|
Đạp ĐổThần Tượng Đỏ. Kỳ 2. Phần I: Chân tướng Hồ Chí Minh. Yêu hay ghét, kính trọng hay khinh bỉ, coi là anh hùng hay tội phạm, coi là nhà cách mạng có ảnh hưởng nhất hay một tên phá hoại gây tai hại nhất, người ta cũng không thể bác bỏ một số những sự kiện kỳ dị sau đây về con người của ông Hồ Chí Minh: Ông ta là một người Việt Nam có nhiều tên họ, nhiều ngày sinh và ngày chết; có một tiểu sử mù mờ và có tham vọng quá lố. Cách hành sử của ông ta nhiều khi gây lạ lùng không kém. Khi giao tiếp với người ông thường tỏ lộ như một kẻ khiêm nhượng, thông minh, hiểu biết sâu rộng, nhưng thực ra trình độ hiểu biềt của ông ta lại thấp kém, nông cạn, và ông ta mong muốn, thèm khát được ca tụng, tâng bốc đến bệnh hoạn, mù lòa, đến nỗi giả làm một người khác để viết sách tự ca tụng mình, một hiện tượng quái đản, chưa có một lãnh tụ nào trong lịch sử của nhân loại đã làm như thế. Chính cái tham vọng quá lố, cộng với kiến thức thấp kém, đã thúc đẩy Hồ Chí Minh đi theo chủ nghĩa cộng sản. Nhờ cóù quyết tâm và bền chí ông ta đã đạt được mộng ước cá nhân nhưng những hành động của ông ta trên con đường đạt mộng ước đó đã mang đến niềm bất hạnh cho dân tộc Việt Nam ngày nay. Người ta có thể thắc mắc: Một con người mang nhiều cái "giả" từ tiểu sử, tài năng, kiến thức đến đức độ, như thế, thì làm sao có thể che dấu, lừa bịp được mọi người? Một con người "tồi tệ" như thế, thì làm sao có thể trở thành một nhân vật mà hầu hết các nước trên thế đều biết đến? Những câu hỏi đó sẽ được giải đáp sau khi chúng ta mổ xẻ và dẫn chứng cặn kẽ những dữ kiện liên quan tới ông Hồ trong loạt bài này. * 1. Thân thế, gia phả, ngày sinh, ngày chết. Hồ Chí Minh là một trong số hàng chục danh xưng của một người khi sinh ra có tên do cha mẹ đặt là Nguyễn Sinh Cung, đó là tên đầu tiên của ông Hồ. Tên bộ, nghĩa là tên khai để ghi vào sổ bộ, sổ đăng ký, là Nguyễn Tất Thành. Và đó là tên thứ hai của ông. Cha của Nguyễn Sinh Cung là Nguyễn Sinh Huy, sau đổi là Nguyễn Tất Sắc, đậu phó bảng. Cộng sản Việt Nam công bố là Nguyễn Tất Sắc có tham gia phong trào Văn Thân và bị bắt đầy ra Côn Đảo, rồi cấm cố ở Sài Gòn. Điều công bố này ngày nay đã bị cho là bịa đặt, bởi những bằng chứng tìm tòi và phối kiểm của nhà sử học Trần Quốc Vượng, ở chính quê hương của ông Hồ tại Nam Đàn, Nghệ An, và những tìm tòi, khám phá của nhà nghiên cứu sử Nguyễn Thế Anh, nhà báo Daniel Hemey, trong văn khố ở Pháp. Khi tới nước Pháp, trong đơn xin vào học trường Thuộc Địa ông Hồ ký tên là Paul Tất Thành. Vậy đây có thể coi là cái tên chính thức thứ ba của ông Hồ, vì có văn kiện chứng minh, do nhà sử học Nguyễn Thế Anh tìm được ở văn khố hải ngoại vụ ở Pháp. Khi ở Pháp, Nguyễn Tất Thành cùng với nhóm bốn vị Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền viết báo, ký chung bút hiệu là Nguyễn Ái Quốc, rồi sau này ông nhận luôn bút hiệu đó là tên của mình để hoạt động. Đó là cái tên thứ tư của ông Hồ. Sau khi gia nhập đảng Xã Hội ở Pháp, rồi hoạt động cho Quốc Tế Đệ Tam ông Hồ có thêm hàng tá bí danh, cho tới năm 1945 ông xuất hiện là người lãnh đạo Việt Minh với danh xưng Hồ Chí Minh, và tên này được giữ cho tới khi ông chết. Về năm sinh, người ta được biết ông Hồ có ít nhất 5 năm sinh khác nhau: Trong đơn xin vào học trường Thuộc Địa (viết tại Marseille, nước Pháp, ngày 15-9-1911) thì ông Hồ khai là sinh năm 1892, tại thành phố Vinh, Việt Nam. Khi khai ở sở cảnh sát Paris, nước Pháp (ngày 2-9-1920) thì ông ghi là sinh ngày 15-01-1894. Theo lời khai của các hương chức ở quê ông, làng Kim Liên, thì ông Hồ sinh tháng 04-1894 (ngày âm lịch là tháng 3 năm Thành Thái thứ 6). Khi khai tại tòa đại sứ Liên Sô, ở Berlin (tháng 6 năm 1923, dưới bí danh là Cheng Vang) thì ông Hồ khai là sinh ngày 15-02-1895. Anh của ông Hồ tên là Nguyễn Sinh Khiêm (sau đổi thành Nguyễn Tất Đạt) khai là ông Hồ sinh năm 1891. Chị của ông Hồ tên là Nguyễn Thị Thanh khai là ông Hồ sinh năm 1893. Và ngày sinh ông Hồ ghi trong cuốn sách "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch" là 19-05-1895. Sau đây xin tóm lược tiểu sử của ông Hồ theo những sự kiện đã được đảng cộng sản Việt Nam công bố để qúy độc giả có một ý niệm khái quát về thân thế của con người cộng sản số một Việt Nam ấy. Nhiều sự kiện về gia phả của ông Hồ, và nhất là các hoạt động bí bật của ông ta trong thời gian ở ngoại quốc, ngày nay đã bị kiểm chứng là không chính xác, là sai lạc, hoặc hoàn toàn bịa đặt. Hồ Chí Minh sinh tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ngày sinh không biết chắc, nhưng sau khi làm chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì ông Hồ công bố đó là ngày 19-5-1890. Việc ông Hồ chọn ngày 19-5 làm sinh nhật có một lý do chính trị đặc biệt. Đó là ngày viên cao ủy Pháp ở Đông Dương, D'Argenlieu, đến Hà Nội, mà chính phủ mới thành lập của ông Hồ ở thế hạ phong buộc phải đón tiếp. Để giữ thể diện cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, việc làm cổng chào, treo cờ được giải thích là để mừng sinh nhật vị chủ tịch chính phủ chứ không phải là vì để đón tiếp phái đoàn Pháp do cao ủy D'Argenlieu lãnh đạo, và đồng thời ép viên cao ủy này vì lịch sự ngoại giao phải đến chúc thọ họ Hồ. Do lời khuyên của một giáo sĩ, Hồ Chí Minh được gia đình cho theo học trường Pháp Việt, đậu bằng Cơ Thủy năm 1907, và được bổ làm hương sư. Dạy học một thời gian ngắn rồi bỏ, tìm vào Sài Gòn thăm thân phụ, rồi ở lại Sài Gòn tìm cách xuất ngoại. Cuối năm 1911 ông Hồ nhận làm bồi trên tàu "La Touche Tréville", chạy đường Sài Gòn Marseille. Đến Pháp trình thơ giới thiệu của thân phụ cho nhà cách mạng Phan Chu Trinh, hiện đang ở đó. Nhưng vì bất đồng chính kiến với cụ Phan nên ông Hồ lại tiếp tục đi làm bồi tầu. Từ 1913 đến 1917 ông Hồ sang Anh, làm phụ bếp ở khách sạn Carlton, Luân Đôn, và bắt đầu hoạt động trong tổ chức bí mật chống thực dân "Liên Hiệp Công Nhân Hải Ngoại" do một số Hoa Kiều và Ấn kiều tổ chức. Cuối đệ nhất thế chiến, ông Hồ sang Pháp, sống ở Paris, mang ý định thành lập một tổ chức tương tự như Liên Hiệp Công Nhân Hải Ngoại ở Luân Đôn. Tại Paris Hồ Chí Minh được ông Nguyễn Thế Truyền giới thiệu với nhóm "Liên Hiệp Thuộc Địa" do một số nhà cách mạng, từ các thuộc địa của Pháp, thành lập ở Paris. Tổ chức này có tờ báo La Paria. Trong thời gian này Nguyễn Thế Truyền và Hồ Chí Minh cho xuất bản tờ Việt Nam Hồn. Nguyễn Thế Truyền cũng giới thiệu ông Hồ với những nhân vật tả khuynh của Pháp ở Paris. Do ảnh hưởng của những người này Hồ đã gia nhập đảng Xã Hội Pháp và viết báo Le Populaire. Năm 1920, được tham dự hội nghị của đảng Xã Hội Pháp tại Tours, Hồ Chí Minh bỏ phiếu tán thành việc thành lập "Đệ Tam Quốc Tế". Đây là khúc quanh quan trọng trong cuộc đời của Hồ Chí Minh ở hải ngoại: ông ly khai với nhóm Nguyễn Thế Truyền và những nhà cách mạng Việt Nam vì họ chủ trương đấu tranh cho lý tưởng "quốc gia dân tộc" trong khi ông Hồ quyết định dứt khoát, dấn thân đấu tranh cho lý tưởng "cộng sản quốc tế". Năm 1922 Hồ Chí Minh sang Nga lần thứ nhất với tư cách đại diện thuộc địa, lần đầu tiên tham dự đại hội lần thứ tư của Quốc Tế Đệ Tam. Năm 1923 Hồ Chí Minh trở lại Nga tham dự đại hội Nông Dân Quốc Tế. Năm 1924 ông Hồ trở lại Nga lần thứ ba, ở lại hơn một năm, học trường "Đại Học Công Nhân Đông Phương", nghiên cứu chủ nghĩa MácLê, và chiến thuật Bôn Sê Vích. Và từ đó ông trở thành một cán bộ cộng sản quốc tế, một gián điệp đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng, lúc ẩn, lúc hiện, lúc quốc, lúc cộng, với hàng nửa tá bí danh như Nguyễn Ái Quốc, Victor, Song Man Tcho, Lý Thụy, Vương Sơn Nhi, Tống Văn Sơ, Lin, v.v... Khoảng thời gian 1925 - 1933 Hồ Chí Minh được Đệ Tam Quốc Tế, dưới quyền điều khiển của Stalin, giao phó trách nhiệm truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam, và củng cố các cơ sở của tổ chức ở Đông Nam Á. Những hoạt động quan trọng của ông Hồ trong thời gian này được ghi nhận như sau: - Cùng với Lâm Đức Thụ ông Hồ thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội (1925), tổ chức này tìm cách thu nạp các thanh niên Việt Nam xuất ngoại, ở vùng Hoa Nam, và mở các lớp huấn luyện họ về lý thuyết cộng sản. - Năm 1927 Hồ Chí Minh phải cấp tốc rời Trung Hoa sang Nga vì Tưởng Giới Thạch đột nhiên thay đổi đường lối, ra lệnh khủng bố cộng sản (một đồng minh đang cộng tác trong cuộc hành quân Bắc phạt). Do sự việc này tổ chức Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội bị tan rã, phân hóa thành ba mảnh: Đông Dương Cộng Sản Đảng, An Nam Cộng Sản Đảng, và Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn - Tới Nga, Hồ Chí Minh được phái sang Berlin, Đức quốc, hoạt động trong phong trào Phản Đế một thời gian. Rồi được cử sang Bangkok, Thái Lan, hoạt động trong cơ sở mới lập của Đệ Tam Quốc tế là Nam Hải Vụ. Nhờ tình hình biến chuyển, năm 1930 ông Hồ được trở lại Hoa Nam làm vụ trưởng Đông Á Vụ, và đại diện liên lạc giữa Mạc Tư Khoa với các cơ sở của Đệ Tam Quốc tế ở Đông và Đông Nam Á châu. Biến cố quan trọng nhất trong thời gian này ảnh hưởng trực tiếp tới Việt Nam là ông Hồ kết hợp ba tổ chức cộng sản, những mảnh vỡ của Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội trước đó, thành tổ chức duy nhất là Việt Nam Cộng Sản Đảng (ngày 6 tháng 1 năm 1930). Mười tháng sau tổ chức này cải danh thành Đông Dương Cộng Sản Đảng. - Năm 1931, Hồ Chí Minh bị mật thám Anh bắt ở Hồng Kông. Năm 1932 bị bắt một lần nữa khi đang ở Singapore, được đưa về Hồng Kông và cho vào bệnh viện trị bệnh lao. Biến cố đáng ghi nhất trong thời gian này là ông Hồ, lúc đó đang mang bí danh Nguyễn Ái Quốc, bỗng nhiên biệt tích. Sự biệt tích này được ngụy trang là ông đã chết vì bệnh ho lao.
Năm 1941, ôngï Hồ tái xuất hiện, từ Nga trở về Hoa Nam, dấu kín lý lịch cũ, giả dạng một chiến sĩ quốc gia Việt Nam, chủ trương đáng đuổi phát xít Nhật, bí danh "Hồ Chí Minh" được dùng từ lúc này. Cùng với Hồ Tùng Mậu và các đồ đệ cũ, ông Hồ thành lập mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt là Việt Minh. Và ông tiếp tục lãnh đạo mặt trận này cho tới khi thành công trong cuộc đảo chính ngày 19-8-1945, và trở thành chủ tịch lâm thời của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Từ 1945 trở về sau Hồ Chí Minh nắm quyền lãnh đạo miền Bắc cho tới khi chết. Năm 1933, một mẩu tin nhỏ đăng trên tờ báo Daily Worker, cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Anh, cho biết Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao trong một nhà thương ở Hồng Kông. Hồ sơ của mật thám Pháp cũng ghi là Nguyễn Ái Quốc chết năm 1933. Đây là năm chết đầu tiên của ông Hồ Chí Minh. Và dĩ nhiên đó là cái chết giả của ông. Năm 1969 ông Hồ chết thật, đảng cộng sản Việt Nam công bố ngày chết của ông là 03-09-1969. Sau khi không thể che dấu ngày chết thực của ông Hồ, đảng cộng sản Việt Nam đã phải công bố lại là ông Hồ chết vào ngày 02-09-1996, và giải thích rằng lúc trước họ không công bố như vậy là muốn tránh ngày ông chết trùng vào ngày tuyên ngôn độc lập của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa! |