Đạp Đổ Thần Tượng Đỏ
*
Kỳ 1
Từ tìm đường cứu nước đổi thành lầm đường cách mạng
Trong suốt thời gian nắm quyền cai trị miền bắc Việt Nam (1945-1969), Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam đã cực lực đánh bóng con người ông để biến thành một thần tượng của dân tộc. Việc làm đó có ít nhiều thành công khi hầu hết mọi nhà ở miền Bắc đều treo hình ông để tỏ lòng ngưỡng mộ, hoặc để được yên thân. Đối với những người chống cộng, ông Hồ bị coi như một tội phạm lớn của dân tộc trong thế kỷ này, vì những tang thương, chết chóc ông và đảng cộng sản đã gây ra cho dân Việt, những tàn phá của chủ nghĩa cộng sản đối với nền đạo đức và văn hóa cổ truyền của người Việt.
Ảnh hưởng của những chủ trương, quyết định và việc làm của ông Hồ đối với vận mệnh của đất nước, hạnh phúc của dân tộc, là điều không thể chối cãi. Cho đến nay, năm 1999, ông Hồ đã qua đời 30 năm, nhưng những ảnh hưởng đó vẫn còn nguyên: dân Việt Nam tuy thoát khỏi ách thống trị của thực dân trắng lại phải nằm dưới ách thống trị của độc tài đỏ, áp đặt bởi đảng cộng sản do ông thành lập. Dù đất nước đã thống nhất 24 năm, Việt Nam vẫn nằm trong số những nước nghèo đói và chậm tiến nhất thế giới.
Nỗi bất hạnh của dân tộc Việt ngày nay bắt nguồn từ sự xuất ngoại của ông Hồ, năm 1911, mà bốn chục năm sau khi viết về mục đích của sự ra đi đó, ông đã khoe trong tác phẩm "Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch" là để tìm đường cứu nước.
Những động lực nào đã thúc đẩy ông xuất ngoại, những quyết định nào của ông trong giai đoạn đầu hoạt động ở hải ngoại đã ảnh hưởng đến vận mệnh của đất nước và hạnh phúc của dân tộc Việt sau này là những điều chúng ta sẽ phân tích và nhận định sau đây.
1. Những động lực thúc đẩy Hồ Chí Minh xuất ngoại.
Trong hồi ký "Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch", viết dưới bút danh Trần Dân Tiên, giả bộ là một cán bộ trẻ ngưỡng mộ mình, Hồ Chí Minh nói là ông quyết định xuất ngoại tìm một đường lối mới để làm cách mạng cứu nước, vì ông đã sớm nhận ra các lối làm cách mạng ở Việt Nam, cho tới lúc đó, như của các phong trào Cần Vương, Văn Thân, hay của Phan Chu Trinh (1), Phan Bội Châu (2).
Nhận ra sự thất bại của các phong trào Cần Vương, Văn Thân là điều dĩ nhiên , vì vào đầu thế kỷ 20 các phong trào đó đã thất bại và đã thuộc về lịch. Nhưng bảo rằng nhìn ra được sự thất bại của Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu trước khi ông cất bước ra đi, năm 1911, là lời khoác lác và bịa đặt. Lúc đó các phương tiện truyền thông còn thô sơ và khó khăn, người Pháp lại kiểm soát chặt chẽ, gắt gao việc lưu thông, việc liên lạc của người trong nước với hai nhà cách mạng họ Phan ( một người hoạt động ở Pháp, Phan Chu Trinh; một người hoạt động ở Nhật, Phan Bội Châu) lại phải bảo mật thì làm sao ông có thể hiểu rõ được những chủ trương và hoạt động của hai vị này ở nước ngoài? Nhất là lúc đó kiến thức của ông Hồ lại còn rất kém. Về sau, lúc đã ở Pháp được mấy năm, khi dự các cuộc họp của đảng Xã Hội Pháp, chính ông Hồ còn thú nhận là lúc đầu "rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là công hội, thế nào là bãi công, thế nào là chính đảng" (Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch, trang 34). Với mớ kiến thức nông cạn như vậy thì, vào thời điểm 1911 và trước đó, làm sao ông Hồ đã sớm nhận ra các lối làm cách mạng ở Việt Nam đều thất bại.
Hai chục năm qua, nhiều học gỉa đã vào các văn khố ở Pháp, ở Anh, ở Nga, ở Trung Hoa, để tìm những bằng chứng cụ thể chứng minh rằng các sách xuất bản ở trong nước, dưới sự chỉ đạo hoặc kiểm soát của đảng CSVN, liên quan tới tiểu sử của Hồ Chí Minh, hầu hết đều dựa vào những dữ kiện ngụy tạo chứa trong 2 cuốn sách "Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch" và "Vừa Đi Dường Vừa Kể Chuyện" mà ông Hồ là tác giả. Hàng chục tài liệu đã được tìm thấy và công bố cho công luận rõ. Nhiều bằng chứng đã được phơi bày để chứng tỏ là ông Hồ xin làm bồi trên chiếc tàu Admiral Latouche Tréville để sang Pháp không phải với mục đích tìm đường cứu nước. Chỉ sau khi đã ở Pháp và đã thất bại trong cố gắng xin vào học trường Thuộc Địa ông mới tập tễnh học làm cách mạng!
Tuy nhiên, sự thực vẫn là ông Hồ có chủ ý muốn xuất ngoại, và ông đã đi được. Còn đi bằng phương tiện này hay phương tiện nọ không là điều quan trọng. Vào thời đó, thanh niên muốn xuất ngoại nhưng không có điều kiện thường phải gia nhập các tổ chức cho thanh niên xuất dương bí mật, như Quang Phục Hội, Đông Kinh Nghĩa Thục, hoặc chịu theo các tổ chức truyền giáo tây phương, hoặc phải nhận làm bồi, bếp cho một chủ Pháp để mong được họ đem theo khi họ hồi hương.
Vì vậy ta có thể tin rằng ông Hồ xuất dương một phần là do óc thích phiêu lưu và lòng muốn cải cách xã hội, những ước vọng rất phổ thông của tuổi trẻ. Một phần khác có thể do sự thúc đẩy của lòng yêu nước, bởi vì ông đã vận động với nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục, dù không được chấp nhận cho xuất dương, thì đó vẫn là một thiện chí. Với quyết tâm, với lòng chịu đựng gian khổ, ông Hồ đã thực hiện được mộng ước tuổi trẻ của ông, dù chỉ với hai bàn tay trắng và một mớ kiến thức vừa hạn hẹp vừa thấp kém.
Những hoạt động và quyết định của ông ở hải ngoại một phần là do hoàn cảnh đưa đẩy, một phần là do bản chất con người của ông, mà ta sẽ xét trong phần tới.
2. Những quyết định quan trọng trong thời hoạt động bí mật của ông Hồ.
Khi ở Pháp, ông Hồ có tiếp xúc với nhà cách mạng Phan Chu Trinh và được nhà cách mạng này giúp đỡ trong bước đầu, dạy cho ông nghề tráng phim, rửa hình để làm kế sinh nhai. Thời gian này ông học hỏi và tiến bộ nhiều. Môi trường sinh hoạt tự do, dân chủ ở Pháp – khác một trời một vực với môi trường sinh hoạt nô lệ, ngột ngạt người Việt phải chịu ở Việt Nam – đã ảnh hưởng nhiều tới các suy nghĩ và quyết định của ông. Tính ưa chống đối và thích làm cách mạng, vốn đã có sẵn trong dòng máu Nghệ An của ông, được dịp phát triển mạnh.
Các hoạt động chống đối chính quyền một cách công khai của đảng Xã Hội Pháp hấp dẫn những người dân thuộc địa sống trên đất Pháp lúc đó một cách ghê gớm, cho nên việc ông Hồ gia nhập đảng này là một điều dễ hiểu. Được chống đối chính quyền của kẻ xâm lược, công khai ngay trên đất nước của họ, là một lôi cuốn mãnh liệt đối với những người Việt Nam sống trên đất Pháp lúc đó. Vì thế người ta không ngạc nhiên những người như Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Tất Thành (tên của ông Hồ khi sống ở Pháp), Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, v.v... đều có liên lạc với đảng Xã Hội Pháp hoặc hoạt động có khuynh hướng xã hội.
Có lẽ không tán thành chủ trương Pháp Việt đề huề của Phan Chu Trinh nên sau một thời gian ông Hồ đã cắt đứt liên lạc với nhà cách mạng này. Đây là quyết định nghiêm trọng và lầm lẫn đầu tiên của ông Hồ. Bởi vì trong số những người Việt hoạt động chống Pháp ở Paris lúc đó, ông Hồ là kẻ yếu kém nhất về kiến thức và văn hóa. Trong nhóm 5 người hoạt động nổi danh ở Pháp lúc đó, được ca tụng là Ngũ Long Việt Nam, bốn người có kiến thức và học vấn cao: Phan Chu Trinh (phó bảng, cựu học), Phan Văn Trường (tiến sĩ luật), Nguyễn Thế Truyền (cử nhân), Nguyễn An Ninh (cử nhân), ông Hồ là người có học lực và kiến thức kém nhất (giáo làng). Trong bước đầu, đang tập tễnh học làm cách mạng mà xa rời nhà cách mạng họ Phan, ông Hồ không chỉ xa rời sự gíup đỡ, an ủi tinh thần, mà quan trọng hơn là mất điều kiện để tham khảo và trau dồi đạo đức cách mạng.
Dĩ nhiên học vấn và kiến thức không là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến lòng ái quốc và lòng hăng say hoạt động của con người. Nhưng đối với những người có ý định trở thành lãnh tụ cách mạng, như ông Hồ, thì nó là cái vốn tối quan trọng, nó giúp người hoạt động nhận ra được những khúc mắc nguy hiểm về lý thuyết và hành động. Trường hợp ông Hồ mê say lý tưởng cộng sản, coi lý thuyết "cách mạng và hành động" của Lênin như một "cẩm nang thần kỳ", và nhắm mắt tin theo một cách mê muội là một thí dụ điển hình.
Không ai có thể chối cãi là vào cuối thập niên mười của thế kỷ 20, lý tưởng cộng sản và lý thuyết cách mạng của Lênin đã được thán phục ở nhiều nơi, bởi nhiều người, nhất là tại các quốc gia bị trị ở Á châu, Phi châu, và Mỹ châu La tinh. Về phía các nhà cách mạng Việt Nam, nhiều người đã tìm đến với lý tưởng và lý thuyết này. Ở đông phương chính Phan Bội Châu cũng bị lôi cuốn, đã phải khó khăn, cầu cạnh mong được tiếp xúc với viên đại sứ Nga ở Bắc Kinh để tìm hiểu. Nhiều người Việt đã sang Nga trước ông Hồ, nhưng rồi họ đã lặng lẽ trở về. Phan Bội Châu sau khi tìm hiểu với viên phụ tá của đại sứ Gia Lạp Hãn của Nga ở Bắc Kinh cũng đã bỏ ý định đưa thanh niên Việt sang Nga để học làm cách mạng. Cũng như ông Hồ, nhiều nhà cách mạng Việt Nam đã say mê lý tưởng cộng sản, nhưng sau khi tìm hiểu cặn kẽ về lý thuyết của Lênin họ đều thối lui, chỉ một mình ông nhắm mắt tiến tới!
Ông Hồ say mê tìm học các tư tưởng của Lênin ở vào thời bình minh của chủ nghĩa cộng sản, khi cách mạng vô sản 1917 ở Nga mới thành công rực rỡ. Cách mạng ở Nga là minh chứng cho thành công phần đầu của lý thuyết về hành động và cách mạng của Lênin: lập một đảng cách mạng chuyên nghiệp để chỉ huy, lấy lực lượng công nhân làm nòng cốt, dùng bạo lực để đoạt chính quyền. Bị lôi cuốn vì thành công của cách mạng này, ông đã coi nhẹ, hay không nhìn ra được sự nguy hiểm và tồi tệ trong phần sau lý thuyết của Lênin. Chính ở điểm này người ta nhận ra cái nguy hiểm của ít học và kém kiến thức, nhưng nhiều tham vọng và quyết tâm của ông Hồ.
Để có bằng chứng về sự khác biệt nghiêm trọng giữa có kiến thức và kém kiến thức của những người xuất ngoại tìm đường giải phóng cho dân tộc, ta hãy so sánh sự tìm đến với chủ nghĩa cộng sản của Hồ Chí Minh, và sự tìm đến với chủ nghĩa cộng sản của Phan Bội Châu.
Đây là sự tìm đến với chủ nghĩa cộng sản của Hồ Chí Minh. Khi tham dự đại hội Tours, đại hội lần thứ 18 của đảng Xã Hội Pháp. Dưới bút danh Trần Dân Tiên ông Hồ thuật:
"Ông Nguyễn lắng nghe nhưng không hiểu rõ lắm, vì người ta thường nhắc đi nhắc lại những tiếng, những câu: chủ nghĩa tư bản, giai cấp vô sản, bóc lột, chủ nghĩa xã hội, cách mạng, không tưởng, khoa học, Xi-mông, Phu-ri-ê, Mác (Saint Simon, Fourrier, Marx), chủ nghĩa vô chính phủ, chủ nghĩa cải lương, sản xuất, luận đề, giải phóng, chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa cộng sản, khách quan, chủ quan, v.v...
...
Một hôm ông Nguyễn đứng lên phát biểu: ' Các bạn thân mến, các bạn đều là những người xã hội, rất tốt! Tất cả đều muốn giải phóng giai cấp công nhân? Vâng. Như thế dù Đệ nhị, Đệ nhị rưỡi, hay Đệ tam Quốc tế phải chăng cũng thế cả. Những quốc tế ấy đều không là cách mạng cả sao? Những quốc tế ấy đều không đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội cả sao? Dù các bạn gia nhập quốc tế này hay quốc tế nọ, các bạn cũng phải đoàn kết nhất trí. Tại sao tranh luận nhiều thế? Trong khi các bạn tranh luận ở đây thì đồng bào chúng tôi đang rên xiết ở Việt Nam...'
Mọi người cười, nhưng không phải là mỉa mai, mà là cười cảm tình với một đồng chí non, chưa hiểu được vấn đề.
Một nữ chiến sĩ trẻ đẹp, Rô-dơ (Rose), thợ khâu, nói với ông: 'Anh Nguyễn, cũng hơi khó giải thích cho anh rõ, vì anh là một người mới. Nhưng tôi chắc sau này anh sẽ hiểu tại sao chúng tôi thảo luận nhiều thế, vì nó quan hệ đến tiền đồ của giai cấp công nhân.'
...
Ông Nguyễn cũng bỏ phiếu cho Đệ tam Quốc tế. Rất ngạc nhiên, Rô-dơ, làm tốc ký của đại hội hỏi ông Nguyễn: ' Đồng chí! Bây giờ đồng chí hiểu tại sao ở Pa-ri, chúng tôi đã bàn cãi nhiều như thế chứ '.
- Không, chưa thật hiểu đâu.
- Thế thì tại sao đồng chí lại bỏ phiếu cho Đệ tam Quốc Tế?
- Rất đơn giản, Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến lược, chiến thuật vô sản và những điểm khác. Nhưng tôi hiểu rõ một điều Đệ tam Quốc tế rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa. Đệ tam Quốc tế nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ..."
Qua đoạn văn đó chúng ta thấy rõ là ông Hồ còn "lơ mơ" đủ thứ, nhưng nghe một lời hứa đinh tai: quốc tế đệ tam chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa, là ông nhắm mắt tin theo, mà không hiểu hoặc không tìm hiểu điều kiện đòi hỏi của Đệ Tam Quốc Tế khi trợ giúp các nước thuộc địa như thế nào. Một đòi hỏi nguy hiểm của Đệ Tam Quốc Tế mà người ta đã nhận ra là: sau khi được giúp đỡ để thoát khỏi thân phận thuộc địa, các nước cựu thuộc địa phải chấp nhận trở thành chư hầu của một đế quốc mới -- đế quốc cộng sản!
Đây là sự tìm đến với chủ nghĩa cộng sản của Phan Bôi Châu. Cùng năm 1920, ở Trung Hoa, Phan Bội Châu tìm đến với chủ nghĩa cộng sản trước Hồ Chí Minh mấy tháng, với một cung cách khá say mê và hăng hái. Đây lời nhà cách mạng họ Phan thuật lại trong Phan Bội Châu Niên Biểu (nhóm Nghiên Cứu Sử Địa ấn hành, trích lại trong Nhận Diện Hồ Chí Minh của Huy Phong và Yến Anh, trang 123-125):
" Năm canh thân (1920) tháng II, tôi nghe được Xã Hội Cộng Sản đảng của nước Tô-Nga nhóm họp ở Bắc Kinh khá nhiều, mà đại bản doanh của họ thì chính giữa nhà Bắc Kinh Đại Học. Tôi vì tính ham lạ, mà cũng muốn nghiên cứu chân lý cộng sản, nhưng không biết lấy gì tự giới thiệu với họ, mới đem bản sách Nga La Tư Chân Tướng Điều Tra Ký của người Nhật Bản Bố Trí Di Trĩ làm ra, tráo đi lật lại, tìm ngầm ý chỉ, dịch thành ra sách Hán văn, trên dưới hai bản diễn dịch cực kỹ chủ nghĩa lao nông chính phủ và chế độ họ. Xong tôi cắp đi Bắc Kinh, vào nhà Bắc Kinh Đại Học thăm Thái Nguyên Bồi tiên sinh. Thái xem bản sách tôi cũng rất tương đắc, mới giới thiệu tôi với hai người Nga: một người là La nông Nga La Tư du Hoa đoàn Đoàn trưởng (tên chữ Nga tôi không nhớ được), một người là Hán văn tham tán Lạp tiên sinh, thuộc viên của đại sứ Gia Lạp Hãn. Lần này là lần thứ nhất tôi trực tiếp giao thiệp với người Nga. Tôi có hỏi Lạp tiên sinh: 'người nước tôi cũng muốn đi du học quý quốc, nhờ tiên sinh chỉ vẽ đường lối cho. '
Lạp trả lời: 'Lao nông chính phủ đối với tất cả đồng bào thế giới du học ở Nga, rất là hoan nghênh.
... các tổn phí, tiền xe và thực dụng, thảy có chính phủ Lao nông ưu đãi cho. Kể từ Việt Nam đến đất Nga, nhu phí chỉ trong 200$ chắc dễ liệu lắm. Nhưng du học sinh trước khi toan sang Nga vào học, tất phải quyết tâm thừa nhận những điều kiện:
1/ Tín ngưỡng chủ nghĩa cộng sản.
2/ Học hành về nước, tất gánh những việc tuyên truyền chủ nghĩa lao nông.
3/ Học thành về trong nước mình, phải ra sức làm những sự nghiệp xã hội cách mạng.
Còn những phí dụng trong khi tại học và khi về nước, nhất thiết do lao nông chính phủ đảm nhận cả.' " (3)
Qua lời thuật của Phan Bôi Châu, việc du học sinh muốn sang Nga học không phải là điều khó, nhưng chính 3 điều kiện tiên quyết khiến những người thận trọng và có lòng yêu nước, yêu dân tộc không thể chấp nhận được, vì cả 3 điều kiện đó đều nhắm vào một điểm chủ yếu: người du học sinh phải chấp nhận tin theo chủ nghĩa cộng sản như một tín đồ, sau khi học thành tài phải hoạt động và phục vụ cho chủ nghĩa lao nông thay vì tự do phục vụ cho quốc gia mình. Nghĩa là phải chấp nhận bán mình cho chủ nghĩa cộng sản !
Vậy, năm 1920, khi ông Hồ quyết định gia nhập đảng cộng sản Pháp là ông đã chấp nhận gạt bỏ con người quốc gia yêu nước Việt Nam trong ông, để trở thành một tín đồ của chủ nghĩa cộng sản, một con người của giai cấp công nhân quốc tế. Đây là quyết định nghiêm trọng và lầm lẫn thứ hai của ông Hồ. Và, bất hạnh thay cho dân tộc Việt Nam, nó là quyết định nghiêm trọng nhất! Tất cả những quyết định cũng như hành động của ông Hồ từ đó về sau đều do ảnh hưởng của quyết định này.
Xét hoàn cảnh của ông Hồ ở cuối thập niên mười, và mớ kiến thức non kém của ông, người ta có thể không trách khi ông mê say lý tưởng và chủ nghĩa cộng sản. Nhưng ở vào thời điểm cách mạng mùa thu 1945, ở Việt Nam, chắc chắn ông Hồ đã phải nhìn thấy những sự việc thanh trừng, thủ tiêu, khủng khiếp và đẫm máu diễn ra ở Nga dưới thời Stalin, tại sao ông vẫn đem chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam? Năm 1953, cũng đã thấy những hành động tàn bạo, vô nhân diễn ra trong phong trào cải cách ruộng đất ở Trung Hoa, dưới thời Mao Trạch Đông, tại sao ông vẫn đem áp dụng ở Việt Nam?
Một giải thích là: khi chấp nhận đi theo đệ tam quốc tế ông Hồ không còn quyền lựa chọn, mà ông bắt buộc phải nhắm mắt tuân theo. Nếu không ông sẽ bị thủ tiêu. Việc thanh toán Trosky và những đảng viên cộng sản cao cấp dưới thời Stalin không phải chỉ là những bằng chức cụ thể, mà còn là những đe dọa trực tiếp đối với những kẻ phản bội chủ trương của Đệ Tam Quốc Tế. Giải thích này nói lên được mối liên hệ chặt chẽ của ông Hồ với cộng sản quốc tế, nhưng lãng quên phần bản chất trong con người ông Hồ.
Một giải thích khác là: ông Hồ say mê thực sự lý thuyết hành động của Lênin, trong đó "cứu cánh biện minh cho phương tiện" là một ý niệm chủ chốt. Nó được đảng cộng sản, và nhất là kẻ nắm quyền lãnh đạo đảng, dùng như một lý luận quyền năng tuyệt đối vượt trên lòng nhân đạo! Tin tưởng vào quyền năng đó thì chém giết, thủ tiêu, dối gạt, trở thành những phương tiện để đạt mục đích mà lương tâm không phải thắc mắc. Việc sát hại những đảng viên của các đảng quốc gia không cộng sản, và việc đấu tố đến chết hàng trăm ngàn người trong phong trào cải cách ruộng đất ở miền Bắc là những bằng chứng hùng hồn cho ý niệm cứu cánh biện minh cho phương tiện.
Trong bài viết "Con Đường Dẫn Tôi Đến Chủ Nghĩa Lênin", Hồ Chí Minh viết:
"Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba ..." (Về Lênin Và Chủ Nghĩa Lê-nin, Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Sư Thật, trang 74) ông Hồ đã nói thật.
Năm 1911 "anh Ba" Nguyễn Tất Thành đã lên đường xuất ngoại để thoả mãn ước ao được phiêu lưu và làm cách mạng cứu nước. Anh đến với chủ nghĩa Lênin bằng lòng khát khao tìm một con đường cứu quốc hữu hiệu. Nhưng sau khi vào chủ nghĩa Lênin rồi thì anh bị mắc trong màng lưới tư tưởng của Lênin, để khi đi ra anh lột xác, trở thành người cộng sản thuần thành Hồ Chí Minh, miệng tuy nói quốc gia, nhưng tâm hướng về Đệ Tam Quốc Tế. Mơ ước tìm một con đường cách mạng cứu nước của Nguyễn Tất Thành lúc mới cất bước ra đi đã bị đổi thành quyết tâm đưa đất nước tiến tới xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh năm 1945. Tình trạng lạc hậu và nghèo đói của Việt Nam ngày nay là bằng chứng rõ ràng Hồ Chí Minh đã lầm đường cách mạng .
____________________________________________________________
- Chủ trương Pháp Việt đề huề, và khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
- Chủ trương dùng dựa vào Nhật, dùng vũ lực để đánh đuổi thực dân Pháp. Oâng Hồ chê chủ trương này của Phan Bội Châu "đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau". Người ta thắc mắc trong trường hợp của chính ông Hồ dựa vào "Quốc Tế Đệ Tam" để đánh đuổi thực sdân Pháp và đưa dân tộc VN tới nỗi bất hạnh ngày nay đưa hổ cửa trước nhưng rước gì cửa sau?
- Có một vài trùng hợp khá lý thú là cả hai người, Hồ Chí Minh và Phan Bội Châu, cùng quê ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, và cùng tìm đến với chủ nghiã cộng sản trong năm 1920.