bus hay xe Lam chỉ chạy trên đường lớn mà thôi, còn muốn ra sát biển phải xử dụng xe ôm.

Chúng tôi mướn 2 xe ôm đưa đi coi biển. Tôi chỉ vào bản đồ nơi cái eo giáp ranh Indo và Đông Timor rồi hỏi người xe ôm: Nơi này có tàu đánh cá không? Họ trả lời: Có chứ, có nhiều tàu lắm! Tôi nói: "chúng tôi muốn đến nơi đó coi tàu".

Hai người xe ôm chở vợ chồng tôi đi, nhưng dọc đường xe cứ phải ngừng lại để cãi vã, vì xe chở chúng tôi ngược chiều, không đi về hướng  như ý tôi muốn. Tôi nói họ đã đi sai đường, nơi tôi muốn đến là cái eo biển sát với vùng Suay của Đông Timor, tại sao lại chạy về Buas? Nhưng họ kiên quyết nói là họ đi đúng đường, và còn nói, nếu chở đến không đúng sẽ không lấy tiền.

Cứ tranh cãi mãi, cuối cùng, chồng tôi nói muốn xuống biển có lẽ phải đi đường vòng. Thôi thì cứ để họ chở, chớ cứ ngừng xe hoài lại càng lâu thêm. Thế là chúng tôi cứ để cho họ chở đi, không còn thắc mắc gì nữa, vì chúng tôi mới đến vùng này lần đầu, họ là dân bản xứ, làm sao chúng tôi rành đường hơn họ được.

Xe ôm chạy gần nửa ngày, hết đường lớn rồi xuống đường nhỏ, đi ngoằn nghèo liên tục. Cuối cùng, họ chở chúng tôi đến một nơi đóng tàu. Nhìn những con tàu còn đang đục đẽo dở dang, chúng tôi nhìn nhau thở dài. Thế là đi và về mất luôn một ngày!

Thấy vợ chồng tôi buồn, hai người xe ôm nói rằng họ không lấy tiền chúng tôi nữa. Nhưng chúng tôi vẫn trả công cho họ tử tế. Thấy họ là những người đàng hoàng, vợ chồng tôi dặn mỗi ngày đến chở mối cho chúng tôi. Được thuê chở mỗi ngày, hai người rất vui mừng và cám ơn rối rít.

Kiếm tiền ở vùng này rất khó khăn, khi chúng tôi mới đến khách sạn, mỗi ngày chị người làm đều xin giặt đồ cho chúng tôi. Tôi thầm kêu khổ, vì chúng tôi nào phải dân đi du lịch hay có dư tiền bạc mà mướn người giặt quần áo. Mỗi đứa chỉ có 2 bộ đồ để thay đổi. Sáng sớm ra đi, chiều tối trở về thì giặt quần áo luôn trong nhà tắm. Nhưng chị người làm cứ chờ chúng tôi về là đến xin giặt đồ. Nghe chị ấy kể: Vùng này trước kia làm ăn sinh sống khá dễ dàng, kể từ khi Đông Timor tách ra khỏi Indo, thì cuộc sống vô cùng khó khăn. Nơi đây là miền đất tận cùng của Indo, hàng hoá và mọi thứ sinh hoạt đều mắc gấp nhiều lần so với thời gian trước. Cuộc sống trở nên khó khăn, nhiều người phải bỏ đi làm ăn sinh sống nơi khác. Gia đình chị này đông con, 7 đứa con đều còn nhỏ, không đứa nào được cho đến trường. Lương tháng cố định chỉ có 50 ngàn Rupiah, không đủ nuôi con, chị kiếm thêm tiền nhờ giặt quần áo cho khách đến trọ. Mà khách ở đây hiện giờ chỉ duy có vợ chồng tôi!

 

Nghe chị kể lể thật tội nghiệp. Tôi nói với chị: Chúng tôi không có đồ cho chị giặt, nhưng mỗi sáng khi chúng tôi đi, nhờ chị ở nhà coi chừng dùm quần áo, nếu trời mưa thì lấy vô dùm. Từ đó, mỗi ngày chị đem quần áo của chúng tôi ủi rồi mang treo trong phòng đàng hoàng. Mỗi ngày tôi cho chị vài ngàn, chị mừng rỡ cám ơn rối rít.

Chị ấy có biết đâu tình cảnh của chúng tôi đang gặp khốn khó còn bi đát hơn chị nhiều. Nếu xài hết tiền mà chưa sang được Đông Timor thì chúng tôi biết làm gì để sống đây? Có lúc chúng tôi nghĩ: nếu gặp đường cùng thì chạy về Sumbawa ở nhờ chị Haizati một thời gian, khi nào làm có tiền thì lại đi tiếp. Nhưng biết tìm ai để mua vé tàu dùm chúng tôi đây? Một vé tàu từ Kupang đi về Sumbawa là 180 ngàn đồng, muốn mua phải có KTB. Chúng tôi từng ngồi trên bến Kupang nhìn người ta mua vé, không có KTB thì không còn cách nào mua được vé tàu.

Trong tình cảnh khó khăn này, chúng tôi sống tiết kiệm tối đa. Một ngày chỉ ăn một bữa ăn trưa, để dành tiền để ci dùng cho những chuyện cần thiết hơn. Sáng ngủ dậy bụng đã thấy đói, nhưng chúng tôi cứ đi hoài cho đến trưa mới ăn cơm. Ăn bữa trưa hôm nay, rồi ráng chịu đựng, chờ cho đến bữa trưa hôm sau mới được ăn tiếp, vì vậy ban đêm đói bụng thật khó ngủ. Không chỉ mình tôi mà cả chồng tôi cũng vậy.

      Nghĩ thiệt lạ, nhớ lúc còn trên biển, cả ngày đêm chịu mưa gió, ướt lạnh triền miên, trên tàu có đủ thức ăn mà không ai muốn ăn, có nhiều lúc trải qua mấy ngày sóng gió, chẳng ăn tí gì mà không thấy đói. Bây giờ, đêm nằm trong chăn ấm thì lại thấy đói chịu không thấu.

Sáng ra, tôi mua một cái bánh, để dành đến tối cho chồng tôi ăn. Tôi biết đàn ông nhịn đói dở hơn đàn bà, nên không nỡ để chồng tôi bị cái đói hành hạ. Nhưng chồng tôi không muốn ăn một mình mà nhường lại cho tôi. Cuối cùng, cái bánh được bẻ làm đôi, miếng lớn chồng ăn, miếng nhỏ thì vợ gặm. Ngồi ăn cái bánh mà hai đứa nhìn nhau ứa nước mắt: mai này, cuộc đời nổi trôi, dù sang hay hèn, sung sướng hoặc buồn khổ, chúng tôi vẫn luôn nhớ những ngày này mà yêu thương nhau nhiều hơn.

 Sống như vậy được 5 ngày, chồng tôi nói:

- "Không ổn rồi em ạ, anh thấy người mệt mỏi quá. Ăn như vầy mình sẽ đuối sức, lúc muốn băng núi sang Đông Timor sẽ không có sức đi nổi đâu."

Thế là, chúng tôi đồng ý mỗi ngày sẽ ăn hai bữa, sáng ăn rồi đi, chiều về ăn xong mới đi ngủ. Betun có một quán cơm rất rẻ, chúng tôi thường đến ăn ở đó. Nhưng quán lại ở gần đồn police, nên mỗi lần vào ăn đều phải ngó trước nhìn sau lo lắng phập phòng như kẻ trộm. Mỗi sáng ra đi chúng tôi mang theo chai nước. Chúng tôi rất ít khi mua nước trong quán, ngoại trừ khi cần để làm quen hay dò hỏi đường đi mà thôi.

Hai tuần nay, hằng ngày đi dọc bờ biển, những người dân sống nơi xóm chài đều biết mặt chúng tôi, nhưng họ không dám cho chúng tôi ngủ lại. Nếu họ dám chứa thì chúng tôi cũng sẽ ngủ lại nơi đó luôn mà không về lại khách sạn nữa. Người dân ở đây rất thân thiện nhưng khổ nỗi họ nghèo quá, cả một vùng chuyên sinh sống bằng nghề cá bao nhiêu đời mà vẫn không thấy ai có được tàu lớn. Họ đi đánh cá bằng những chiếc ghe buồm, cỡ như chiếc xuồng tam bảng ở VN. Mỗi buổi chiều trên bãi biển lại thấy nhốn nháo đám đông đàn bà, con nít, họ đứng đợi ghe của gia đình trở về. Những chiếc ghe sau một ngày lênh đênh trên biển đã chở về cho vợ con một niềm vui tràn đầy bằng những rổ cá con nho nhỏ, họ xúm lại ngồi nhặt ra từng loại, rồi đội các thúng cá lên đầu mang đi bán. Tôi nhìn số cá bắt về và nhìn đám đông lố nhố, rồi tự nghĩ, không biết họ bán có được đủ tiền để mua gạo hay không? Chưa nói đến đến nhiều thứ nhu cầu khác cần thiết cho đời sống. Con cái của họ, vì vậy, trông chúng cũng nhỏ thó, ốm o, thật tội nghiệp.

Khi đã quen thân với họ rồi, chúng tôi mới mở lời nhờ họ đưa chúng tôi qua biển sang vùng Đông Timo. Họ vốn nhút nhát, nên có năn nỉ cỡ nào đi nữa cũng không dám chở chúng tôi qua biên giới. Họ sợ bị lính bắn chết. Chúng tôi cố thuyết phục, nhờ họ chỉ chở chúng tôi đến vùng giáp ranh thôi, rồi chúng tôi sẽ tự bơi vào bờ bên kia. Chúng tôi chịu đưa tiền trước, nhưng họ vẫn không dám. Người nào cũng lắc đầu từ chối không dám mạo hiểm, đành tuyệt vọng chẳng biết làm sao hơn!

***

 

Nhìn cái eo biển, chúng tôi muốn liều ôm can bơi qua quá chừng! Nhưng vùng này cũng giống như vùng biển giáp biên của Atambua, nó trống trải, bơi trên biển dễ bị nhìn thấy và sẽ bị bắt ngay. Lính biên phòng nhan nhản khắp nơi.

Không thể đi được bằng đường biển, chúng tôi quay lại đường núi. Mỗi sáng thức dậy thật sớm, chúng tôi đi bộ dọc theo dãy núi biên giới từ Betun đến Atambua. Suốt ngày, cứ đi mãi đến chiều rồi đón chuyến xe khách cuối cùng trở về khách sạn ở Betun. Đi suốt một tuần, chúng tôi gần như thuộc lòng cả vùng núi dài trùng điệp, và chẳng thấy nơi nào có đường leo núi để qua phía bên kia.

Nghĩ lại trước đây, sống trên đất nước Việt Nam của mình, chỉ nhìn cảnh qua hình ảnh, biết quê hương qua sách vở, chứ có lặn lội, thám hiểm, tìm tòi trên từng vùng đất nước của mình bao giờ. Hôm nay, trên đất Indo tôi đi lại đến thuộc lòng từng ngọn núi, đo được khoảng cách những bãi biển bằng chính bước chân rát bỏng trên cát nóng mênh mông. Trong lòng tôi dâng lên niềm chua xót khôn cùng. Có lúc chán nản muốn gục xuống, buông xuôi tất cả. Quả thật, tôi đã mệt mỏi, sắp kiệt lực mất rồi. Thân phận người tầm trú, đi tìm tự do vô cùng gian nan, khốn khổ. Lúc này, ước gì tôi được như đám mây bay giữa trời, như làn gió thổi trên sóng biển rì rào cho đến muôn đời...

Chỉ còn duy nhất con đường vượt núi nơi cái bản dân thượng, hôm trước chúng tôi đã đi đến. Thôi đành chấp nhận,  không còn con đường nào khác. Chúng tôi quyết định cứ đi, dẫu rằng phải chết.

Chúng tôi đi mua một ít thức ăn khô chuẩn bị cho việc vượt núi. Mỗi người mang một giỏ thức ăn, đi xe lam vào vùng bản thượng. Chúng tôi bàn nhau, khi gần đến đồn lính biên phòng thì xuống xe, đi bộ sâu vô rừng tránh tầm quan sát của lính canh. Sau đó, thì nhắm đường vượt qua bên kia núi. Chồng tôi bàn: tôi nên đội khăn cho giống người thượng, và chồng tôi còn lựa mua cho tôi một cái áo bông đỏ và đen, như màu áo của các bà thượng thường mặc đi ra chợ mua bán nông sản hằng ngày.

Trong lòng đang buồn nản muốn buông xuôi tất cả, vậy mà khi tôi mặc đồ vào, chúng tôi nhìn nhau cười đến chảy nước mắt. Nếu dư tiền, mua thêm đôi bông tai bạc và miệng nhóp nhép nhai trầu, tôi sẽ trở người đàn bà thượng Indonesia!

Sáng nay ra đi, hai vợ chồng tôi đều mặc Sarong, quần áo bỏ hết lại khách sạn, chỉ mang theo đồ ăn và nước uống. Đồ ăn thì nhẹ nhưng nước thì nặng quá, khoác giỏ lên muốn xệ vai. Tôi nói chồng tôi bỏ bớt lại, nhưng anh nói: trời nắng như thiêu thế này, chuyện ăn không cần bằng uống, không có nước sẽ chết khát giữa rừng.

***

 

Một lần nữa phải lên xe lam đi vào bản thượng. Tôi quá ngao ngán cái xe này, nhưng đường xa cả chục cây số không thể vác giỏ đi bộ được. Hơn nữa, là người lạ, đi lạng quạng lính bắt thì vỡ mộng.

Khi còn cách đồn một khoảng khá xa, chúng tôi xuống xe đi băng vào rừng. Chồng tôi bẻ hai khúc cây làm gậy chống, chúng tôi cứ băng rừng mà đi. Đoạn rừng này cây không lớn nhưng khá rậm rạp, dây leo mọc chằn chịt quấn vào cây rừng. Đi băng rừng, tôi bị những nhánh cây chà xát rách cả tay chân. Nhưng tôi không sợ tay chân bị chảy máu, mà chỉ sợ gặp rắn. Tim tôi cứ phập phòng lo sợ trên mỗi bước đi. Vì mang dép, chứ nếu được mang giày có lẽ tôi tôi đỡ sợ hơn. Dù sao, tôi cũng khá hơn chồng tôi vì có cái khăn che mặt. Chồng tôi chỉ đội cái nón kết, mặt mũi bị cây quẹt trầy sước khắp nơi.

Chỉ mới có một đoạn rừng trốn tránh mà gian nan quá đỗi. Chúng tôi hoang mang không biết thật sự vì chưa biết có con đường mòn nào đi qua núi hay không. Khi đoán chừng đã đi được khá xa khỏi đồn biên phòng, chúng tôi băng rừng nhắm thẳng hướng đi lên núi. Quả thật, có đường mòn như người dân địa phương đã nói. Đường rất nhỏ, hai bên cây cối um tùm và cỏ mọc lan khắp lối đi. Nhưng thấy có đường là chúng tôi mừng rồi. Chúng tôi hăm hở chống gậy, dìu nhau lên tận đỉnh núi. Chân mỏi rã rời, chúng tôi ngồi xuống nghỉ. Gió rừng thổi vù vù, ở đây dẫu có nắng bao nhiêu đi nữa cũng không sợ nóng.

Đang chuẩn bị tính đứng lên đi tiếp, thì chúng tôi nhìn thấy một đám người từ trong rừng đi ra con đường mòn lưng chừng dốc núi. Lập tức, chúng tôi chui ngay vào bụi rậm trốn. Họ gồm bốn người đàn ông, mỗi người tay cầm con dao phát rẫy dài cả thước, vai khoác bị, họ đi rất nhanh chứ không chậm chạp như chúng tôi. Khi họ đi ngang qua chỗ nấp, từ trong bụi cây tôi nhận diện rõ từng người. Tôi vội nhét khăn vào miệng để khỏi buột miệng la hoảng. Trời ơi! họ den thui như cột nhà cháy, tóc quăn tít, rối nùi, miệng nhai trầu đỏ choét lại cầm con dao dài sáng quắc, khiến tôi thấy phát ớn lạnh.

Chờ cho họ đi xuống núi chúng tôi mới dám bò ra đường. Nhưng chúng tôi chưa dám đi ngay vì phải đi cùng trên đường mòn với  họ. Tôi cứ nhìn họ như bị thôi miên và rồi... cái miệng nó đã hại tôi!

Khi ở trên biển, lúc cần, tôi kêu cứu to lắm nên dân đứng sâu trong bờ họ cũng nghe được mà chạy ra cứu chúng tôi thoát nạn,  dù đang lúc trời tối. Lúc này, tôi sợ nhưng đã quyết không mở miệng ra, phải tuyệt đối im lặng, thế mà cái miệng nó không theo được ý của tôi. Khi nhìn thấy đám người nọ khua dao phạt vô đám cây bên đường, tôi phát hoảng buột miệng la lên á á á... rồi giật mình vội bụm miệng lại, nhưng... không còn kịp nữa rồi! Cả bốn người cùng quay phắt lại nhìn về phía chúng tôi, họ nói với nhau gì đó rồi cả bọn chạy ngược lên núi thẳng về nơi chúng tôi đang ngồi. Hồn vía lên mây, tôi đeo ngay giỏ đồ lên vai chạy xuống núi. Nhưng chồng tôi hét lên: "bỏ đồ lại!"

Chúng tôi bỏ lại cả hai giỏ đồ lột cả sarong ra, mặc quần đùi mà chạy. Được một đoạn. tôi ngừng lại thở hào hển. Nhìn lại đằng sau đám người đó không chịu dừng lại lấy hai giỏ đồ mà còn tiếp tục rượt theo chúng tôi. Ráng hết sức tôi gào lớn: "Chúng tôi không có tiền, chỉ còn hai cái sàrong thôi!" Chồng tôi ném thật mạnh 2 cái sàrong ngược lại cho họ, rồi chúng tôi chạy tiếp xuống chân núi.

Trên núi cao gío thổi vù vù thúc giục chân tôi chạy hoài, chạy xuôi xuống dốc tôi không thể nào ngừng lại được. Dù ráng hết sức để ngừng lại đừng chạy nữa, nhưng khó quá, đôi chân như cái máy, tự động chạy hết tốc lực xuống dốc núi. Nếu cứ chạy mãi thế này rồi tôi sẽ lăn xuống hố mà chết mất. Đường dốc dài, khúc trên nó thoai thoải, còn khúc dưới nó rất dốc. Phải tự cứu, phải hết sức cứu mình, phải ngăn lại cho bằng được sức đẩy của gió và độ dốc mà ngưng chạy! Tôi hét to lên, rồi cố giạt người sang bên đường có cỏ mọc rậm rạp, rồi té xuống đất và lăn xuống theo triền dốc. Thấy được một thân cây, tôi nghiến răng nhắm mắt ôm chặt lấy nó. Trời ơi, tôi nghe đau kinh khủng, cả hai chân tôi không thể cử động được. Có lẽ tôi bị gãy cả hai chân mất rồi, máu túa ra đầm đìa.

Một lúc sau, chồng tôi tới được bên tôi. Chúng tôi ôm nhau oà khóc nức nở.

Một lúc sau, chồng tôi tới được bên tôi. Chúng tôi ôm nhau oà khóc. Tôi cứ khóc mùi mẫn chẳng còn nhớ biết chuyện gì đang xảy ra, mãi một lúc sau, trí óc tỉnh táo lại, nhìn lên dốc núi tôi không còn thấy bóng dáng đám người đã rượt đuổi chúng tôi đâu nữa. Chồng tôi đi bẻ cây làm gậy cho tôi chống và dìu tôi đi. Nhưng tôi không đi được, hai chân tôi cứ cứng đơ, mỗi lúc một sưng lên nhiều hơn nên đành phải bỏ tôi ở lại. Chồng tôi đi xuống núi, vào đồn biên phòng cầu cứu. Cũng may, qua khỏi chân núi một đoạn, chồng tôi gặp một toán lính 5 người đang đi tuần. Họ đã cùng chồng tôi thay phiên nhau dìu tôi đi xuống núi.

Chiều xuống, chúng tôi mới về đến đồn biên phòng, mấy người lính đưa chúng tôi vào đồn và băng bó vết thương cho tôi. Hai chân tôi bị chảy máu khá nhiều nhưng vết thương không sâu, chỉ bị thương phần da thịt bên ngoài thôi. Riêng hai bàn chân, mắt cá bị sưng vù lên to tướng như chân voi, không biết, tôi có bị gẫy xương hay chỉ trật khớp?

Mấy người lính xúm lại hỏi chúng tôi, đi lên núi làm gì để xảy ra tai nạn thế này? Chúng tôi kể họ nghe: Vì muốn sang Đông Timor thăm con nhưng không có passport. Trạm kiểm soát ở cửa khẩu Atambua không cho chúng tôi đi, nhưng chúng tôi không muốn quay trở về, vì đã về rồi thì không có tiền để đi nữa, nên vợ chồng tôi đành liều mạng đi con đường này.

Họ chép miệng nói tội nghiệp cho chúng tôi, khuyên chúng tôi nên trở về quê làm passport, đừng đi vào con đường vừa rồi nguy hiểm lắm. Chính họ cũng không biết đường mòn có đi sang Đông Timor được hay không, vì sau quả núi nơi tôi bị té là một dãy núi cao cây cối rậm rạp, không thể leo qua. Lính biên phòng có đi tuần chỉ đi đến chân dãy núi đó thì quay trở về. Mỗi lần đi phải mang theo súng. Họ nói có nhiều phần tử xấu ở quanh quẩn trong đó. Họ cho rằng, đám người rượt chúng tôi chắc cũng chỉ là người dân thượng trong bản này mà thôi. Ở đây, nhà nào cũng có loại dao dài như vậy, dùng vào việc phát rẫy. Nhưng trong bản dân thượng cũng có người không tốt, gặp họ tại nhà thì không sao, nếu gặp trong núi vắng cũng có thể họ giết mình để lấy của.

Chuyến xe khách duy nhất trong ngày đã quay ra ngoài từ lâu, nhưng đến 6 giờ chiều có xe chở lính đến đổi ca trực. Chúng tôi đi nhờ xe lính ra đến ngã tư Murtamau.

Những người lính dìu tôi xuống xe với lời dặn dò: hai người mua vé tàu về nhà ngay nhé, đừng bao giờ vào đây nữa nha!

Tôi cám ơn họ mà rướm nước mắt. Tôi ân hận đã nói dối họ. Trước những người có lòng tốt với mình mà đi nói dối, lòng tôi áy náy không yên. Nhưng tôi khó có thể làm khác được trong hoàn cảnh này. Xin Chúa thứ tha tội đã nói dối của tôi và xin Ngài ban mọi sự lành cho những người tốt bụng này. Là những người xa lạ, nhưng họ đã yêu mến, cứu giúp chúng tôi tận tình.

Về đến khách sạn, chúng tôi được chị nhân viên ở đây hết lòng giúp đỡ. Chị đi nấu nước muối cho tôi ngâm chân, rồi đi đón thầy thuốc đến coi sóc thương tích cho tôi. Ông thầy nắn khớp chân khiến tôi đau điếng. Nếu miệng tôi không ngậm chặt cái khăn, chắc tôi đã rên la, kêu trời suốt đêm. Cũng may mắn, tôi chỉ bị trật khớp, nếu bị gãy chân thì còn khốn khổ biết chừng nào.

Tôi ngâm chân liên tục trong nước ấm pha muối. Hết ngâm nước muối lại bóp dầu.

Tôi muốn được mau bình phục, vì lo rằng tiền đã sắp hết. Chúng tôi chỉ còn lại hơn 100 đôla mà thôi. Nếu xài hết tiền rồi, chúng tôi sẽ ra sao? Nơi đây là vùng biên giới, việc kiểm tra giấy tờ khó khăn hơn những nơi khác. Mấy tuần sống nơi đây, chúng tôi chưa bị kiểm tra giấy tờ là một điều may mắn lắm rồi. Nhưng đó chỉ vì không đụng chạm với ai, chứ muốn sinh sống luôn chỗ này thì lại là chuyện khác. Vấn đề tránh né trình giấy tờ thật không đơn giản chút nào.

Thoát ra khỏi vùng này chỉ có hai con đường, một là vượt biên giới sang Đông Timor, hai là trở về Sumbawa xin tá túc nhà chị Haizati. Nhưng cả hai con đường đều bế tăc, vượt biên thì không xong, còn muốn quay về Sumbawa thì không mua được vé tàu. Suốt đêm không ngủ được, tôi cứ ngồi bóp chân và suy nghĩ tìm đường thoát.

Hôm nay, sau một tuần dưỡng đôi chân cho hết đau chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình. Lần này chúng tôi đi thẳng vào cửa khẩu Murtamau. Hai bên đường là nhà dân tị nạn Đông Timor, đi hết khu nhà dân là trạm gác của lính. Con đường này nằm theo sườn núi, không có dốc cao như đường vào bản thượng, cây cối ở đây mọc cũng thưa hơn.

Chúng tôi vẫn tính theo bổn cũ, băng rừng sau trạm lính mà đi, thoát được hai trạm lính Indo là lên đường đi bình thường. Đây là đường quốc lộ đi thông qua Đông Timor, đi khoảng 3 cây số là tới Đông Timor rồi. Nhưng phải làm sao thuyết phục người tị nạn Đông Timor để cho chúng tôi được đi nhờ ở phía sau nhà họ, vì đi lẽn phía sau trạm gác, không thể tránh được tầm mắt của người dân.

Trước khi đi chúng tôi mua đầy hai giỏ bánh kẹo, trái cây đủ loại. Chợ Betun cũng là bến xe, rất tiện cho việc đi lại. Mua đồ xong, chúng tôi lên xe, ung dung ngồi đến trạm chót. Xe chở đồ cho dân, tài xế lái xe vô tận sân nhà. Chẳng ngại ngần, chúng tôi xách 2 giỏ quà vô thẳng trong nhà. Chỗ này có 4 gia đình, 4 căn nhà chụm vào nhaư thấy chúng tôi vô họ chạy lại chào hỏi vui vẻ.

Tôi chia quà cho mọi người, trẻ con cũng như người lớn, xong xuôi, chúng tôi nói chuyện với họ. Phải một hồi lâu tôi mới dám mở lời xin đi nhờ phía sau nhà. Thật ra, sau nhà là rừng, họ chịu làm ngơ là chúng tôi đi ngay vào rừng, vào trong đó rồi cứ thong thả mà đi.

Lâu nay, tiếp xúc với người Indo tôi biết họ tốt bụng và rất tử tế nhưng họ nói hơi nhiều. Bây giờ sau khi nghe ý định của chúng tôi, họ nhao nhao rùm beng lên, chín người mười ý. Cuối cùng họ nhất định không chịu cho chúng tôi đi nhờ, họ còn gọi lính đến bắt chúng tôi. May thay, toán lính đến bắt chúng tôi lại có hai người lính Madura đã từng nói chuyện với chúng tôi trước đây nên chúng tôi không bị bắt. Toán lính cũng khuyên chúng tôi nên trở về quê làm passport đàng hoàng, đừng đi ẩu mà mất mạng. Thế là lại thất bại! Không thể nấn ná thêm mãi được, cuối cùng, chúng tôi quyết định một ăn một thua.

Sáng nay chúng tôi đi thật sớm khi có chuyến xe đầu tiên vào cửa khẩu Murtamau. Chúng tôi ăn mặc gọn gàng, chỉ một bộ đồ không xách theo gì hết, chân mang giày Bata chuẩn bị cho cuộc chạy trốn.  Chúng tôi định nhờ tài xế giúp chúng tôi vượt qua hai trạm gác. Lên xe, chúng tôi ngồi ngay cabin, lân la làm quen tài xế, nhờ họ giúp. Người tài xế đầu tiên không dám, cứ lắc đầu. Hai người kế tiếp cũng vậy. Đến người thứ tư  có vẻ do dự nhưng tôi cứ nói mãi, cuối cùng chúng tôi thuyết phục được anh ta.

Người tài xế nói, nếu chỉ vượt trạm đầu tiên thì không khó, giả bộ như mình quay đầu xe để ra trở lại. Vượt qua trạm thứ hai mới khó, trạm này có đông lính, nếu bị gọi lại mà không ngừng ngay họ dám nhả đạn vào mình dễ dàng. Bằng không khi trở ra tài xế sẽ bị bắt.

Nếu qua được trạm thứ nhất, có muốn băng vào rừng cũng chưa được vì đoạn này trống mà hai trạm gác lại gần nhau, một phía bên trái, và một ở bên phải. Nếu nhảy xuống giữa hai trạm thì chạy đâu cho thoát, lính vây chận hai đầu là bị bắt ngay.

Người tài xế lại do dự muốn thối lui, chúng tôi phải năn nỉ lần nữa. Chúng tôi thoả thuận, khi đến trạm thứ hai, lính gọi thì xe ngừng lại ngay, nhưng tài xế cố đậu xe ngang trạm hoặc khỏi trạm một chút. Được như vậy là tốt cho chúng tôi lắm rồi vì không thể đòi hỏi gì hơn. Không dễ gì kiếm được tài xế dám lái xe qua hai trạm gác.

Đã chuẩn bị, chúng tôi qua trạm đầu dễ dàng, ngồi hụp xuống lính không nhìn thấy. Đến trạm thứ hai, lính thổi còi bắt xe ngừng ngay. Lính chạy đến, tội nghiệp tài xế nói lắp bắp không ra lời. Trong khi lính nói chuyện với tài xế, chúng tôi tông cửa nhảy xuống chạy thục mạng.

***

 

Trở lại kiếp tù

Đám lính rầm rập đuổi theo, la hét hô đứng lại! đứng lại! nếu không sẽ nổ súng.

Kệ họ! chúng tôi cứ chạy. Nhưng cuối cùng rồi chúng tôi cũng bị bắt. Đám lính kè hai bên chúng tôi đưa về trạm gác. Họ vẫn tử tế không đánh chúng tôi.

Về đến trạm gác, chúng tôi gặp lại hai người lính Madura nên cả đám lính không ai hạch hỏi thêm gì nữa. Hai người lính Madura nói dùm chúng tôi tất cả mọi chuyện. Những người lính này thật là tử tế, họ vui vẻ đi pha cà phê cho chúng tôi, và tất cả đều khuyên chúng tôi nên trở về quê làm passport đàng hoàng. Nếu không có passport không thể đi sang Đông Timor, vì bây giờ hai bên là hai quốc gia riêng không còn như trước nữa. Họ nói, lúc nãy chúng tôi chạy như thế mà gặp lính Đông Timor là ăn đạn rồi, lính bên đó ác lắm.

Tôi nghĩ thầm, họ không biết tôi là người Việt Nam. Nếu qua đông Timor được rồi, tôi sẽ khai tôi là người Việt,  lính Đông Timor sẽ không giết tôi vì tôi không phải người Indo, đâu có thù oán gì với họ.

Thấy mấy người lính vui vẻ, vợ chồng tôi bàn với nhau: hoặc là nói thật với họ chúng tôi là người Việt Nam, xin họ cho chúng tôi sang Đông Timor; hoặc là trở về mua hai cái can tự bơi qua biển. Đã đến đường cùng rồi!

Nếu bơi qua biển cũng bị bắt, mà bị bắt dưới biển còn tệ hơn. Chi bằng bây giờ cứ nói thật, sẵn họ đang vui vẻ và đang ở chỗ thuận tiện này, biết đâu họ sẽ thương tình làm ngơ cho chúng tôi đi. Thế là chúng tôi nói với họ chúng tôi là người Việt Nam, xin họ giúp cho chúng tôi sang Đông Timor.

Tôi nói vừa dứt, cả đám trố mắt ra hỏi: hai người có nói đùa không? có thật là người Việt Nam không? Nhất là hai người Lính Madura coi có vẻ hốt hoảng: "Trời ơi! chết rồi, mấy ngày nay tôi nhận hai ngươi là dân Madura!"

Sau khi biết chúng tôi là người Việt Nam, những người lính vẫn đối xử với chúng tôi thật tốt. Họ muốn coi giấy tờ  nhưng chúng tôi chẳng có giấy tờ gì cả. Tôi nói với họ:

Tôi đã bị mất hết giấy tờ khi tàu chìm trên biển Kupang rồi. Nhưng bây giờ tôi còn 300 ngàn rupiah, tôi xin biếu hết cho anh em, chỉ xin cho chúng tôi được sang Đông Timor. Họ nói:

Dầu có cho họ 3 triệu họ cũng không dám giúp chúng tôi việc đó. Họ không dám nhận tiền, không giúp cho chúng tôi vượt biên, cũng không dám thả chúng tôi.

Không lâu, xếp của họ tới. Ông ta là lính Liên Hiệp Quốc, nhưng không rõ là người Úc hay người Pháp. Ông ta nói vắn tắt, đại khái chúng tôi bị giữ lại đây, chờ giao cho police. Nói xong, ông ta vội vã đi ngay.

Thế là hết. Lần này thì hết thật rồi, không còn hy vọng gì nữa. Nhưng tôi không khóc, ngồi yên lặng mà tinh thần vô cùng căng thẳng. Hai giờ sau police tới chở chúng tôi về đồn Betun.

Sau khi làm xong thủ tục, họ dẫn chúng tôi về Atambua giao cho police ở đó. Rồi chúng tôi được giao qua cho hải quan. Chúng tôi ngủ lại một đêm tại hải quan Atambua, hôm sau bị đưa về Kupang. Và bây giờ tôi đang đứng trước căn nhà thuộc Imigration Kupang. Trong khi chờ mở cổng, tôi nhìn bao quát căn nhà. Không thể nhìn vào bên trong vì nhà nằm thấp dưới mặt đường. Xung quanh nhà có tường cao bao bọc, phần trên là hàng rào kẻm gai .

Chúng tôi nói với nhau: Đây là nhà tù. Hôm nay là ngày 8 tháng 3 năm 2001.

Chúng tôi đã dồn tất cả tài sản để mua tàu ra đi. Ba tháng lênh đênh trên đại dương, chống chọi với sóng gió và cái chết. Một tháng lang thang trên các vùng đất nước Nam Dương, băng rừng, vượt núi, trải biết bao nỗi kinh hoàng không bao giờ quên được. Giờ này, kết quả là nhà tù! Ôi! sao cuộc đời mình quá chua cay, bi thảm!

Thế là hết, ước mong nhìn thấy vùng trời tự do như bèo bọt đã vỡ tan. Nó không còn gợi lên cảm giác ngọt ngào, mà trái lại, nó xót xa, nó cay đắng. Tôi nghe quặn thắt tim gan, cơ thể rã rời. Tôi hoàn toàn thất vọng.

 Cánh cổng sắt lớn được mở rộng, nhìn vào, tôi thấy mấy chục con người đang nằm hoặc ngồi trước sân. Thoạt nhìn, tôi biết ngay họ không phải người Nam Dương. Thấy có mấy đứa con nít, tôi thắc mắc, nhà tù sao lại có trẻ con? Chúng tôi đi vào cả đám người nhìn chúng tôi và gật đầu, tôi cũng gật đầu với họ nhưng trong lòng buồn bã vô hạn.

Sau khi xong thủ tục giấy tờ Ban quản lý trại dân chúng tôi đi nhận chỗ ngủ. Hai vợ chồng được ở một phòng nhỏ có một chiếc giường tầng. Nhìn tấm nệm thấy ghi chữ IOM, chúng tôi nói với nhau, đây là trại tỵ nạn. Tôi cảm thấy được an ủi phần nào khi biết nơi đây không phải là nhà tù. Thật là không ngờ, 5 năm trước rời Indo về Việt Nam. Bây giờ lại đến Indo chui vào trại tỵ nạn lần thứ hai!

Những người hàng xóm mới của chúng tôi chạy lại hỏi thăm, giới thiệu tên tuổi, quốc tịch. Tôi được biết ở khu nhà này có hơn 90 người gồm 3 quốc gia. Một nửa bên kia là người Afghanistan, nửa bên này là dân Iran, Iraq. Căn phòng chúng tôi nằm lọt giữa nhóm người Iran và Iraq.

Lần đầu tôi tiếp xúc với dân Trung Đông. Đối với chúng tôi, họ rất thân thiện, cả buổi chiều phòng tôi luôn chật ních người, họ hỏi thăm, an ủi, khích lệ tinh thần chúng tôi rất chân tình. Một người đã mang đến cho chúng tôi một tấm vải lớn dùng làm màn chắn thay cánh cửa ra vào phòng.

Đây cũng không phải là trại tỵ nạn, nó chỉ là một căn nhà của Imigration Indo dùng tạm giữ những người ngoại quốc đến Indo du lịch đã hết hạn passport, hoặc không có giấy tờ như vợ chồng tôi. Không ai ở đây quá một tháng, chỗ này chỉ là nơi tạm trú trong khi chờ hoàn tất thủ tục rồi chuyển về Jakarta. Những căn phòng được làm tạm bằng những tấm ván ép. Đó là những phòng dành cho gia đình. Khu giữa nhà có những giường tầng kê sát nhau dành cho đàn ông độc thân.

Ngay lúc này tôi không nhớ được tên ai, vì tên của họ rất khó phát âm. Tên của tôi đối với họ cũng giống như vậy, không ai phát âm được đúng tên tôi. Họ cứ gọi tên tôi Oe  Oe, nghe như tiếng mèo kêu, nghe buồn cười hết sức! Họ nói, phát âm tiếng Việt khó quá, nên đề nghị gọi chúng tôi là Vietnam cho dễ. Họ hỏi tôi có tên nào dễ gọi hơn không? Tôi nói tên Inda, và họ phát âm tên này dễ dàng. Thế là mọi người trong trại gọi tôi là Inda. Ban quản lý trại cũng dùng tên này gọi tôi.

Thời gian thấm thoát trôi qua, chúng tôi đã ở đây được một tuần. Nói riêng về đời sống sinh hoạt trong căn nhà này, so với Galang trước đây thì dễ chịu hơn nhiều. Ở Galang phải gánh nước trẹo vai, nhà nào cũng phải "làm heo" chứa nước. Những ai chưa từng ở Galang, nghe nói làm heo chứa nước thì rất ngạc nhiên. Galang có rất nhiều "từ" mới và đặc biệt của dân tị nạn. Ở Việt Nam, làm heo để lấy thịt ăn, nhưng Galang "làm heo" nghĩa là làm bồn chứa nước. Bồn đóng bằng cây, bên trong trải Plastic. Cũng vậy, ở ngoài nói tới xe ai cũng hiểu là xe hơi, xe đạp, xe gắn máy v.v... Còn ở Galang "xe" được hiểu ngầm là bồ bịch, tình nhân, là vợ tạm chồng hờ, là những mảnh tình lăng nhăng, đã chẳn mà còn có lẻ...

Trong căn nhà này, chúng tôi không phải lo về nước dùng hằng ngày. Nhà tắm được bơm nước mỗi ngày đủ cho mọi người. Cơm ăn ngày 3 bữa, có xe mang đến. Sáng ăn bánh mì, trưa cơm gà, tối cơm gà nướng, bữa nào cũng ăn thịt gà. Ở vùng này cá mắc, nên không bao giờ họ cho ăn cơm với cá. Mỗi tuần một lần, chúng tôi được phát sữa, đường, trà, cà phê, xà bông, kem đánh răng, bàn chải, bột giặt, nhang muỗi. Còn nước uống là nước suối do xe chở đến. Cứ vài hôm xe lại mang những bình đầy đến và đem bình không đi. Trong nhà có sẵn bình nấu nước, muốn nấu trà hay cà phê bất cứ lúc nào cũng được.

Về vật chất, thì nơi đây tương đối thoải mái hơn ở Galang nhiều. Nhưng về tinh thần thì chúng tôi cảm thấy vô cùng chán ngán vì không còn  một chút hy vọng nào cả. Chúng tôi biết sẽ bị đưa đi Jakarta làm cho xong các thủ tục, để rồi lại bị trục xuất về Việt Nam thêm một lần nữa.

Bắt đầu từ khi phải bỏ thuyền để lên bờ, tôi bị một triệu chứng kỳ lạ chưa bao giờ có. Cứ mỗi lần nằm xuống, bất kể là ngủ hay thức, hễ nhắm mắt là thấy tôi đang bay trong họng Sumbawa, bên dưới là biển cuồn cuộn sóng đen ngòm, trước mặt là dãy núi chạy lùi thật nhanh như trong những phim hoạt hoạ. Triệu chứng này khiến cho tôi bị chóng mặt. Những lúc đó tôi phải nằm im không cử động và không được mở mắt ra. Nếu cử động hay mở mắt thì lập tức tôi bị ói mửa. Ngay từ lúc tạm ở nhà chị Haizati, tôi đã gặp triệu chứng này rồi. Tôi đã nằm như chết suốt hai ngày. Chị Haizati phải đưa tôi đi khám bác sĩ  và chích thuốc. Khi vượt biển Sawu tôi còn đem theo thuốc của bác sĩ, một gói thuốc viên màu đỏ mà tôi không biết tên thuốc là gì.

Suốt một tháng ở Betun, tôi luôn bị triệu chứng này, nhưng mỗi sáng thức dậy là phải đi ngay cho đến tối mới về, mệt mỏi và buồn ngủ, nên chứng bệnh này dần dần bị đẩy lùi khỏi trí óc. Còn giờ đây, không có việc gì làm, cả ngày quanh quẩn trong căn nhà chật chội, nên nó lại tái phát trầm trọng.

Không biết đến bao giờ tôi mới thoát khỏi sự hành hạ tinh thần và thể xác mỗi khi những hình ảnh trong giấc mơ tại lòng họng Sumbawa trở về. Tôi rất sợ, nếu nó theo tôi mãi, thà chết sớm còn hơn. Thật khó hiểu, tại sao những gì tôi thấy lúc đã bị chết ngất giữa biển Sumbawa, lại còn rõ như in từng li từng tí trong trí óc tôi, và mỗi khi nó hiện về, tôi bị khổ sở vô cùng. Khi bị ngất trong lòng họng, tôi thấy tôi bay trên mặt biển nhẹ nhàng. Khi tỉnh dậy, tôi đâu có bị chóng mặt. Nhưng từ lúc lên bờ, tôi cứ bị giấc mơ ấy ám ảnh. Ngay cả những lúc tỉnh táo chưa ngủ, những hình ảnh này cũng hiện về. Tôi phải cắn môi chịu đựng cơn chóng mặt, với hình ảnh tôi bị trôi ngược với một tốc độ thật nhanh. Có những lúc chịu không nổi, tôi thét lớn khiến cho mọi người xung quanh chạy lại định đưa tôi vào bệnh viện.

Nhưng thực sự, cơn chóng mặt không lâu, chỉ vài giây mà thôi. Nếu nó kéo dài, thần kinh chắc chịu không nổi và có lẽ tôi đã bị điên mất rồi. Tôi sợ không dám nằm trên giường, cứ đi quanh quẩn trong nhà suốt ngày đêm cho đến khi mệt nhừ. Khi mà biết mình nằm xuống sẽ ngủ ngay, tôi mới lên giường. Tôi buồn vì chuyến đi thất bại, còn bị căn bệnh chóng mặt hành hạ khổ sở, nên có lúc tôi nghĩ đến chuyện tự sát.

Khí hậu ở Kupang này nóng kinh khủng, nóng gấp mấy lần ở Galang. Có lẽ, đây là nơi nóng hơn tất cả các vùng đất của Indonesia. Ở trong nhà nóng như lò lửa, chịu không nổi. Hễ thấy trời bớt nắng một chút là mọi người trong nhà túa ra sân. Cái sân bé tí với hơn 90 con người. Mặt xi măng bốc hơi nóng lên, nhưng ra sân để chờ gió. Gió mát ở đây cũng hiếm hoi lắm, thỉnh thoảng mới có một chút, rồi nó trốn biệt đâu mất.

Cái sân trước nhà, người ta ngồi kín mít mỗi buổi chiều. Họ tụ tập theo từng nhóm, chơi cờ, chơi bài, đánh Domino, kể chuyện, tán dóc... Trong lòng tôi không vui nên không thích tham gia, nhưng mọi người cũng chẳng để tôi yên. Thấy mặt tôi là họ tìm cách gạ chuyện, đòi tôi kể về Việt Nam cho họ nghe. Còn họ, kể chuyện Iran, Iraq. Họ muốn tôi dạy họ tiếng Việt. Đổi lại, họ dạy tôi ngôn ngữ nước họ. Lòng đang buồn mà gặp họ bu lại đòi học tiếng Việt, đòi dạy các thứ tiếng Trung Đông... tôi cũng bật cười.

Một người Iraq tên là Nazem lúc nào cũng kè kè cuốn tập. Gặp chúng tôi là mở tập ra, xổ một câu tiếng Việt. Tôi cười muốn thót ruột, mỗi khi nghe cái giọng liu líu, ngọng ngịu, phát âm tiếng Việt của Nazem. Một người tên Mohamad muốn dạy tôi tiếng Anh mỗi ngày để giết thì giờ, nhưng tôi không học. Học tiếng Anh để làm gì khi tôi không thể đi Úc được nữa.

Có điều kỳ lạ, ở đây tôi chẳng thấy ai buồn. Họ cứ ăn, chơi, cười đùa suốt ngày. Mọi sự coi rất bình thường. Ngày Tết của Iran, họ ca nhảy suốt đêm. Các vũ điệu Iran, Iraq, Afghanistan, Arabic... cứ thay nhau, họ nhảy hoài chẳng biết mệt. Dân ngoài phố kéo đến coi đông nghẹt, leo đầy chật kín hàng rào quanh nhà, ngay cả Ban quản lý trại cũng đến dự. Họ chụp hình lia lịa. Vợ chồng tôi cũng tham dự, ngồi  vòng quanh xem ca múa, ăn bánh uống trà, và cùng với một nhóm khác thay phiên nhau mỗi người hát một bài. Cái đêm này thật vui.

***

 

Chuẩn bị cho một chuyến vượt biên kế tiếp

Sống chung với người Trung Đông, tôi thấy họ dễ thân thiện, tử tế và họ có vẻ rất thích chúng tôi. Ngược lại, chúng tôi cũng rất quí mến họ.

Cạnh phòng tôi là một gia đình người Iraq, hai vợ chồng với bốn đứa con. Bốn đứa nhỏ đều xinh xắn, dễ thương. Cô bé út tên Reber, đẹp và dễ thương nhất trong bốn chị em. Reber mới được 8 tháng, mặt sáng tươi, cười suốt ngày không bao giờ thấy khóc. Beber được chuyền tay đi khắp trại, ai ai cũng thích bồng cô bé. Từ ngày có vợ chồng tôi đến đây, Reber hình như muốn phớt lờ người khác, mà lại thích theo vợ chồng tôi. Tụi tôi thay phiên nhau bồng bế bé cả ngày và đêm, thấy thương nó như  con ruột mình. Buổi tối, bé được mẹ cho bú, xong rồi bế qua giường tôi cho bé ngủ tới sáng. Hai gia đình qua lại ngày càng thân tình hơn.

Một hôm, Dilshad, ba của Reber, hỏi chúng tôi: "Còn muốn đi Úc nữa không?". Và Dilshad rủ chúng tôi hùn tiền mua tàu đi Úc. Sau đó, chúng tôi gặp Mohamad và Nazem, họ xác định toan tính này là thật và chính họ cũng muốn mua tàu, đang chờ gia đình chuyển tiền qua đây. Nhưng chúng tôi làm gì có tiền. Chồng tôi có một người Dì đang ở Úc, hy vọng sẽ được Dì giúp. Gia tài khi bị bắt, chúng tôi còn 300 ngàn Rupiah. Vào đây, chúng tôi xin ra ngoài để mua mỗi đứa một bộ đồ mặc đỡ. Tiền còn lại thì để dành đó, ngoài chuyện mua thuốc hút cho chồng tôi thì không xài thêm gì cả. Chồng tôi vốn quen hút thuốc, anh có thể nhịn ăn nhưng không thể nhịn hút thuốc. Anh đã gọi điện thoại cho người Dì. Nói mấy lần rồi nhưng Dì chưa trả lời có giúp được hay không?

Mỗi ngày, chồng tôi cùng mấy người trong trại đi coi tàu. Ngày nào cũng có người đến trại gọi bán tàu, nhưng đi coi cả tuần vẫn chưa tìm được cái nào vừa ý. Những người có tàu bán, họ biết chúng tôi đang bị giam nên cho giá cao tận mây không với tới được.

Đúng lúc này, chúng tôi được biết phải đi làm thủ tục chuyển về Jakarta. Mọi người hối thúc nhau ráng mua tàu để ra đi, nếu bị chuyển về Jakarta, không còn cách nào đi được nữa. Những người kia đã nhận được tiền của gia đình, riêng vợ chồng tôi không còn đồng nào, thậm chí, muốn đi gọi  cho người Dì cũng không có tiền. Số tiền để dành đã phải dồn hết cho những lần điện thoại trước rồi. Nay chỉ còn biết chờ đợi.

Trong trại này có 2 cái điện thoại di động, một của nhóm Afghanistan, một của nhóm Iran. Mọi người đều liên lạc gia đình qua 2 số điện thoại này. Chúng tôi cũng đã cho người Dì số này và mong ngóng từng giờ, nhưng chờ hoài vẫn không thấy.

Mấy người Iran, Iraq, mỗi ngày không biết bao nhiêu lần, đến hỏi chúng tôi: "sao Dì của bạn không phone tới? ai cũng có tiền rồi, mua được tàu là đi ngay, Dì của bạn không cho tiền thì làm sao?"

Làm sao? Tôi biết phải làm sao bây giờ? Họ cứ tới hỏi không biết bao nhiêu lần làm cho tôi muốn điên cái đầu. Tôi tìm cách đi bán ra ngoài tất cả những món đồ được phân phát trong trại để có tiền gọi điện thoại cho người Dì lần cuối. Chúng tôi được Dì trả lời cho biết, Dì đang gặp khó khăn, không thể giúp chúng tôi được.

Mới buổi sáng nhận được trả sự lời của người Dì, thì đến 2 giờ chiều, chúng bị gọi đi gặp big boss của Sở Di Trú Indo. Cuộc nói chuyện dài mấy tiếng đồng hồ khiến thần kinh tôi căng thẳng tột độ. Nội dung là chuyện đưa chúng tôi về Jakarta. Ông boss này nếu làm việc điều tra tội phạm, phạm nhân có cứng cỏi đến đâu cũng sẽ cung khai tất cả. Ông ta sắc xảo, khôn khéo và hiểu biết rõ ràng mọi chuyện. Đối thoại với ông ta, cái đầu tôi như muốn nổ tung.

Trên đường về trại, vợ chồng tôi bàn nhau là phải thoát ra khỏi tình cảnh này. Chúng tôi biết, những người bị nhốt chung với mình đã bàn việc ra đi của họ với ban quản lý trại. Có lẽ, ban quản lý cũng thuận tình cho họ mua tàu đi Úc. Chính vì vậy, mọi người được ở lại chờ chuyến đi. Còn phần vợ chồng tôi vì không có tiền, nên sẽ cho chuyển đi Jakarta trước ngày mọi người xuống tàu đi Úc. Có thể là ngày mai hay ngày mốt, chúng tôi bị về Jakarta. Tuy không biết đích xác lúc nào, nhưng sẽ không tránh khỏi phải làm các thủ tục trả về Việt Nam. Chúng tôi không muốn bị trả về VN và quyết định trốn trại.

Chuyện trốn trại ở đây rất dễ, vì mỗi ngày chúng tôi vẫn được đi ra ngoài mua đồ bình thường. Mỗi chiều, chúng tôi thường ra ngoài ngắm biển và đi lang thang ngoài phố. Cái quan trọng là sau khi trốn đi đừng để bị bắt lại. Đi đâu để kiếm được việc làm, sống được ở vùng này thật không dễ dàng chút nào. Ở đây, từ Kupang đến cửa khẩu Atambua và Murtamaư chúng tôi đã biết hết, để kiếm sống đã khó, còn muốn tránh bị bắt lại có phần khó hơn. Chi còn cách duy nhất là gọi chị Haizati, nhờ chị qua đây đón chúng tôi về. Duy chỉ có cách này vì chúng tôi không thể tự mua vé tàu, hơn nữa, chúng tôi đã hết tiền.

Bàn bạc xong, vợ chồng tôi mời mấy người bạn trong trại cho họ biết ý định này. Họ cho hay, hiện có ông Haji muốn giúp họ mua tàu và giúp các thủ tục. Dự tính trước đây, nhóm Iran và Iraq mua chung một tàu, nhóm Afghanistan mua tàu riêng. Nhưng bây giờ,  có thể họ hùn lại mua tàu lớn, cùng đi chung với nhau. Những người bạn này nói rằng họ muốn giúp chúng tôi, nhưng tài chánh của họ không bao nổi. Trong hoàn cảnh này, họ sẽ đi thuyết phục từng người cho chúng tôi đi không đóng tiền, và họ đi làm ngay trong đêm nay. Trước hết, họ họp hai nhóm Iran, Iraq lại nói rõ điều đó. Tất cả đều vui vẻ đồng ý. Phần còn lại là đi thuyết phục những người Afghanistan, Mohamad đảm nhận việc này.

Mohamad đi rồi, chúng tôi hồi hộp chờ đợi. Tôi biết Mohamad là người có uy tín số một ở đây, hơn 90 người đều kính trọng ông ta như một lãnh tụ,  nhưng tôi vẫn lo, vì thuyết phục được nhóm Afghanistan không phải là việc dễ. Mấy tuần lễ sống ở đây, vợ chồng tôi thân với người Iran, Iraq nhiều hơn người Afghanistan, mà nhóm Afghanistan lại chiếm đa số.

Mohamad trở lại với sự phấn khởi vì nhóm Afghanistan cũng đồng ý cho chúng tôi đi, nhưng với điều kiện là chồng tôi phải làm thợ máy cho tàu. Mohamad thuyết phục họ: trên chuyến đi Úc có mướn tài công đưa đi, tài công có thể giỏi nhưng không chắc rành về máy móc. Còn chồng tôi vốn là thợ máy, rất cần khi hữu sự. Vã lại, tàu còn rộng, chở thêm vợ chồng tôi cũng chẳng phiền hà gì. Trong khi mọi người ở đây chưa có ai từng vượt biển, còn vợ chồng tôi đã từng lênh đênh trên biển suốt ba tháng. Trên tàu có thêm người nhiều kinh nghiệm vượt biển vẫn tốt hơn là chẳng có ai.

Mọi việc đều ổn, chúng tôi vui không nói được thành lời. Nhìn những người bạn mới đang mừng rỡ với chúng tôi, lòng tôi dâng lên niềm xúc động. Mohamad, Nazem và Dilshad xoa hai bàn tay cười nhẹ nhõm. Họ nói không còn gì lo lắng nữa, vì mấy hôm nay khi nghĩ lúc ra đi để hai chúng tôi ở lại, họ cảm thấy áy náy chẳng yên lòng.

Còn Adiba và bọn trẻ ôm hôn tôi. Chúng tíu tít,  vui mừng. Chúng tôi vẫn còn có nhau. Sang được Úc, hai gia đình sẽ mướn nhà ở chung, cùng đi kiếm việc làm sinh sống. Nghĩ thật là vui! Mấy đứa nhỏ còn giành nhau, qua Úc sẽ ngủ chung với má má Inda.

Tôi nhìn đám trẻ và những người bạn này với lòng biết ơn tràn đầy. Cái nghĩa tình hôm nay, biết bao giờ vợ chồng tôi trả được? Gia đình Azam, gia đình Medium cùng đám singleman cũng bu lại chia vui với vợ chồng tôi. Chúng tôi thức nói chuyện đến sáng, ai nấy đều nôn nao chờ chuyến đi sắp tới.

Để chuẩn bị cho chuyến đi, tất cả mọi người phải bán bớt đồ đạc, vì trên nguyên tắc chúng tôi đang bị giam, ra đi là trốn trại mà đi, không thể mang theo lỉnh kỉnh mọi thứ. Mọi người cần phải gọn gàng. Ai cũng soạn lại áo quần, đồ đạc, chỉ để lại thứ thật cần thiết, còn bao nhiêu đem bán hết lấy tiền dằn túi. Suốt mấy ngày, tôi phải đi chợ liền liền, hết chuyến này đến chuyến khác. Tôi giúp cho mọi người bán bớt đồ đạc của họ.

Trước khi đem đi bán, họ bảo tôi lựa áo quần của họ, thích bộ nào cứ giữ lại mặc, có từ chối họ cũng nhất định ép lấy cho được. Cứ như vậy mà rồi vợ chồng tôi có đầy hai giỏ quần áo.

Cả ngày, tôi và nhóm đàn bà cứ đi lang thang hết chợ rồi qua các shop. Cuối cùng, chúng tôi chọn một shop mua bán có vẻ dễ chịu nhất. Chỗ này không nói thách, mua hay bán cũng vậy, có thể đổi chác món này lấy món khác cũng vui vẻ. Thậm chí, mua đem về trại, rồi mang ra đổi hay trả lại, chủ shop cũng tươi cười không kêu ca gì hết.

Hôm nay, ngày cuối cùng chúng tôi còn ở Kupang. Tất cả mọi người đều ra phố thanh toán cho hết những đồng tiền Rupiah còn sót trong túi. Tôi đi lấy hình đã chụp chung với những người bạn ở đây, rồi ra ngắm biển Kupang. Trên đường về trại, tôi và Azam ghé qua cái shop chúng tôi đã mua bán nhiều nhất trong mấy ngày vừa qua. Chủ shop thấy chúng tôi đến, đã ra đón niềm nở:

- Hôm nay các chị bán những món gì vậy?

- Chúng tôi có một ít shampoo muốn đổi lấy bánh kẹo.

Trong khi tôi va Azam đi lựa bánh thì chủ shop dẫn một người đàn bà đến giới thiệu:

- Đây là chị của tôi. Chị tôi có shop ở gần đây. Shop của chị bán nhiều món mà ở shop này không có.

Người đàn bà đon đả mời chúng tôi ghé shop coi hàng. Tôi nhìn kỹ người này và nhận ra chị ta chính là người đã cầm chổi xua đuổi tôi, khi tôi vô shop chị mua áo quần vài tháng trước. Tôi nói:

- Tôi đã biết shop của chị. Shop lớn lắm, nhưng chỉ trưng bày cho đẹp mắt chứ không muốn bán buôn gì cả.

Hai chị em chủ shop trố mắt nhìn tôi:

- Sao,  chị nói gì kỳ lạ vậy?

Tôi đáp lại:

- Đã có một lần tôi đến shop chị mua đồ, chị có nhớ không? Tôi năn nỉ chị để mua bộ quần áo mà chị đã cầm chổi đuổi tôi đi ra.

Chị ta cứ nhìn tôi lom lom. Tôi nhắc lại sự việc xảy ra hôm đó cho chị ta nhớ. Cuối cùng, chị ta thốt lên:

- "Thôi, tôi nhớ ra rồi! nhưng nhìn chị hôm nay tôi không nhận ra".

Chị không nhận ra tôi cũng phải, vì hình dạng tôi đã thay đổi. Lần đầu gặp chị, tôi mặc quần cụt, cái áo thun trắng xuống màu đất bụi đen thui. Không những vậy mà máu me trầy sướt đầy mặt, tay chân phơi trần ra. Hôm nay tôi ăn mặc đàng hoàng, mặt mày sạch sẽ, tươm tất. Chị ta hỏi tôi:

- "Sao hôm đó chị nhìn tôi thấy ghê thế?" Và chị ấy kể rằng, Sáng sớm hôm ấy mới ngủ dậy là chồng chị có việc phải đi, còn một mình chị đứng coi cửa hàng, bỗng đâu có hai người hình hài thấy ghê quá bước vô. Chị không nghĩ là hai người vô muốn mua đồ, mà vô để cướp giựt, nên chị đã đuổi hai người đi. Hôm ấy, nếu hai người còn chần chờ đứng lại, chị sẽ kêu police tới bắt. Kể rồi, chị xin lỗi tôi, cũng vì hiểu lầm mà xua đuổi chúng tôi, xin tôi bỏ qua, đừng buồn.

Chị ta chỉ cho tôi và Azam từng món bánh kẹo chất đầy trên một kệ dài. Chị lấy cho chúng tôi những hộp bánh chị khen là ngon nhất. Riêng một hộp bánh lớn, chị tặng cho tôi không lấy tiền. Tôi nhìn hộp bánh mà xúc động nói với chị ấy:

-  "Phải chi hôm đó chị cho tôi một cái bánh hay một ngụm nước thôi, tôi cũng nhớ chị suốt đời. Hôm đó tôi đói quá, vì suốt đêm ngâm mình dưới biển. Lúc ra khỏi shop của chị, tôi đi muốn hết nổi, té sụm xuống đường".

Chị ái ngại:

- Tội nghiệp quá, sao lúc đó không nói cho tôi biết tình cảnh khổ sở như vậy. Tôi biết, sẽ cho chị ăn uống ngay.

Tôi cười:

- Làm sao tôi dám nói thật, vì tôi không phải người Indo, tôi là người Việt Nam.

Chị ta lùi lại trố mắt nhìn tôi. Cả hai chị em chủ shop không tin tôi là người Việt Nam!

Thật là oái oăm, khi bị police bắt, tôi cố ý khai mình là người Indo, nhưng police không tin. Còn nay tôi nói thật thì hai người này cũng chẳng tin tôi là người Việt. Họ một mực nói tôi là người Indo! Hai chị em nhìn kỹ tôi một hồi rồi nhận xét:

- Cặp mắt tôi, cái mũi của tôi, vóc dáng và cái tên Inda đều giống Indo cả. Tôi còn nói tiếng Indo nữa, vậy tôi không thể là người Việt Nam được!

Sau một lúc trò chuyện thân mật, họ hỏi:

- Sao mấy ngày qua đến đây mua hàng không nói cho tôi là người Việt?

Tôi trả lời:

- Vì sợ bị chủ shop bắt chẹt, mua rẻ, bán mắc.

Họ cười Ồ.

Tôi chỉ tay sang người bạn Iran:

- Bạn tôi đây là người Indo.

Họ quay sang nhìn bạn tôi và nói liền:

- Khuôn mặt chị này không giống người Indo; con mắt cũng không giống; cái mũi cao quá, người Indo mũi không cao và nhọn như mũi chị này.

Chúng tôi được một dịp cười ngất. Về đến trại, còn nghe thót ruột vì cười quá nhiều.

Cả ngày hôm nay, tất cả mọi người trong trại không ai được đi đâu xa, chỉ quanh quẩn chung quanh nhà và chuẩn bị sẵn sàng, Có lệnh là đi ngay, đồ đạc đã được chuyển hết lên tàu từ chiều hôm qua rồi. Tôi bồng bé Reber đước ở hành lang trước mặt trại.

Nhìn dòng xe cộ tấp nập qua lại với bao ý nghĩ vui buồn lẫn lộn. Cuộc đời tôi đã nổi trôi, thăng trầm biết bao lần qua những biến động và thời gian. Giờ đây, tôi sắp bước chân xuống tàu đi Úc. Đây là sự thật hay cũng là giấc mơ thôi? Xin Chúa cho niềm mơ ước của tôi trở thành sự thật!

***

 

Đoạn cuối cuộc hành trình.

5 giờ chiều, chúng tôi rời trại. Ra đi trong niềm hân hoan.      Chuyến đi gồm 98 người, nên để tập trung cho đầy đủ một chỗ cũng mất nhiều thời gian. Vì ra đi như vầy là đi trốn, nên phải đi xé lẻ thành từng nhóm nhỏ. Hai chúng tôi đi cùng với gia đình bé Reber.

Tất cả tập trung về khách sạn ông Haji người Indo, nhưng cho đến tối mới chỉ được khoảng 40 người, số còn lại bị mất liên lạc. Tới nửa đêm, police ập tới bắt, không cho mọi người  di chuyển chỗ khác. Tất cả bị dồn vào một căn phòng có police canh giữ nghiêm nhặt. Chúng tôi nhìn nhau lo âu. Và bây giờ, chúng tôi được biết nhóm bên kia cũng đã bị bắt và bị canh giữ như chúng tôi.

Nhưng đến sáng thì cuộc điều đình cũng xong. Ông Haji đã thu xếp ổn thỏa, đưa mọi người tập trung lại một nơi và lần lượt lên xe đi thẳng ra bãi biển để lên tàu.

Khi lên tàu, đồ đạc của chúng tôi và mọi người đều bị mất sạch. Chúng tôi mất hai giỏ quần áo trong đó có nhiều thuốc hút của chồng tôi do nhóm độc thân cho. Mất sạch đồ đạc tôi không tiếc, chỉ tiếc những tấm hình kỷ niệm chụp chung với những người bạn trên đất Kupang này.

Tội nghiệp nhất là gia đình Adiba. Hai vợ chồng, bốn đứa con mang theo rất nhiều quần áo từ Iraq. Họ đã bị mất hết, luôn cả giấy tờ. Trên tàu hầu như mọi người chỉ còn một bộ áo quần dính da. Duy có bé Reber, nhờ mang áo quần đi sau, nên còn được vài bộ.

Chúng tôi nói với nhau, người còn thì của còn, miễn là đi được đến Úc, quần áo không thành vấn đề. Mọi chuyện xong xuôi, tàu bắt đầu nổ máy, trực chỉ Đảo Ashmoor - Úc Châu.

Bé Reber nghe tiếng máy nổ thì sợ khóc thét lên. Bé khóc không ai dỗ được kể cả ba má của nó. Mọi ngày nó ngoan lắm, chỉ có cười thôi, còn bây giờ nó cứ khóc mãi, tím cả mặt mày. Reber khóc, mẹ nó khóc, các anh chị nó khóc, rồi đến tôi cũng mủi lòng khóc theo.

Đám đàn ông thì leo lên mui tàu, Đàn bà, con nít dồn hết trong carbin và sàn lái. Nhưng chưa được bao lâu, carbin nóng như lò lửa vì hơi nóng tư hai máy lớn dưới hầm bốc lên, phun khói ngộp cả carbin. Đàn bà, con nít lại dồn hết ra sàn lái. Một tay tôi ôm bé Reber đang khóc ngất, một tay tôi dắt mẹ và anh chị nó ra khỏi carbin, rồi quay lại dắt tiếp những người khác.

Đám phụ nữ này sao mà dở tệ, tàu chạy trên sóng yên biển lặng mà ai cũng say sóng, nằm xếp lớp như sắp chết. Mẹ của Reber cứ nằm im, hai tay giơ lên khua khua chứ không dậy nổi. Rồi lần lượt mọi người thi nhau ói mửa. Lúc đầu còn biết dòm chừng để tránh, về sau cứ ói bừa lên nhau thấy gớm vô cùng. Trên sàn tàu, người nằm sát khít nhau như cá hộp, mùi hôi xông lên nồng nặc. Tôi tuy không bị say sóng, nhưng nhìn họ cũng ớn nhợn. Trước giờ tôi chưa thấy cảnh say sóng nào gớm ghiếc như vầy.

Tôi cố gắng tìm một chỗ ngồi ôm bé Reber, nhưng không có chỗ nào còn trống. Người nằm còn không thể  trở mình nhúc nhích được vì quá chật, riết rồi kiếm một chỗ yên thân mà đứng cũng không được. Tôi kêu chồng tôi đi tìm Dilshad mang thằng nhỏ lên mui tàu, nhưng Dilshad nói không thể ôm con được vì quá nhức đầu và gió trên mui tàu lớn lắm không thể cho Reber lên trên đó. Chồng tôi phải lo lái tàu và coi máy, tôi đâu dám nhờ chồng tôi bồng dùm thằng bé. Tôi đành ôm nó chui trở lại carbin. Sàn carbin lúc này nóng kinh khủng, chân tôi nóng rát như bị phỏng. Tôi quấn thêm khăn cho thằng bé bớt nghe tiếng máy, rồi tôi và nó thò đầu ra ngoài cửa sổ để tránh khói.

Nhưng dù có làm cách nào đi nữa thì thằng nhỏ cũng không nín khóc. Nếu cứ khóc mãi thế này, chưa kịp đến đảo nó đã chết. Nóng ruột vì nó, tôi ôm nó chui tuốt lên mui tàu, có gió lạnh một chút còn hơn cứ để nó khóc vì tiếng máy tàu. Leo lên mui, tôi thấy nó bớt khóc, mừng quá tôi kiếm chỗ ngồi, đám đàn ông nằm xếp lớp kín hết mui tàu. Lúc chưa ra đi tôi nghe quảng cáo mua được tàu lớn lắm mà nay nhìn thấy không đủ chỗ nằm.

Tôi chưa kiếm được chỗ ngồi thì một người đàn ông Afghanistan đuổi tôi xuống. Tôi biết ông này không nói được tiếng Anh,  không nói được tiếng Indo. Còn tôi, cũng không nói được tiếng Afghanistan của ông. Tôi ráng giải thích cho ông ta, đưa tay làm hiệu chỉ vào bé Reber, nhưng ông ta cứ ồm ồm, ừm ừm... Ba của Reber nhìn thấy tôi bồng thằng bé lên mui, ông lập tức bò lại phía tôi. Ngần ngừ một lát, Dilshad nói "người ta cử không cho đàn bà lên mui tàu. Sợ xui".

Tôi vỡ lẽ ra. €, ra thế! Tôi nói Dilshad ôm lấy thằng con, ở trên mui nó sẽ dễ chịu hơn dưới carbin, bị ngộp khói và tiếng máy ầm ầm. Nhưng thằng Reber sang tay ba nó chẳng bao lâu lại khóc dữ dội hơn. Ba nó dỗ không nổi lại mang nó xuống carbin giao lại cho tôi.

Đêm đầu tiên trên chiếc tàu này, với tôi là một cực hình. Chân tôi bị phồng dộp vì sàn carbin quá nóng. Còn thằng Reber cứ khóc rồi thét lên từng hồi. Chỉ khi mệt lả, nó ngủ một chút, lúc thức dậy lại khóc và thét tiếp. Lúc gần sáng, Reber mệt quá ngủ lịm trên tay tôi. Tôi mừng vì bây giờ thằng nhỏ đã bớt khóc. Có lẽ nó đã quen dần với tiếng động của máy tàu.

Nhưng nỗi mừng của tôi không được lâu. Tôi chợt nghe đám đàn bà kêu la ầm lên: Adiba, mẹ của thằng Reber bị trúng gió! Tôi ôm Reber từ trong carbin chạy vội ra. Dilshad cũng từ trên mui tuột xuống. Toàn thân Adiba cứng đờ, chân tay co quắp lại không còn biết cảm giác. Tiếng khóc dậy lên chung quanh Adiba như đám tang khóc người chết.

Tôi một bên và Dilshad một bên, liên tục thoa dầu khắp người cho Adiba, vừa thoa vừa xoa bóp toàn thân. Tay tôi nghe rã rời mà Adiba vẫn còn cứng đơ. Những ngón tay Adiba co cứng không mở ra được. Ba đứa con lớn của Adiba khóc rống lên thảm thiết trong lúc cả đám đàn bà xung quanh cũng khóc sùi sụt. Phần tôi cũng cầm không được nước mắt. Không còn biết sạch hay dơ, tôi ngồi bệt xuống ngay chỗ dơ ói mửa và hết sức xoa bóp cho Adiba.

Dần dần, chân tay Adiba trở lại bình thường. Thật hú vía! Mấy đứa con xúm lại ôm lấy mẹ nó, hết khóc lại cười. Rồi cả mấy mẹ con nó lại ôm tôi. Họ mừng vui như chết mới sống lại.

Con tàu đi rất nhanh, nhờ tài công thuộc đường. Sau hai ngày đêm thì đến Đảo Ashmoor. Hai tài công mừng rỡ reo lên "đến đảo rồi! đến đảo rồi!"

Tôi ráng mở to mắt nhìn khắp xung quanh, nhưng chẳng thấy đảo ở đâu. Nếu là người không thông thuộc vùng này sẽ không thể nào tìm ra hòn đảo, vì nó hoàn toàn chẳng giống một đảo bình thường nào cả. Đảo Ashmoor không có đồi núi hay nhà ở, cũng không có rừng cây. Toàn đảo chỉ là đá ngầm. Khi thủy triều lên, đảo bị ngập toàn diện. Phần được coi là cao nhất, chỉ ngang xấp xỉ với mặt nước biển. Cả hòn đảo chỉ thấy một cây dừa đứng chơ vơ.

Xung quanh đảo Ashmoor có tàu hải quân Úc tuần tiểu thường xuyên. Tàu chúng tôi cũng cố chạy lòng vòng quanh hòn đảo, chờ hải quân Úc đến bắt.

      Chưa đầy một giờ đồng hồ sau khi tới đảo, tàu hải quân Úc xuất hiện và cấp tốc cập sát tàu của chúng tôi. Thế là chấm dứt bao nhiêu ngày gian khổ. Chúng tôi đã đến được nước Úc!

Tàu ngừng chạy. Cả đám đàn bà tự nhiên tươi tỉnh hẳn. Chúng tôi ôm nhau mừng vui. Đã tới bến bình an!

Sau những thủ tục làm việc của Hải Quân Úc, chúng tôi vẫn ngủ lại trên tàu. Con tàu bình yên, bềnh bồng trên sóng nước, và tôi đã ngủ một đêm dài an lành. Giấc ngủ đêm nay không mộng mị, không còn bị ám ảnh đến chóng mặt vì bị bay ngược trong lòng họng Sumbawa. Sau một giấc ngủ sâu, thật dài, tôi cảm thấy khoẻ hẳn lên, con người như trẻ lại.

Trưa hôm nay, tàu hải quân Úc chở người về Darwin, ưu tiên cho các gia đình có con nhỏ đi trước. Cha mẹ bé Reber nắm chặt tay tôi với ý muốn tôi cùng đi chung với gia đình họ, gia đình này được xuống chiếc bobo đầu tiên. Nhưng tôi quyết định ở lại chờ đi chuyến sau. Dẫu gì, tôi cũng biết thân phận chúng tôi là kẻ đi nhờ, nên không dám nhận phần ưu tiên. Đã tới đây rồi, chừng nào vào đất liền cũng được. Đâu có sao!

Ở lại tàu, tôi thong dong ngắm biển. Đàn bà trên tàu còn lại ba người, tôi và hai mẹ con Rezina người Iraq. Đám đàn ông múc nước biển lên rửa sàn tàu thật sạch sẽ, rồi nấu cơm ngay trên tàu. Đàn ông giành làm hết mọi việc, không cho đàn bà làm bất cứ việc gì. Tôi chỉ còn mỗi một việc là ăn xong rồi ngắm biển.

Ở cuối tàu có một nhà tắm. Mọi người thay phiên nhau múc nước biển lên tắm. Phần đông ai cũng chỉ có độc một bộ mặc trên người, nên cứ tắm xong là giặt luôn, rồi mặc lại áo quần ướt. Chúng tôi đùa, gọi nhau là họ nhà cá, vì toàn thân ai cũng có mùi vị mặn tanh đặc biệt của biển.

Đêm thứ hai ở Đảo Ashmoor, trời nổi giông bão. Mọi người sợ hãi kêu réo cuống cuồng, vợ chồng tôi phải vội lên boong tàu ngay. Lúc đó, chúng tôi đang ở trong hầm mũi, đang tìm cách kê tấm ván làm chỗ ngủ. Nghe mọi người la hoảng, chúng tôi leo lên xem coi như thế nào. Gió lớn thổi đùng đùng, con tàu lắc lư như đưa võng. Chồng tôi cùng tài công thả thêm một chiếc neo nữa xuống biển.

Trên tàu mỗi lúc mỗi thêm lộn xộn, người thì lấy đèn pin rọi làm hiệu cấp cứu, người đi lấy áo quần đốt lên. Quần áo đâu có nhiều để đốt, phần lớn ai cũng chỉ có một bộ mặc trên người, nên hễ thấy áo quần còn sót đâu đó thì quơ hết đem đốt. Những miếng Plastic dùng che chắn cũng đốt, cái gì có thể cháy được đều đem ra đốt hết. Bão mỗi lúc một lớn hơn, cả tàu náo loạn.

Rezina khóc và run lập cập thật tội nghiệp. Tôi ôm cô bạn trấn an, đừng sợ. Tàu mình to lớn thế này không việc gì phải lo... chẳng sao đâu! Đàn bà, họ sợ đã đành, đám đàn ông cũng nhát thít. Cứ làm náo loạn lung tung cả lên, cải vả ỏm tỏi, làm như sẽ bị té xuống biển chết tươi đến nơi. Nazem, ông bạn Iraq, cũng run sợ chẳng kém gì Rezina. Anh ta luôn miệng kể lể: "tôi còn vợ và bốn con ở Iraq, tôi chết rồi ai nuôi vợ con tôi..." Tôi nhìn con tàu ngả nghiêng cũng thấy sợ, nhưng chính cảnh náo loạn trên tàu mới làm tôi sợ hơn.

Gió càng lúc càng lớn. Người trên tàu cứ tiếp tục cải vả nhau, họ chia thành hai phe, bất phân thắng bại.

Ý kiến thứ nhất, cứ để yên tàu tại chỗ, chờ cơn bão dịu xuống.

Ý kiến thứ hai, nhổ neo lên, đưa tàu ra ngoài ngay.

Tôi ủng hộ ý thứ nhất, nhưng tôi không lên tiếng, vì biết có nói cũng chẳng ai nghe. Trên tàu bây giờ, ngoại trừ ba người đàn bà, còn lại mấy chục người đều là đàn ông. Họ đều mới đi biển lần đầu. Còn tôi, đã trải qua ba tháng lênh đênh trên biển, dù gì tôi cũng có kinh nghiệm hơn.

Lúc chiều khi tàu chúng tôi chạy theo bobo hướng dẫn đậu vào đây, tôi nhìn kỹ, thấy suốt dọc đường toàn là đá. Hôm qua, tàu đậu ngoài xa và nước đang lớn, tôi không nhìn thấy đá ngầm. Khắp chung quanh đây toàn là đá ngầm lởm chởm, chỉ có chỗ tàu đậu là trũng nhất. Tàu hải quân dắt vào trú đúng chỗ vì họ quá thông thuộc vùng biển Ashmoor này. Lúc này, hải quân đang trên đường về Darwin, chắc gì còn có tàu nào khác ở ngoài mà chạy ra cầu cứu. Vả lại, đưa tàu ra ngoài để làm gì trong cơn bão, trời thì tối đen, không ai biết đang nước ròng hay nước lớn. Nếu nước đang ròng  mà lúc này kéo neo lên, chưa kịp đi đã bị đập vô đá ngầm tan nát hết.

Tôi nói ý này cho chồng tôi và tài công biết. Bây giờ, ý kiến của thợ máy và tài công là có giá trị nhất. Ai có cãi cọ gì mặc kệ, tài công mới thật sự quyết định. Tôi nói cho mọi người biết, tôi vô hầm mũi ngủ cho khoẻ.

Nghe tôi nói đi ngủ, ý kiến của chồng tôi là "bão đang lớn thế này, sao mà ngủ được?". Còn Nazem cứ nắm chặt tay tôi hốt hoảng kêu lên: "Inda! đừng đi ngủ. Nằm dưới hầm, lỡ tàu lật sẽ không kịp ra ngoài!".

Tôi nhìn Nazem, không cười mà nghĩ thầm: Nếu đã lật tàu thì nằm ở trong hay nhảy ra biển số phận như nhau. Đêm tối thế này, bơi đi đâu? giữa mênh mông sóng gió bão bùng, chỉ có một cây dừa trên đảo, mắt ai đủ sức nhìn thấy? mà ai đâu có sức để bơi suốt đêm giữa biển? Trên tàu có khoảng 10 cái can, nhưng trong lúc nguy biến, tôi có giành nổi một cái với mấy chục người đàn ông kia không?

Thấy tôi đứng dậy, Nazem nắm chặt tay tôi: "Inda đừng đi ngủ. Lần trước Inda đắm tàu ở Kupang, một đêm bơi dưới biển đâu có chết. Inda ở lại đây đi, lỡ đêm nay bị lật tàu, Inda kéo tôi theo, Inda bơi đi đâu tôi đi theo đó". 

Lúc này tôi không nín cười được, tôi cúi mặt xuống và bụm miệng lại để người khác đừng nhìn thấy. Tôi phải nén nó lại, không để thoát thành tiếng. Trời ơi! bơi dưới biển mà lại kéo theo một người không biết bơi thì có nước chết thôi, Tôi nói nhỏ với Nazem: "Tôi bơi không giỏi. Hôm trước tôi còn sống là nhờ ôm can. Nếu Nazem sợ chết thì đi lấy một cái can để phòng thân."

Mắt Nazem sáng lên, chạy ngay đi lấy một cái can, khư khư ôm chặt.

      Tôi đi xuống hầm mũi, nằm suy nghĩ miên man. Nơi đây, không còn nghe tiếng gió rít, cũng không nghe tiếng cãi cọ của mọi người trên boong tàu. Tôi lại nhớ tới hình ảnh kinh dị trong lòng họng Sumbawa: nước đen ngòm cuồn cuộn, sủi tâm, nhô lên như muôn ngàn cánh tay bạch tuột kéo chiếc tàu nhỏ bé của tôi xuống đáy biển. Ngoài hai chúng tôi, không thấy có một sinh vật nào tồn tại dưới nước và trên không. Tôi đã sợ hãi tận cùng, chỉ còn biết kêu xin Chúa cứu giúp. Giờ đây, trên đảo Ashmoor của Úc, nước xanh trong, nhìn rõ từng đàn cá lội dưới biển. Nếu bị lật tàu mà phải chết ở đây, tôi không thấy sợ hãi. Tôi nghe thanh thảng,  nhẹ nhàng trong lòng hơn.

Con tàu cứ trồi sụt, bay bổng trên sóng rồi từ từ dịu lại. Tôi đã ngủ được một giấc êm đềm. Khi trời hừng sáng, tôi chui ra khỏi hầm. Trên sóng nước dịu dàng, xanh biếc, tôi ngắm trời biển trong thinh lặng bao la.

Tàu chỉ gặp một lần bão, sau đó, biển êm ru. Cả tuần tiếp theo chúng tôi vẫn còn ở trên tàu. Vốn yêu biển vô cùng, tôi thường nói, nếu tôi chết hãy bỏ xác tôi xuống biển. Về với lòng biển xanh bao la, thênh thang, mát mẻ, chẳng phải lo chôn cất, xây mồ đắp mả làm gì.

Trải qua ba tháng vượt biển kinh hoàng, cảm giác hãi hùng vẫn còn nguyên chưa gột bỏ được, những tưởng tôi sẽ sợ biển tới già, tới chết, nhưng sao trong lòng tôi cứ vẫn yêu thích biển. Tôi có thể ngắm cảnh biển suốt ngày không bao giờ biết chán. Vùng biển Đảo Ashmoor này có rất nhiều cá, cá lội từng đàn xung quanh con tàu. Nhiều người trên tàu tiếc là không đem theo đồ nghề để câu cá. Riêng tôi, tôi chỉ muốn nhìn chúng được tự do, tung tăng bơi lội suốt đêm ngày, ở khắp nơi.

Hôm nay, sau một tuần được ngắm biển đã con mắt, chúng tôi được tàu Hải Quân Úc đưa vào Darwin. Hai chúng tôi ở Darwin trọn ngày để làm các thủ tục cần thiết, rồi sau đó, lên máy bay về Trại Tỵ Nạn Woomera.

Ngồi trên máy bay, nghe lòng nhẹ nhàng và thư thới hơn bao giờ hết. Tôi thầm cảm tạ Chúa đã gìn giữ chúng tôi vượt qua bao gian nan, nguy khốn, để ngày hôm nay được tới bến bờ tự do, Úc Châu,  nơi tôi hằng mong mỏi từ bao năm qua!

Nguyễn Thị Hằng Nga

(Tết Nguyên Đán buồn, trong Trại Woomera).