|
Đọc lại thơ Bác Hàn Lệ Nhân “… từ non nửa thế kỷ trở lại đây, các tác phẩm đó đã được đọc, được học và chỉ được độc quyền khen, khen càng sâu, càng xa càng tốt …” 1/ «Bài "Bệnh trọng" (Ốm nặng), trang 201: Ngoại cảm Hoa thiên tân lãnh nhiệt, Nội thương Việt địa cựu sơn hà; Ngục trung hại bệnh chân tân khổ, Bản ưng thống khốc khước cuồng ca. Việt ngữ Ngoại cảm trời Hoa cơn nóng lạnh, Nội thương đất Việt cảnh lầm than; Trong tù mắc bệnh càng đau khổ, Đáng khóc mà ta cứ hát tràn. Chú thích số 9, trang 246: "Hai câu đầu bài thơ này dựa theo hai câu: Nội thương Hàn địa cựu sơn hà. trong bài "Trương Lương tố đa bệnh" của Hoàng Phan Thái tức đầu xứ Thái, một nhà nho huyện Nghi Lộc (Nghệ An) chống chế độ quân chủ, bị xử tử đời Tự Đức".» 2/ «Bài "Thanh Minh" (Tiết Thanh Minh), trang 215: Thanh minh thời tiết vũ phân phân, Lung lý tù nhân dục đoạn hồn; Tá vấn tự do hà xứ hữu? Vệ binh dao chỉ biện công môn. Việt ngữ Thanh minh lất phất mưa phùn, Tù nhân nghe thấm nỗi buồn xót xa. Tự do, thử hỏi đâu là? Lính canh trỏ lối thẳng ra công trường. Chú thích số 10, trang 246: “Bài thơ này dựa theo một bài thơ nổi tiếng đời Đường: Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn; Tá vấn tửu gia hà xứ hữu, Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn.» Tưởng cũng nên nói thêm: Bài "Thanh Minh" này là của Đỗ Mục (803-852) đời Đường: Thanh minh lất phất mưa phùn Khách đi đường thấm nỗi buồn xót xa Hỏi thăm quán rượu đâu à ? Mục đồng chỉ lối Hạnh Hoa thôn ngoài (Tương Như dịch) Trong bài tản mạn "Văn hoá thi ca, văn hoá thi hót", tôi đã chú thích bổ túc: 3/ Bài "Khai Quyển" (Mở đầu tập nhật ký), trang 13: Lão phu nguyên bất ái ngâm thi Nhân vị tù trung vô sở vi Liêu tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật Thả ngâm thả đãi tự do thì. Việt ngữ: Ngâm thơ ta vốn không ham Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây? Ngày dài ngâm ngợi cho khuây Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do. Câu đầu "lão phu nguyên bất ái ngâm thi" vốn là của Nghiêu Phu Thiệu Khang Tiết (1011-1077), đời Bắc Tống bên Trung Quốc. Hơn nữa, thời gian bị Tàu Tưởng bắt giam, ông Hồ mới có 52 tuổi (1890-1942), sao đã tiêu cực tự nhận là "lão phu"?, ngược lại, mới trên 50 mà đã tích cực tự phong là "cha già dân tộc", cũng như là người Việt 100% mà bị nghi là "Hán gian" ! (bài “Thế lộ nan” 3 - Đường đời khó khăn 3, trang 21): Trung thành ngã bản vô tâm cứu Khước bị hiềm nghi tố Hán gian Xử thế nguyên lai phi dị dị Nhi kim xử thế cánh nan nan. Việt ngữ Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng, Lại bị tình nghi là Hán gian; Xử thế từ xưa không phải dễ, Mà nay, xử thế khó khăn hơn. 4/ Bài "Nạn Hữu Chi Thê Thám Giam" (Vợ người bạn tù đến thăm chồng), trang 72: Quân tại thiết song lý Thiếp tại thiết song tiền Tương cận tại chỉ xích Tương cách tự thiên uyên. Việt ngữ: Anh đứng trong cửa sắt Em đứng ngoài cửa sắt Gần nhau trong tấc gang Mà biển trời cách mặt. Bốn câu trong bài này vốn "mượn" từ bốn câu cuối trong bài “Tương Giang” (Sông Tương): Thiếp tại Tương giang vĩ, Tương tư bất tương kiến, Đồng ẩm Tương giang thuỷ. Dịch nghĩa: Chàng ở đầu sông Tương, Thiếp ở cuối sông Tương, Nhớ nhau mà chẳng thấy, Cùng uống nước sông Tương. Sách Tình Sử thời nhà Châu bên Tàu chép: Nàng Lương Ý yêu chàng Lý Sinh, sau phải xa nhau, xúc cảm làm thành bài “Tương Giang”. Trong Kim Vân Kiều của Nguyễn Du, câu 365-366: Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia. (Bùi Khánh Diễn: Kim Vân Kiều, trang 58, nxb Sống Mới – Sàigòn 1971, và bản hiệu khảo Truyện Kiều của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, nxb Vĩnh Hưng Long thư quán, Hà Nội 1925, cũng ghi tương tự). Nay nhân đọc lại thơ chữ Hán của thi-hào- Hồ-Chí-Minh (1890-1969), tôi nhận thấy tác giả lẫn các dịch giả trong Viện Văn Học – Hà Nội (1960) vì quên hay sơ sót không ghi chú sự "vay mượn", nên mạo muội góp thêm vài chú thích, may ra giảm bớt phần nào sự khuất tất về những "tác-phẩm-vĩ-đại" của một người, nghe truyền thông trong nước khẳng định đã được Unesco truy thăng là "danh-nhân-văn-hoá-của-nhân-loại" từ cuối thập niên 80 thế kỷ trước; tuy nhiên truy thăng cao quí đó mang mã số thế nào, ai biết xin chỉ rộng lòng chỉ cho. 5/ Bài "Trung Thu 2" (Trung Thu 2), trang 51: Ngục trung nhân dã thưởng trung thu, Thu nguyệt thu phong đời điểm sầu; Bất đắc tự do thưởng thu nguyệt, Tâm tùy thu nguyệt cộng du du. Việt ngữ Trung thu ta cũng tết trong tù, Trăng gió đêm thu gợn vẻ sầu; Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt, Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu. Câu "Tâm tùy thu nguyệt cộng du du" có gốc từ câu "tâm tùy hồ thủy cộng du du" (tấm lòng theo với nước hồ xa xa) trong bài “Tống Lương Lục” (Tiễn Lương Lục) của Trương Thuyết (Trương Duyệt) đời Đường: Ba Lăng nhất vọng Động Đình thu, Nhất kiến cô phong thủy thượng phù . Văn đạo thần tiên bất khả tiếp, Tâm tùy hồ thủy cộng du du. Việt ngữ Ba Lăng trông xuống Động Đình, Nước thu lai láng, núi xanh thập thò. Thần tiên dễ gặp được mô, Tấm lòng theo với nước hồ xa xa. (Trần Trọng Kim: Đường Thi, trang 354). Ngoài ra: 6/ Bài "Đăng sơn" (Lên núi): Huề trượng đăng sơn quan trận địa Vạn trùng sơn ủng vạn trùng vân Nghĩa binh tráng khí thôn Ngưu Đẩu Thệ diệt sài lang xâm lược quân. Việt ngữ Chống gậy lên non xem trận địa Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy. (Xuân Diệu dịch) Câu "Nghĩa binh tráng khí thôn Ngưu Đẩu" có gốc từ câu "Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu" trong bài "Thuật hoài" nổi tiếng của Phạm Ngũ Lão (1255-1320): Hoành sáo giang san cáp kỷ thu Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Võ Hầu. Việt ngữ Vung giáo non sông trải mấy thu, Ba quân hùng hổ át sao Ngưu. Công danh ví để còn vương nợ, Còn thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu. (Trần Trọng Kim dịch) 7/ Bài "Phỏng Khúc Phụ" (Thăm Khúc Phụ): Ngũ nguyệt thập cửu phỏng Khúc Phụ, Cổ tùng, cổ miếu lưỡng y hy. Khổng gia thế lực kim hà tại ? Chỉ thặng tà dương chiếu cổ bi. Việt ngữ Mười chín tháng năm thăm Khúc Phụ, Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa. Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ ? Lấp loáng bia xưa chút ánh tà. (Đặng Thai Mai dịch) Câu "Khổng gia thế lực kim hà tại" vốn lấy từ câu "Các trung đế tử kim hà tại" (con vua trong gác giờ đâu tá?) trong bài "Đằng vương các tự" của Vương Bột (647-675) đời Đường: Đằng vương cao các lâm giang chữ Bội ngọc minh loan bãi ca vũ Họa đống triêu phi Nam phố vân Chu liêm mộ quyển Tây sơn vũ Nhàn vân đàm ảnh nhật du du Vật hoán tinh di kỷ độ thu Các trung đế tử kim hà tại Hạm ngoại Trường giang không tự lưu. Việt ngữ Bên sông đây gác Đằng Vương Múa ca đã hết, ngọc vàng nào ai ? Cột rồng Nam phố mây bay Rèm châu mưa cuốn ngàn Tây sớm chiều In đầm, mây vẩn vơ trôi Tang thương vật đổi, sao dời mấy thâu Đằng vương trong gác giờ đâu ? Trường giang nước vẫn chảy mau mé ngoài. (Trần Trọng San dịch) Trong bộ Đại cương văn học sử Trung quốc tập 2, trang 18 của Nguyễn Hiến Lê (1912-1984), nxb Nguyễn Hiến Lê - Sàigòn 1964, cũng có dịch nghĩa bài này. 8/ Bài "Nguyên Tiêu" (Rằm tháng giêng): Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên, Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên. Yên ba thâm xứ đàm quân sự, Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền. Việt ngữ Rằm xuân lồng lộng trăng soi, Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân. Giữa dòng bàn bạc việc quân, Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền. (Xuân Thủy dịch) Câu "Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền" lấy từ câu "Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền" trong bài "Phong Kiều dạ bạc" của Trương Kế (756-?), đời Đường: Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên Giang phong ngư hỏa đối sầu miên Cô Tô thành ngoại Hàn San tự Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền. Việt ngữ 1. Trăng tà chiếc quạ kêu sương Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ Thuyền ai đậu bến Cô Tô Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San (“Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều”, Tản Đà dịch) 2. Trăng tà tiếng quạ vẳng sương rơi Sầu đượm hàng phong giấc lửa chài Ngoài lũy Cô Tô chùa vắng vẻ Nửa đêm chuông vẳng đến thuyền ai (“Ban đêm thuyền đậu bến Phong Kiều”, Trần Trọng San dịch) 9/ Bài "Tặng Trần Canh đồng chí" - đại tướng cố vấn quân sự Trung Cộng, "sáng tác" năm 1950: Hương Tân mĩ tửu, dạ quang bôi Dục ẩm tì bà mã thượng thôi Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu Địch lai phóng khứ nhất nhân hồi. Việt ngữ Sâm banh, rượu ngọt, chén lưu ly Toan nhắp tỳ bà ngựa giục đi Say khướt sa trường cười chớ vội Chẳng cho địch thoát một tên về. vốn "mượn" gần nguyên si từ bài "Lương Châu Từ" của Từ Vũ Vương Hàn (687-726) đời Đường: Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi. Việt ngữ 1. Bồ đào rượu ngát chén lưu ly Toan nhắp tỳ bà đã giục đi Say khướt sa trường anh chớ mỉa Xưa nay chinh chiến mấy ai về. (Trần Quan Trân dịch) 2. Rượu bồ đào, chén dạ quang Muốn say đàn đã rền vang dục rồi. Sa trường say ngủ ai cười Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu ! (Trần Trọng San, dịch) 3. Rượu bồ rót chén dạ quang, Trên yên, sắp uống, nghe vang đờn tì. Say nằm bãi cát, cười chi? Xưa nay chiến địa, sống về những ai? (Nguyễn Hiến Lê dịch, sđd trang 208) Tôi không bàn về nội dung của những bài thơ chữ Hán lừng danh của thi-hào-họ-Hồ, vì tôi không muốn hùa theo "khen phò mã tốt áo", khi mà trên mặt chính thống từ non nửa thế kỷ trở lại đây, các tác phẩm đó đã được đọc, được học và chỉ được độc quyền khen, khen càng sâu, càng xa càng tốt rồi. Do đó, trong bài này, tôi chỉ "chú thích" trong khả năng có thể, phần thơ chữ Hán. Bài sau, bài sau nữa - khi hội đủ duyên – tôi sẽ "chú thích" phần thơ thuần Việt của tác giả Hồ-Chí-Minh, để xem tài "vận dụng sáng tạo" của ông "nhuần nhuyễn" cỡ nào trong việc nín thinh vay mượn từ Kiều và từ ca dao, thành ngữ Việt Nam. Nhưng dù sao, đêm nay cá nhân tôi vẫn đành tạm bằng lòng với câu nói để đời của nữ-ca-nhạc-sĩ-tài-danh Phương Uyên: "Copy là học tập lẫn nhau", chứ biết làm sao bây giờ ! Hàn Lệ Nhân Ghi chú: [1] - «Bản dịch đầu tiên của Nhật ký trong tù được Viện Văn học cho xuất bản vào năm 1960. Bản dịch này có nhiều ưu điểm, nhưng từ 1960 đến nay thì những bài thơ dịch của Bác đã được bổ sung đầy đủ, mới đầu có 114 bài nhưng sau đó đã đủ 133 bài.» ( Vietnamnet) và ( SKHCN-ĐồngNai) - «Trong hơn 13 tháng bị “đá qua đá lại” 18 nhà lao của bọn Tưởng, Bác đã viết tập “Nhật ký trong tù” gồm 134 bài thơ (kể cả bài “Mới ra tù tập leo núi”), là tập thơ bằng chữ Hán cuối cùng trong lịch sử văn học Việt Nam, nhưng tư duy nghệ thuật của nó chủ yếu lại thuộc một loại khác so với truyền thống..» (Quân Đội Nhân Dân) [2] «Ngày 27/08/1950, Trần Canh (Chen Gen, 1903-1961) tới bản doanh của VM ở Thái Nguyên, gặp ông Hồ và Lã Quý Ba. Ông Hồ ôm hôn Trần Canh và đọc một bài thơ do chính ông sáng tác để chào mừng và ca ngợi Trần Canh.» (Hứa Hoành: Huyền thoại & sự thật...) |