|
LỘT
TRẦN HUYỀN
THOẠI HỒ
CHÍ MINH (tiếp theo và hết)
6.-
HUYỀN THOẠI "TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH"
Sau năm 1975, Việt Nam suy sụp dần dần với chính sách
kinh tế chỉ huy và sự cai trị hà khắc của chế độ cộng sản.
Cao điểm của sự suy sụp là việc ông Ðỗ Mười, uỷ
viên bộ Chính trị đảng Cộng Sản Việt Nam, chỉ huy cuộc cải
tạo công thương nghiệp miền Nam, thực chất là đánh "tư
sản" năm 1978, ngăn sông cách chợ, cấm cản tiểu thương,
đày ải dân thành thị đến các vùng hoang địa, cưỡng bách
lao động trong những công tác thủy lợi thiếu nghiên cứu,
tung quân xâm lăng Campuchia, chỉ để tránh sức mạnh của người
dân trong nước. Dân chúng
đói khổ ta thán, tinh thần cán bộ đảng viên sa sút theo.
Ðể
kiếm cách tuyên truyền cổ võ dân chúng hưng phấn trở lại,
nhà nước cộng sản Hà Nội đánh bóng hình tượng Hồ Chí
Minh, đã chết từ năm 1969
trước khi miền Nam bị cưỡng chiếm.
Họ tổ chức cuộc "rước đuốc bác Hồ" xuyên
Việt, từ lăng mộ Hồ Chí Minh ở Hà Nội lên các tỉnh miền
núi Bắc Việt, và quan trọng nhất là từ Hà Nội tiến xuống
các tỉnh phía Nam vào khoảng tháng 10-1980, giống như kiểu rước
đuốc của nhà độc tài Hitler năm 1933 ở Nuremberg (Ðức).
Ánh
đuốc bập bùng lung linh gây không khí huyền hoặc theo nghi lễ
cổ xưa cũng không làm tan đi băng giá lạnh lùng trong tâm hồn
dân chúng Việt Nam đã triền miên khổ đau vì nạn độc tài
cộng sản. Càng về nam, dân
chúng càng ít hưởng ứng, nên sau chặng đường từ Tuy Hòa
vào Nha Trang thì cuộc rước đuốc tan rã.
Dân chúng cần cái ăn cái mặc, chứ không phải là những
lời nói suông. Vì không
xuống quá Nha Trang, do đó ở Sài Gòn và trong nam, dân chúng
ít nghe biết chuyện rước đuốc nầy.
Năm
1989, Ðông Âu bắt đầu biến động và thoát khỏi đế quốc
Liên Xô. Sau đó đến lượt
Liên Xô, chiếc nôi của Cộng Sản Quốc Tế, sụp đổ năm
1991. Khẩu hiệu chiến lược
hàng đầu mà đảng Cộng Sản Việt Nam thường sử dụng:
"Chủ nghĩa Mác - Lê bách
chiến bách thắng" không còn hiệu nghiệm.
Ðảng CSVN lâm vào tình trạng lúng túng, không biết làm
sao tiếp tục tuyên truyền với đảng viên và dân chúng, vì
nói rằng chủ nghĩa Mác-Lê bách chiến bách thắng, nay sao lại
sụp đổ tan tành chóng vánh ngay tại quê hương của Lenin?
Ðảng CSVN vội quay qua cầu cứu Hồ Chí Minh lần nữa,
đưa thêm "tư tưởng Hồ Chí Minh" tiếp theo sau chủ nghĩa
Mác Lê, nghĩa là từ nay nền tảng của ý thức hệ cộng sản
Hà Nội là chủ nghĩa Mác xít - Lê nin nít và tư tưởng Hồ
Chí Minh. Từ đó mới xuất hiện chuyện "tư tưởng
Hồ Chí Minh". Ðiều 4 chương
1 hiến pháp năm 1992 của cộng sản Hà Nội chính thức công
khai việc nầy.(56) Tưởng
cũng nên thêm ở đây, khi Liên Xô sụp đổ, ở Hà Nội
việc duy trì xác ướp Hồ Chí Minh gặp khó khăn cả về kỹ
thuật lẫn tài chánh. Người
ta đã nghĩ đến việc thiêu xác ông ta.
Việc nầy đã được báo chí và đài phát thanh nói đến,
nhưng do nhu cầu chính trị cần nêu cao "tư tưởng Hồ Chí
Minh", nên Hồ Chí Minh vẫn còn được nằm trong ngôi mộ
đồ sộ ở Hà Nội với sự cố vấn của các chuyên gia Nga. Hồ
Chí Minh từ trần ngày 2-9-1969, nhưng Lê Duẩn và bộ chính trị
đảng CSVN sợ xui xẻo vì trùng với ngày quốc khánh của Hà
Nội, đã sửa đổi ngày chết là 3-9, và sửa đổi luôn cả
chúc thư của Hồ Chí Minh.(57) Ðồng
thời đảng CSVN xây dựng nấm mồ Hồ Chí Minh thật đồ sộ,
tốn kém, gọi là lăng theo từ ngữ vua chúa thời quân chủ,
nhắm lợi dụng huyền thoại và nấm mồ bề thế Hồ Chí Minh
để uy hiếp tinh thần dân chúng, và tạo hào quang cho những
kẻ kế thừa.(58) "Tư
tưởng Hồ Chí Minh" là gì?
Không thấy đảng Cộng Sản Việt Nam trình bày một cách
có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong đại hội tháng 2 năm 1951, Hồ Chi Minh phát biểu:
"Về lý luận, đảng Lao Ðộng
Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lênin...lấy tư tưởng Mao Trạch Ðông
làm kim chỉ nam.". Khi
đó, đại biểu miền Nam là Nguyễn Văn Trấn đã trình bày với
Hồ Chí Minh rằng: " Có đồng
chí còn nói: hay là ta viết "tư tưởng Mao Trạch Ðông và
tư tưởng Hồ Chí Minh". Ông
Hồ trả lời:"Không, tôi không
có tư tưởng ngoài chủ nghĩa Mác- Lê nin."(59) Một lần khác, có người đã hỏi Hồ Chí Minh
vì sao ông không viết sách về lý thuyết cộng sản, thì ông
trả lời ông không cần viết, vì đã có Mao Trạch Ðông viết
rồi.(60) Hồ
Chí Minh không có tư tưởng gì, nên những kẻ thừa kế tha
hồ vẽ vời sáng tác mọi chính sách và gắn cho nhãn hiệu
Hồ Chí Minh.
Theo dõi những bài diễn văn, những khẩu hiệu do ông
Hồ đưa ra, mọi người đều nhận biết rõ ràng tất cả đều
do ông Hồ cóp nhặt từ các nhà tư tưởng văn hóa và chính
trị đông tây. Ví dụ bài
diễn văn khai sinh chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do ông
Hồ đọc ngày 2-9-1945, thường được đảng Cộng Sản gọi là
bản "Tuyên ngôn độc lập", hoàn toàn vay mượn của
các văn bản Pháp và Mỹ.(61) Mọi
người sẽ không lấy làm lạ nếu biết rằng người giúp ông
Hồ viết bản văn nầy là một thiếu tá người Hoa Kỳ,
Archimedes L. A. Patti.(62)
Trong bài nói chuyện tại lớp học tập chính trị khoảng
hơn 3.000 giáo viên cấp 2 và cấp 3 miền Bắc (dạy từ lớp 6
đến lớp 12 trung học), do bộ Giáo Dục tổ chức tại Hà Nội
ngày 13-9-1958, Hồ Chí Minh viết: "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích
trăm năm thì phải trồng người ". (Báo Nhân
Dân ngày 14-9-1958) Câu
khẩu hiệu nầy được sách vở Cộng Sản xem là tư tưởng vĩ
đại của Hồ Chí Minh về kế hoạch đào tạo nhân tài cho đất
nước, thật ra là câu nói của Quản Trọng các đây hơn hai
ngàn năm.(63) Một
trong những khẩu hiệu hàng đầu được xem là tư tưởng Hồ
Chí Minh để huấn luyện và giáo dục cán bộ cộng sản là
"Chí công vô tư, cầm kiệm
liêm chính", thật ra rút từ lời dạy của Nho giáo cũng
đã trên 2.000 năm. Với các
phạm trù nầy, Nho giáo đã đào tạo không biết bao nhiêu thế
hệ quan lại thanh liêm trước đây phục vụ quần chúng.
Ngược lại, lời sao chép của Hồ Chí Minh chỉ là cái
vỏ bọc che đậy một hệ thống cầm quyền tham ô nhũng lạm từ
trên xuống dưới, mà bất cứ người nào ở trong cũng như
ngoài nước, kể cả người ngoại quốc đều biết. Còn
việc Hồ Chí Minh bảo rằng "Không
có gì quý hơn độc lập tự do", thì mọi người đều
đã biết, chính nhờ lợi dụng tinh thần độc lập dân tộc
và lòng yêu thích tự do của dân chúng mà Hồ Chí Minh và
đảng CSVN đã đưa dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ cộng sản
Nga Hoa. Nêu
lên vài ví dụ trên đây để thấy rằng những điều gọi là
tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ là sự cóp nhặt danh ngôn của những
vĩ nhân thế giới, rồi đề tên họ Hồ vào.
Sở dĩ ông Hồ và các thuộc hạ của ông mạnh dạn mượn
tư tưởng của người khác làm của riêng ông Hồ, vì từ
năm 1954 đến 1975, Bắc Việt sống hoàn toàn bưng bít, không có
bất cứ một sách vở xưa cũ hay một phương tiện truyền thông
nào đến với dân chúng, ngoài sách đảng, báo đảng, và
đài phát thanh đảng. Trong
tình hình đó, Hồ Chí Minh muốn cóp nhặt của ai thì tha hồ mà
cóp nhặt, không ai biết gì để có thể so sánh.
Rủi ro có người nào phát hiện, người đó cũng không
dám lên tiếng dưới chế độ độc tài của ông.
Ngay cái tên "Nguyễn Ái Quốc", ông Hồ mượn
của Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền;(64)
và cái tên "Hồ Chí
Minh" ông Hồ mượn của Hồ Học Lãm.(65)
Chẳng những lấy tên "Hồ Chí Minh" của Hồ Học
Lãm, năm 1940, Nguyễn Ái Quốc còn chiếm dụng luôn danh xưng
Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh Hội gọi tắt là Việt Minh do Hồ
Học Lãm và Nguyễn Hải Thần lập ra ở Nam Kinh (Trung Hoa) vào
năm 1936 để đánh lừa những người yêu nước Việt Nam và
cả chính quyền Trung Hoa để được giúp đỡ. Theo
tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam, Bản
án chế độ thực dân Pháp do Nguyễn Ái Quốc đưa ra năm
1922, do chính ông khởi viết từ 1921.(66)
Thật ra, Nguyễn Ái Quốc
không viết được sách nầy, vì lúc đó ông ta không đủ trình
độ Pháp văn để viết sách,(67)
và ông ta đã cóp nội dung bài "Ðông Dương chính trị luận"
của Phan Chu Trinh (đã được Jules Roux, bạn của Phan Chu
Trinh, dịch ra tiếng Pháp để gởi cho chính phủ Pháp và Albert
Sarraut sắp qua làm toàn quyền Ðông Dương).
"Bài nầy Quốc chỉ sửa
chút ít, viết lại đề tựa khác "Bản án chế độ thực
dân Pháp", nhờ luật sư Phan Văn Trường sửa chữa, viết
lại nhiều trang, viết lời tựa trước khi in và phổ biến."(68)
Chẳng những ông Hồ "mượn" tư tưởng vĩ nhân
thế giới làm tư tưởng của mình, cóp sách của người khác
rồi sửa chửa làm sách của mình, ông
ta còn mượn luôn thơ của người khác để làm thơ mình.
Tác phẩm được coi là nổi tiếng của họ Hồ là Ngục
trung nhật ký [Nhật ký trong tù].
Nhà nghiên cứu Lê Hữu Mục đã phân tách tỉ mỉ tác
phẩm nầy và đi đến kết luận như sau: "Phần
phân tích ở trên chứng thực già Lý là chủ nhân của những
bài thơ xây dựng theo kĩ thuật thơ Ðường; những bài thơ
nầy chiếm hết ba phần tư tác phẩm.
Phần còn lại có thể coi là của Hồ Chí Minh.
Tôi chỉ nói là có thể vì tôi không khẳng định
được rõ ràng bài thơ nào đích thực là của Hồ Chí Minh,
bài thơ nào thuộc về các tác giả khác."(69)
Từ phát hiện của nhà nghiên cứu Lê Hữu Mục, có
lẽ cũng cần nên cẩn án lại cẩn thận những tác phẩm mang
tên Hồ Chí Minh có phải thực sự là của ông ta không?(70) Không
biết ông Hồ đã tự cóp nhặt hoặc đạo văn, hay những
thuộc hạ của ông muốn tâng bốc ông Hồ, đã cóp nhặt và
đạo văn giúp cho ông Hồ. Nếu
như thế thì họ đã hại hình tượng Hồ Chí Minh của họ.
Tai hại một cách công khai nhất là bộ chính trị đảng
Cộng Sản Việt Nam đã thêm phần "tư tưởng Hồ Chí
Minh" sau chủ nghĩa Mác-Lê. Hồ
Chí Minh không bao giờ là một nhà tư tưởng, cũng không phải
là một lý thuyết gia chính trị.
Trong sách Ho Chi Minh, Jean
Lacouture đã ít nhất hai lần nói rằng ông Hồ không phải là
một lý thuyết gia, dù lúc viết sách nầy Lacouture là một ký
giả còn thiên tả.(71) Mọi
người đều đã từng nghe nói đến Marxism (Mác-xít), Leninism
(Lênin-nít), Stalinism (Xìtalin-nít), Titoism (Titô-ít), Maoism (Mao-ít),
nhưng không bao giờ nghe nói đến "Hoism" (Hồ-ít).(72)
Ông Hồ thật sự chỉ là một nhà chính trị giỏi thực
hành, một chiến thuật gia (tactician), ứng biến mau lẹ, có tài
đóng kịch, đặc biệt rất sắc máu và tàn ác dị thường.(73)
Việc bộ chính trị đảng CSVN đề cao tư tưởng Hồ Chí
Minh, công khai đưa vào hiến pháp, làm cho người ta càng thêm
chú ý, và càng để lộ trước mặt mọi người rằng ông
Hồ chẳng có tư tưởng nào đặc sắc.(74)
Sau
sự sụp đổ của các đảng cộng sản tại Liên Xô và Ðông
Âu, bộ chính trị đảng CSVN tưởng rằng thổi phồng huyền thoại
"tư tưởng Hồ Chí Minh" nhắm gây hưng phấn dân chúng.
Thực chất việc trên đã làm cho chủ nghĩa nầy càng
thêm mất ý nghĩa và không quyến rũ được ai.
Ngày nay, chủ nghĩa Mác-Lê, và hình tượng Hồ Chí Minh
chỉ còn là chiếc phao để đảng Cộng Sản duy trì quyền lực
độc đảng độc tài dựa trên bạo lực mà thôi.
Trong khi đó, dư luận trong nước cũng như trên thế giới
đều lên tiếng hô hào loại bỏ điều 4 hiến pháp 1992, nghĩa
là chẳng những loại bỏ đặc quyền tối thượng của đảng
CSVN, mà còn loại bỏ luôn chủ thuyết Mac xít - Lê nin nít và
cái gọi là "tư tưởng Hồ Chí Minh". Tóm
lại, những huyền thoại về Hồ Chí Minh do ông tự tạo ra, hay
do các thuộc hạ của ông dựng nên, đều là những phấn son
giả tạo tô điểm hình tượng Hồ Chí Minh.(75)
Những huyền thoại nầy một thời đã đánh lừa
được một số người Việt Nam và thế giới.
Gần đây, trong một cuộc phỏng vấn, sử gia Jean Louis
Margolin, giáo sư tại Université de Provence (Pháp), tác giả sách
Livre Noir du Communisme [Sách đen
chủ nghĩa cộng sản], đã nói: "Thành thật mà nói, vào những năm 60, tôi đã từng
xuống đường biểu tình ủng hộ Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam, tôi đã từng reo mừng với những cuộc chiến thắng tại
Cam-bốt cũng như tại Việt Nam. Tôi
từng nghe nói đến những vụ tàn sát Tết Mậu Thân 68, nhưng
tôi tin và nghĩ rằng đó chỉ là sự tuyên truyền của Mỹ.
Không phải chỉ một mình tôi, mà tôi tin rằng rất nhiều
người cùng thời với tôi đã bị sai lầm vì những tuyên
truyền sai lạc của cộng sản." (76)
Dần dần, dòng sông thời gian đã rửa sạch lớp phấn
son giả tạo, làm bay đi những huyền thoại, để lộ ra khuôn
mặt thật của Hồ Chí Minh. Phải
thẳng thắn thừa nhận rằng Hồ Chí Minh là một nhân vật lớn
của lịch sử hiện đại Việt Nam.
Ông đã lập nhiều thành tích đáng kể và đáng nể.
Những thành tích nầy tốt hay xấu, có lợi hay có hại
cho nhân dân Việt Nam, đó là sự phán xét của nhân dân.(77)
Lột trần những huyền thoại Hồ Chí Minh là việc làm cần
thiết để trả lại cho Hồ Chí Minh, tên thật là Nguyễn Sinh
Cung, những gì thật sự là
của Nguyễn Sinh Cung.
CHÚ THÍCH:
56.
Sau đây là nguyên văn điều 4 chương 1 của hiến pháp
năm 1992 của chế độ cộng sản Hà Nội: "Ðảng
cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt
Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo
chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng
lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của đảng
hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật." (Tài
liệu rút từ Internet). Ðiều
4 nầy chẳng những chính thức xác nhận bên cạnh chủ nghĩa
Mác Lênin, "tư tưởng Hồ Chí Minh" là kim chỉ nam hành
động của đảng CSVN, mà còn đặt đảng CSVN đứng trên hiến
pháp, và mọi quyền hành trong nước đều nằm trong tay đảng
CSVN vì "là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội
". 57.
Sau đây là nguyên văn của Thành Tín, tức Bùi Tín,
trong Hoa xuyên tuyết, tr. 118: "Hồ Chí Minh bắt đầu
viết Di chúc từ tháng 5-1965, sau đó cứ vào tháng 5 hằng năm
lại viết lại, viết thêm. Cho
nên có tới bốn bản Di chúc bổ sung cho nhau.
Ông Vũ Kỳ kể chuyện là ngày 2-9-1969, sau khi ông Hồ Chí
Minh mất, vào buổi tối, ông Phạm Văn Ðồng đến nơi đặt
thi hài ông Hồ. Ông Vũ Kỳ
đưa ra chiếc phong bì lớn đựng cả bốn Di chúc.
Ông Phạm Văn Ðồng đưa cả hai tay ra ngăn lại: "Không,
tôi không nhận. Ðây là
chuyện hệ trọng. Ðể sáng
mai, có đầy đủ Bộ Chính trị, đồng chí đưa ra."
Sáng 3-9-1969, có đầy đủ Bộ Chính trị, ông Vũ Kỳ đưa
ra chiếc phong bì lớn ấy. Ông
Lê Duẩn liền cầm lấy rồi gọi ông Hoàng Tùng, Tổng biên
tập báo Nhân Dân vào phòng nhỏ bên cạnh. Ông Duẩn tự quyết định chỉ đưa ra một bản,
cắt bỏ, sửa chửa vài chỗ rồi giao cho ông Hoàng Tùng công
bố..." (Những chữ viết hoa theo nguyên bản.) 58.
Chẳng những việc xây lăng và bảo vệ xác ướp rất
tốn kém, việc duy trì lực lượng quân sự để bảo vệ lăng
cũng vô cùng tốn kém từ 1969 đến nay.
Tư lệnh quân đội bảo về lăng là một sĩ quan cấp tướng,
với ít nhất hai tiểu đoàn chính quy, và không biết bao nhiêu
cảnh sát vừa nổi vừa chìm đứng gác, với một lượng điện
và nước tiêu dùng bằng một quận lớn, trong khi dân chúng
thiếu thốn. 59.
Nguyễn Văn Trấn, Viết cho
mẹ & quốc hội, Nxb. Văn Nghệ, California, tái bản năm
1996, tr. 150-152. Theo đoạn văn
nầy, trong một cuộc đối thoại ngắn, Hồ Chí Minh hai lần xác
nhận mình chẳng có tư tưởng gì ngoài chủ nghĩa Mác-Lê. 60.
Oliver Todd, bđd., sđd. tr. 277. 61.
Lời mở đầu của bản tuyên bố ngày 2-9-1945: "Hỡi đồng bào cả nước, "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.
"Tạo
hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được;
trong những quyền ấy, có quyền được tự do sống, quyền tự
do và quyền mưu cầu hạnh phúc."
"Lời
bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước
Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có
ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra bình
đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và
quyền tự do.
"Bản
Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm
1791 cũng nói:
"Người
ta sinh ra tự do bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn
được tự do và bình đẳng về quyền lợi."
"Ðó
là những lẽ không ai chối cãi được..."
(Trần Dân Tiên, sđd. tr.
112.) 56.
Stanley Karnow, sđd.
tr. 138. 57.
Quản Trọng: Tên là Quản
Di Ngô, năm sinh năm và mất không rõ, sống vào thế kỷ thứ
7 trước Công nguyên. Ông làm tể tướng, phò Tề Hoàn Công lập bá
nghiệp thời Xuân Thu (722-479 tr CN).
Ông có công trong cải cách kinh doanh, thuế vụ, được
Tề Hoàn Công kính trọng gọi là "Trọng phụ"(cha già),
nên người đời gọi là Quản Trọng.
Quản Trọng cho hành nghề mãi dâm công khai và đánh
thuế, nên ông cũng được thờ là tổ lầu xanh và là thần
"Bạch mi" (Lông mày trắng).
Tác phẩm để lại: Quản Tử, gồm những tư tưởng triết lý chính trị.
Câu của Quản Trọng là: " Nhất
niên chi kế tại ư thụ cốc; thập
niên chi kế tại ư thụ mộc; bách
niên chi kế tại ư thụ nhân" (Kế một năm trồng lúa,
kế mười năm trồng cây, kế trăm năm trồng người.)
Ban sáng lập viện Ðại học Ðà Lạt, Việt Nam Cộng Hòa,
dùng ý câu nầy làm phương châm "Thụ Nhân" của nhà
trường. 58.
Nguyễn Thế Anh, bđd., sđd. tr. 29. 59.
Chính Ðạo, Việt Nam niên
biểu nhân vật chí, Nxb. Văn Hóa, Houston, 1997, tt. 168-169.
Lữ Giang, sđd. tt. 110-111.
Hồ Học Lãm (? - 1942): Người Quỳnh Ðôi, Nghệ An,
qua Nhật theo cụ Phan Bội Châu trong cuộc Ðông du (1905-1908). Năm 1909, ông bị trục xuất khỏi Nhật, qua Trung
Hoa, học khóa 2 sĩ quan Bảo Ðịnh Quân, rồi phục vụ trong quân
đội Trung Hoa. Trong thập niên
1920, Hồ Học Lãm sống ở Hàng Châu, giao thiệp thân cận với
Cường Ðể, Phan Bội Châu và những nhà cách mạng Việt Nam
ở Trung Hoa. Có thể nói ông là gạch nối giữa những nhà
hoạt động cách mạng Trung Hoa và Việt Nam.
Ông lấy tên Hồ Chí Minh khoảng năm 1937. Tên nầy được Nguyễn Ái Quốc "mượn"
dùng lần đầu khoảng cuối 1940. 60.
BNCLSÐ, sđd. tr. 29. 61.
Tờ trình của viên chánh kiểm soát quân đội và người
Ðông Dương tại Pháp, gởi toàn quyền ngày 12-9-1923, nói về
việc Nguyễn Ái Quốc viết và nói tiếng Pháp như sau: "...Những
bài ký tên Nguyễn Ái Quốc không phải do ông ta viết... Người
Việt Nam ấy [Nguyễn Ái Quốc]
chưa đủ khả năng nói và viết tiếng Pháp trôi chảy..."
(Hứa Hoành, Những phú hộ lừng
danh, Nxb. Văn Hóa, Houston, TX, 1999, tr. 226, trích dẫn tài liệu
của Ðặng Hữu Thụ, Nhà cách
mạng Nguyễn Thế Truyền, tr. 124.)
Ðiều nầy hữu lý vì Nguyễn Ái Quốc tức Nguyễn Sinh
Cung (hay Côn) học chưa hết năm thứ nhất trường Cao đẳng
tiểu học Quốc Học (tương đương với lớp 6 Trung học đệ
nhất cấp ngày nay) thì đã bỏ học vào tháng 4-1908. 62.
Hứa Hoành, sđd. tr. 224. 63.
Lê Hữu Mục, Hồ Chí Minh
không phải là tác giả "Ngục trung nhật ký", Văn
Bút Việt Nam Hải Ngoại, Canada, 1990, tr. 94. "Ông già họ Lý",
người bị giam chung với họ Hồ vào đầu thập niên 30 tại
khám lớn Victoria ở Hồng Kông. 64.
Gần đây, tuyển tập Quốc
Học, trường tôi do nhà
xuất bản Thuận Hóa ấn hành tại Huế năm 1996 có đăng bài
thơ "Tầm hữu vị ngộ" của Hồ Chí Minh.
Tuyển tập trên chú giải rằng bài thơ nầy của Hồ Chí
Minh gởi cho Võ Nguyên Giáp năm 1954, và "mới được phát
hiện". Theo ông Tuệ
Quang Tôn Thất Tuệ, trong bài "Ai là tác giả bài Tầm hữu
vị ngộ?", tạp chí Hương Văn,
California, số 5, 2-1999, tt. 91-96, nếu nói rằng bài thơ nầy của
một lãnh tụ (Hồ Chí Minh) tặng cho một ông tướng (Võ Nguyên
Giáp), được sáng tác năm 1954, mà sao đến năm 1990 mới
phát hiện? Hai người nầy
đều là những nhân vật quan trọng đầu não của chế độ Hà
Nội, mà sao bài thơ có thể thất lạc một thời gian dài?
Ông Tuệ Quang đi sâu vào chi tiết bài thơ và nhận xét:
"Tóm lại, bài thơ "Tầm
hữu vị ngộ", xét về hình thức lẫn nội dung, không phù
hợp với thi cách và khuynh hướng của ông Hồ ".
65.
Jean Lacouture sđd. tt. 58,
153: (1) tr. 58: Lacouture trình bày nhận xét của đảng viên cộng
sản Pháp Joseph Ducroux, cùng hoạt động với họ Hồ ở Trung
Hoa: "He devoted little time to doctrinal wranglings. He
was first and foremost a militant, an organizer." (Ông ta ít dành
thời giờ để bàn cãi chủ thuyết.
Trước hết và trên hết ông là một người tranh đấu,
một nhà tổ chức.) (2) tr.
153: "Ho ... has never been a
theorist like Truong Chinh." (Hồ ... chưa bao giờ là lý thuyết
gia như Trường Chinh.) Từ
gần cuối thập niên 60 trở đi, khi chứng kiến chính sách hiếu
chiến và tàn bạo của cộng sản, Jean Lacouture mới thấy mình
sai lầm, dần dần từ bỏ lập trường thiên tả. 66.
Charles Fenn, sđd. tr. 47. 67.
Vũ Thư Hiên, sđd. tr.
459. Oliver Todd, bđd.,
sđd. tr. 276, 295. 68.
Gần đây, trên tạp chí Cộng
Sản số 24 ra ngày 15-12-1999 có đăng bài "Tư tưởng Hồ
Chí Minh với quá trình trưởng thành và chiến thắng của quân
đội ta" của ông Võ Nguyên Giáp, đại tướng hưu trí quân
đội cộng sản, được báo Lao Ðộng đăng lại và đưa lên trang Web ngày
20-12-1999. Trong bài nầy, về
tư tưởng Hồ Chí Minh, có đoạn ông Võ viết:"Ðến
với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã có một
chuyển biến nhảy vọt về chất, giải phóng dân tộc đã gắn
với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước
gắn liền với chủ nghĩa quốc tế chân chính."
Phần
thời sự báo Nhân Dân [Hà Nội] ngày 19-5-2000 [rút từ Internet],
có đăng bài tường thuật hội
thảo khoa học tổ chức tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh tại Hà Nội với đề tài: "Tư tưởng Hồ Chí Minh và
cách mạng Việt Nam", do ông Nguyễn Ðức Bình, uỷ viên bộ
Chính trị, chủ tịch Hội đồng lý luận trung ương, Giám đốc
Học viện chính trị, chủ trì cuộc hội thảo.
Ngoài ông Nguyễn Ðức Bình, còn có các ông Võ Nguyên
Giáp, Tố Hữu và các giáo sư, tiến sĩ, các nhà khoa học
trong và ngoài học viện với 135 bài tham luận.
Sau đây là đúc kết các ý kiến phát biểu của báo Nhân
Dân: " Các bản tham luận
đều nghiên cứu sâu nhiều khía cạnh như Hồ Chí Minh với giáo
dục tư tưởng XHCN; Hồ Chí Minh với văn hóa và khoan dung văn
hóa; tư tưởng Hồ Chí Minh với chiến lược con người trong
cách mạng XHCN ở Việt Nam; những quan điển cơ bản về chỉnh
đốn Ðảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh; về Nhà nước dân chủ
trong tư tưởng Hồ Chí Minh; sự nghiệp xây dựng nền văn hóa
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Hồ Chí Minh biểu tượng
tinh thần quốc tế vô sản... và đi đến một nhận định thống
nhất: Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp
chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào
yêu nước Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo và
phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin để giải quyết những vấn đề
của cách mạng Việt Nam. Ðó
là hệ thống quan điểm, lý luận về cách mạng giải phóng dân
tộc và tiến lên CNXH ở các nước thuộc địa và phụ thuộc,
là tư tưởng của sự kết hợp giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội, giải phóng con người mà hạt nhân trung tâm
là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH." Như thế, các nhà trí thức xuất
sắc của đảng Cộng Sản Việt Nam hội họp tại Hà Nội để
xác định một lần nữa rằng "tư tưởng Hồ Chí Minh"
dựa trên căn bản học thuyết Mác-Lênin để giải phóng dân
tộc...Quanh đi quẩn lại, vẫn không có gì mới mẻ, vẫn chừng
đó chuyện, với những từ ngữ hoa mỹ theo kiểu cộng sản.
Thật ra, chính Lenin đã dùng chiêu bài giải phóng và độc
lập dân tộc, xúi giục các nước bị trị đứng lên chống
các nước tư bản đế quốc, vì các các nước tư bản lúc
đó là địch thủ của Liên Xô, đồng thời để Liên Xô bành
trướng chủ nghĩa cộng sản, hình thành ra một loại đế quốc
đỏ mới do Liên Xô lãnh đạo.
Cũng vì Hồ Chí Minh đã gắn liền với chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa quốc tế cộng sản nên Việt Nam mới bị chiến tranh
triền miên, và bị đói khổ như ngày nay. Ðiều đáng ghi nhận là khi sống
nhiều năm tại Liên Xô (hai lần) trong các thập niên 20 và
30, Hồ Chí Minh đã chứng kiến rõ việc áp dụng chủ thuyết
Mác-Lênin tại Liên Xô đã làm cho dân chúng nước nầy
nghèo đói đến mức nào, nhưng vì tham vọng cá nhân, ông ta
chẳng những không từ bỏ mà còn quyết đem về áp dụng tại
Việt Nam. 69.
Sau đây là cuộc đối thoại giữa Oliver Todd và Nguyễn
Khắc Viện, một tác giả cộng sản: "Tôi
đùa với Viện: "Nếu Hồ không có thực thì chắc ông đã
sáng chế ra." Viện
cười ha hả: "Lẽ dĩ nhiên, ông nên nhớ rằng nước chúng
tôi trước hết là một nước nông nghiệp, chúng tôi thích
thần thoại. Huyền thoại và
huyền thoại, phải công nhận là huyền thoại do chúng tôi tạo
ra thật là hấp dẫn." (Oliver Todd, bđd.,
sđd. tt. 273-274.) Ðể
hiểu thêm cung cách ngụy tạo huyền thoại của cộng sản, hãy
cùng đọc đoạn sau đây của Trần Ðăng Khoa.
Năm 1998 ở trong nước, Trần Ðăng Khoa ấn hành tác phẩm
Chân dung và đối thoại, trong
đó có bài "Tố Hữu và bài thơ Hoan hô chiến sĩ Ðiện
Biên". Trong bài nầy,
Trần Ðăng Khoa kể lại rằng, trong một lần nói chuyện, ông
ta đã hỏi Tố Hữu: "Thế từ
lúc mở màn đến khi kết thúc chiến dịch, anh có lên Ðiện Biên
bao giờ không? " Tố Hữu
trả lời:"Không! Nào
mình có biết Ðiện Biên ở đâu mà đi.
Ði sao được... Mình
hỏi mấy chú đã đến Ðiện Biên rồi.
Hỏi xem ở đấy có những cái gì, mới biết những
địa danh như thế đấy chứ, biết cả ở đó có cam, có mơ
... Sau nầy khi viết, mình cứ
lôi nó ra, đưa vào thơ, cứ nhét bừa vào... Này, xem ra không thể tin được vào cánh văn
nghệ được đâu hỉ. Phịa,
toàn là phịa. Chỉ có điều
là mình phịa như thật..."
(Tài liệu rút từ Internet,
http//www.vietbao.com/tc_canhen/Chandung_Doithoai, ngày 30-1-2000) 70.
Cuộc phỏng vấn do Thanh Thảo thực hiện, nguyệt san Việt
Nam Dân Chủ, số 40, California, tháng 1-2000, tài liệu rút từ
Internet). 71.
Sau đây là nhận xét về Hồ Chí Minh của một sử gia
trẻ Hoa Kỳ, Robert Templer, trong một bài báo đăng trên Mercury
News, được Trac Nguyen dịch đăng trên Việt Mercury ở California, ra ngày 31-3-2000, dưới nhan
đề "Một quan điểm về vụ triển lãm chân dung Hồ Chí
Minh": "Ông [Hồ Chí
Minh] đã cho ám sát các kẻ thù chính trị, đã phát động
những cuộc cải cách điền địa tàn bạo.
Ông đã im lìm trong lúc các đồng chí thân thiết bị
thanh trừng. Ông đã khởi
sự một cuộc chiến tranh sát hại 3 triệu con người.
Ðối với ông Hồ, con người có thể bị hy sinh; cứu cánh
luôn luôn biện minh cho phương tiện." |