Nguyễn Khắc To n, người con đầy nhiệt huyết

Nguyễn Thanh Giang


Trong một tiệc rượu đón nh thơ Bùi Minh Quốc từ Đ Lạt ra thăm H Nội tại nh tôi, giữa lúc hứng khởi, Nguyễn Khắc To n đứng dậy đọc thơ. Giọng anh sang sảng:

Tự do v ái tình
Vì các người ta sống
Vì tình yêu lồng lộng
Tôi hiến cả đời tôi
Vì tình yêu muôn đời
Tôi hy sinh tình ái

Nguyễn Khắc To n sinh ng y 21 tháng 10 năm 1955 tại H Nội. Qua suốt một thập kỷ “Tam thập nhi lập”, một thập kỷ “Tứ thập nhi bất hoặc”, anh đã bước v o cái tuổi “tri thiên mệnh” . Anh có vóc người chắc khoẻ nhưng “bạch diện thư sinh”. Cô gái n o đó đã bình phẩm: “Trông anh To n như t i tử điện ảnh ấy”. Vậy m , anh vẫn chưa có một mảnh tình vắt vai.

Đang học Đại học Sư phạm Toán, Nguyễn Khắc To n được điều động nhập ngũ. “Giã nh đeo bức chiến b o”, anh v o chiến đấu tận Tây Nam Bộ (1972). Rồi U Minh. Rồi Rạch Giá…

Đã năm mươi tuổi, anh vẫn “Trơ phận nam nhi với nước non”. Đã vậy, anh còn không được sưởi ấm đôi phần trong căn hộ chung cư cùng mẹ gi , các em, các cháu tại số nh 11 Ngõ Tr ng Tiền H Nội m đang bị đầy ải giữa cái cô quạnh lạnh lẽo trong trại giam Ba Sao tận một vùng đá vôi phiá tây tỉnh H Nam !

Từ nh tù, lúc 23 giờ 45 phút ng y 06 tháng 01 năm 2005, Nguyễn Khắc To n viết thư gửi mẹ: “Nhân dịp năm mới 2005 v Tết Ât Dậu sắp đến con kính cẩn kính chúc mẹ luôn luôn mạnh khoẻ. Sống lâu trường thọ, tin tưởng v hy vọng ng y con được trở về sớm nhất đo n tụ gia đình, lấy vợ sinh con đẻ cái sẽ th nh hiện thực. Để rồi có điều kiện phụng dưỡng, chăm sóc mẹ gi , đền đáp công ơn sinh th nh, dưỡng dục Mẹ Cha”.

Chiều 29 tết Ât Dậu vừa qua, thân mẫu Nguyễn Khắc To n, b Trần Thị Quyết đến thăm tôi. Đã gần 80 nhưng nét mặt b vẫn phương phi, phúc hậu lắm. B rưng rưng nhỏ nhẹ: “Gần đến Tết rồi, nghĩ c ng nhớ, nhớ c ng thương cháu quá. M-i năm lại thêm một tuổi, ng y bố cháu mất, cháu ở trong tù, không được về, cha con đã không được nhìn nhau lần cuối, cứ thế n y thì rồi đến tôi cũng không biết sẽ thế n o !”

Cũng trong bức thư trên, anh viết: “Bản thân con ở trong n y vẫn xác định vững v ng l chấp h nh tốt mọi quy định, quy chế trại giam, thể hiện có văn hoá, gương mẫu cho anh em tù khác noi gương sinh hoạt, ứng xử v giao tiếp … Đó l điều bất di bất dịch”.
Thân phụ Nguyễn Khắc To n l một nh giáo kỳ cựu. Cụ có nhiều học trò đã trở th nh quan chức thuộc hai chế độ ở Việt Nam. Về gi , cụ bệnh tật, đau yếu. Thấy con trai b-ng dưng bị đầy đoạ trong chốn lao tù, đau đơn quá, cụ đã qua đời ngay sau đó ít lâu.

Sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, Nguyễn Khắc To n không chỉ l một người con hiếu đễ, một người chỉn chu m còn l một ch ng trai có khí tiết Lục Vân Tiên, “giữa đường thấy sự bất bằng m tha” .

Anh đã từng mắng Nguyễn Như Phong thậm tệ “Thực sự sau khi đọc b i báo (Mặt thật của một số người mượn danh hiền sỹ dân chủ) tôi thấy b ng ho ng v nhục nhã thay cho anh. Tôi chỉ thấy bộ mặt thật của tác giả hiện lên rất rõ v đầy đủ những nhân cách nhơ bẩn của nó đến mức tởm lợm. Có thể nói ho n to n không ngoa một chút n o, đó l mặt thật của một tên bồi bút vô liêm sỉ, lưu manh chính trị, bịa đặt v h m hồ” (Bức thư ngỏ tiếp theo gửi Nguyễn Như Phong v báo An ninh Thế giới).

Cảm thương với những số phận hẩm hiu oan trái của những dân l nh, trong đó có cả những cựu chiến binh như anh, những b mẹ Việt Nam anh hùng … đội đơn nằm vạ vật h ng tháng, h ng năm trời bên lề đường trước Phòng tiếp dân, số 1 Mai Xuân Thưởng, trước cửa nh các vị lãnh đạo Đảng, Nh nước, Chính phủ, Quốc hội …, anh đã ho mình cùng họ để sẻ chia, để giúp họ viết đơn, đưa đơn lên các cơ quan hữu trách, các vị lãnh đạo các cấp …Thấy cấp trên không chịu quan tâm, không giúp giải quyết thấu tình đạt lý, anh lại tiếp tay cho b con gửi đơn kêu cứu sự h- trợ của các tổ chức quốc tế, của lương tri nhân loại.

Thế l người ta vu cho anh tội gián điệp.

Ng y 20 tháng 12 năm 2002, To án Nhân dân Th nh phố H Nội tuyên xử Nguyễn Khắc To n mười hai năm tù v ba năm quản chế.( *)

Để đánh giá bản án n y, xin trích đoạn bức thư anh viết những ng y đầu tháng 3 năm 2005 rồi nhờ một bạn tù được tha trước đem ra ngo i (**):

“Mẹ kính yêu v các chị, em thương mến !
Con viết dòng thư n y về thăm mẹ v to n gia quyến, vì đã rất lâu, đến gần cả năm nay con không được quyền viết thư về gia đình. Mặc dù đó l quyền đương nhiên v hợp pháp của những tù nhân.
Mẹ ạ ! Thấm thoắt thế l đã hơn 3 năm trời con phải xa gia đình để v o tù kể từ chiều tối ng y 8 tháng 1 năm 2002. Cũng như mọi người đã rõ, qua thông tin bên ngo i, qua 2 vụ gọi l “xét xử theo luật pháp” v qua tất cả những lần gia dình đến trại tù thăm gặp con, thực chất đây l một trong những chu-i vụ án chính trị m Đảng v Nh nước Việt Nam XHCN trấn áp những người đối lập chính kiến tranh đấu vì dân chủ, tự do, vì đòi hỏi nh nước thực thi các quyền con người được nh nước thừa nhận trong Hiến pháp v Công ước Quốc tế về Nhân quyền m nh nước Việt Nam XHCN l một th nh viên đã tham gia ký cam kết bảo dảm trước Liên Hợp Quốc v cộng đồng thế giới cho công dân của đất nước mình. H ng loạt vụ đ n áp bằng to án của Đảng v Nh nước đối với những người công dân Việt Nam l trí thức, cựu chiến binh, cựu quan chức cao cấp của nh nước – những người đã một thời đem mồ hôi, xương máu v cả mạng sống của mình để góp phần dựng xây nên chế dộ v nh nước hiện nay”.

Cùng với con trai, thân mẫu Nguyễn Khắc To n – b Trần thị Quyết 78 tuổi – cũng từng thống thiết kêu oan trong bức thư gửi các vị lãnh đạo Đảng, Chính phủ đề ng y 14 tháng 9 năm 2004: “Sự thật l con trai tôi không có tội đến mức phải xử nặng như thế ! Cháu thấy b con nông dân từ các tỉnh xa về nằm vạ vật lề đường, góc phố đòi công lý thì thương cảm viết đơn giúp v chuyển lên cấp trên. Thấy cấp trên không giải quyết thoả dáng, b con nhờ gửi ra nước ngo i thì cháu gửi giúp. Lòng thương người thường mang hoạ cho cháu”.

Em trai Nguyễn Khắc To n, anh Nguyễn Xuân Phúc một lần đã nói về cái chất thánh thiện của anh mình trong b i trả lời phỏng vấn đ i Little Saigon: “Điểm đặc biệt của ông (NKT) l lòng thương người, do đó có lẽ vì ho n cảnh đáng thương của những người dân thấp cổ bé miệng ở mọi miền đất nước lên H Nội kêu oan, xin “đèn giời soi xét” khiến ông không thể ngồi yên”

V o nh tù, thấy b con Tây Nguyên bị tù xa nh , nghèo khổ, lại bị mua h ng hoá v thực phẩm ở căng tin trại giam đắt hơn giá ngo i thị trường, lòng trắc ẩn lại bùng lên, anh lại giúp b con đấu tranh. Thế l , không chỉ bị cấm cố, anh còn bị cùm kẹp vô cùng đau đớn.

Anh từng run lên căm giận, không phải xuất phát từ mình m vì những đớn đau của người khác: “Ai cũng biết đồng b o mình còn đói nghèo khổ hạnh m không dám nói ra, biết xã hội dầy rẫy những bất công m không dám lên tiếng. Kẻ thì im lặng thu mình trong an phận thủ thường lấy phương châm sống l “im lặng l v ng”. Những kẻ có quyền lực v địa vị thống trị thì thoả sức vơ vét l m giầu cho gia đình mình, cho chính mình với biết bao đặc quyền đặc lợi béo bở v lại còn thoả sức thoá mạ những người khác chỉ vì họ sống có lương tâm v dám nói những điều không ai dám nói. Kẻ thì nhắm mắt l m ngơ, b ng quan v lãnh đạm với n-i đau của nhân dân, của đất nước v những điều đó đã quá nh m chán v kéo d i triền miên suốt mấy thập kỷ qua, đã trở th nh chuyện thường ng y, thường tình. Hệ quả l l m cho mọi người chỉ l tồn tại ngắc ngoải trở nên chai lỳ v vô cảm trước n-i thống khổ của đồng b o v đồng loại mình”.

M-i tối anh nằm, m-i miếng anh ăn, anh tự dằn vặt mình: “Đúng l có ai đã nói với tôi: “Cậụ l một thằng hèn, cậu biết tất cả những điều cay đắng đó của dân v đất nước, sao cậu không dũng cảm phát biểu công khai những chính kiến đó đi, m cứ âm thầm đau đớn chết dần chết mòn l m gì ! ”.

Năm 1996, anh đã đến tôi. Tôi biết anh sớm hơn biết Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn … Trước khi đến với tôi anh đã từng đến với Ho ng Minh Chính, H Sỹ Phu, Bùi Minh Quốc … Ngay những lần đến với tôi đầu tiên, anh đã b n kế hoạch vận động v tạo điều kiện đưa H Sỹ Phu v Bùi Minh Quốc ra sống ở H Nội. Anh nói anh sẵn s ng gi nh căn nh cấp bốn ở bãi Phúc Xá cho các anh Đ Lạt ở tạm cho đến khi các anh tự giải quyết được ch- ở.

Anh có tấm lòng cộng sản (theo cái nghĩa thánh thiện m ta từng ngưỡng vọng v lầm tưởng về nó) v trái tim người lính chân chính. Anh coi Trần Độ – người tướng lĩnh chỉ huy mặt trận của anh ng y n o – như thần tượng. Anh viết chưa nhiều nhưng trong số đã có h ng loạt b i về Trần Độ: “Những tấm lòng với đất nước v cuộc đấu tranh vẫn còn tiếp diễn” (viết đầu tháng 3 năm 1998, ký tên Trần Nguyễn Chí Việt), “Trần Độ – Tiếng nói của ông, v cuộc đấu tranh vẫn còn tiếp diễn” (viết ng y 21 tháng 4 năm 2001, ký tên Trần Minh Tâm). “Ông Trần Độ v những đòi hỏi dân chủ”, “Mấy cảm nghĩ nhân đọc b i “ Tìm mộ chị tôi” của tướng Trần Độ”, “Lời giới thiệu b i “Lại Thư ngỏ 2001” của cựu tướng Trần Độ”…

Anh cổ suý: “Tên tuổi Trần Độ l ngọn hải đăng chiếu sáng trong đêm đen áp bức v bất công, thức tỉnh h ng ng n, h ng vạn thanh niên, trí thức v những người dân thường khác, đang âm thầm lặng lẽ góp sức mình v o cuộc tranh đấu vẻ vang vì một Việt Nam mới dân chủ v tự do đích thực. Tiếng nói của ông vang lên ngay trong lòng đất nước, đang l niềm day dứt, trăn trở khôn nguôi đối với h ng ng n cán bộ lão th nh cũng đã hy sinh cống hiến cả đời mình cho đất nước, để tỉnh táo v bình tâm nhìn lại chặng đường quá khứ đã đi qua”.

Anh cảm thông: “Những trang viết của ông nhoè lệ xót xa. Ông đau thực sự n-i đau của đất nước. Đau n-i đau của tất cả những người dân đất Việt có luơng tri v tình yêu nồng n n với tổ quốc”.

Anh tụng ca vị tướng anh hùng của mình: “Oanh liệt thay ! Tiếng nói của ông hôm nay đã đi v o huyền thoại v tâm khảm của h ng triệu triệu người dân Việt Nam v đã trở th nh bất tử”. “Đối với dân tộc ta hôm nay v mai sau, tên tuổi Trần Độ đã đi v o lịch sử vẻ vang v sẽ lưu danh thơm muôn thuở”.

Anh nói về Trần Độ như để tự khẳng định mình: “Với ông, Tổ quốc v dân tộc luôn luôn l n-i niềm trăn trở, suy tư v cũng l n-i đau khắc khoải khôn nguôi trong lòng. Ông đặt tổ quốc v nhân dân cao hơn hết thảy, hơn cả tính mạng v chính bản thân cuộc sống của bản thân mình. Vì những phát biểu công khai đòi dân chủ tự do dân quyền v nhân quyền, ông liên tiếp bị những hoạn nạn tai ương do chính cái Nh nước, cái chế độ m ông góp một phần xây dựng nên v đã cống hiến cả tuổi thanh xuân, cả cuộc đời của mình giáng xuống”. “Đe doạ v khủng bố, mua chuộc v lung lạc, bôi nhọ v xuyên tạc đều không khuất phục được tiếng nói v l m sờn tấm lòng của ông với đất nước. Mọi thủ đoạn đê hèn v dơ bẩn đều trở nên vô nghĩa, ông vẫn ngẩng cao đầu với khí phách của một nhân cách lớn v một lương tri lớn”.

Anh xót xa nhìn nhận: “Cuộc đời của các bậc tiền bối cộng sản v gia đình họ như những Trần Đô, Nguyễn Hộ, Nguyễn văn Trấn, Vũ Đình Huỳnh, Bùi Công trừng, Dương Bạch Mai, La văn Lâm, Ho ng Minh Chính, Nguyễn Hữu Đang … không chỉ l bi kịch của riêng bản thân các vị công thần góp phần tạo dựng ra chế độ Cộng sản n y, m còn l bi kịch của cả một dân tộc đầy đau thương, uất hận v chia rẽ. Nguồn gốc sâu xa chính l chủ nghĩa Mác-Lênin, học thuyết cộng sản đấu tranh giai cấp d y xéo đất nước khốn khổ n y hơn 70 năm qua. Cuộc cách mạng đã bị phản bội, mục tiêu của cuộc tranh đấu đã bị dánh tráo, lòng yêu nước của nhân dân đã bị lợi dụng v tha hoá v o việc xây dựng mô hình một nh nước không tưởng, ngông cuồng v dồ dại”.

Anh tố cáo: “Tất cả mọi người Việt, dù l ai, l m gì, ở đâu đang sống trên dải đất chữ S n y đều canh cánh một n-i khiếp sợ v hãi hùng trước một nh nước được bảo vệ bằng một bộ máy khủng bố gồm đủ các binh chủng đông tới hai, ba triệu người v trang bị vũ khí đến tận răng. N o l công an, cảnh sát, mật vụ, quân đội, nhân viên Tổng cục 2, nhân viên Cục Bảo vệ chính trị Đảng, tầng tầng lớp lớp các quan chức ng nh văn hoá tư tưởng… Bên cạnh các c- máy ấy l hệ thống nh tù trùng trùng điệp điệp suốt từ Nam chí Bắc; l một bộ máy tuyên truyền sống sượng, n o l đ i phát thanh –truyền hình từ trung ương đến tỉnh, huyện, phường, xã v trên 600 tờ báo đủ loại để phục vụ cho một hệ thống to n trị, độc đoán của nh nước ấy”.

Anh đòi hỏi: “Nếu tất cả mọi người đều nói lên sự thật để cùng nhau suy ngẫm cái xã hội m ta đang sống, kể cả quá khứ đã qua v tương lai sắp tới, thoát xác vươn lên th nh người có nhân cách, có phẩm chất con người thì hẳn l sẽ tốt hơn. Chứ cứ như hiện nay ng y ngaỳ nhìn thấy cuộc đời bao nhiêu tệ hại, bất công, vô lương, vô luân, giả dối chồng chất đầy rẫy thì không hèn l sao ?”.

Anh trăn trở xót xa cùng cái số phận hẩm hiu phi lý của dân tộc mình: “Nhìn sang các nước xung quanh, từ láng giềng như Thái Lan, Philippin, Cămpuchia v xa xôi hơn nữa l mấy nước lạc hậu ở Châu Phi, họ có một nền văn hiến không lâu đời bằng ta, dân trí còn có nhièu điểm kém ta m cuộc sống của họ, xã hội của họ đâu có khốn nạn như xã hội ta hiện giờ ? Tôi c ng thấy đau đớn v tủi nhục, hổ thẹn l m thằng dân Việt Nam, thằng người Việt Nam”

Cho nên, cùng với Trần Độ, anh kêu gọi: “Đảng Cộng sản Việt Nam phải mạnh dạn đổi mới hơn nữa, phải dân chủ hoá to n diện đời sống chính trị-kinh tế-xã hội-văn hoá nước nh . Phải đánh giá v nhìn nhận lại những sai lầm, hoặc tội l-i của Đảng trong quá khứ để lột xác hoá thân th nh một lực lượng chính trị tiến bộ theo kịp đ của xu thế thời đại. Thậm chí, nếu cần thiết phải đoạn tuyệt vĩnh viễn với cái gọi l con đường xây dựng “xã hội chủ nghĩa m nhân dân ta đã lựa chọn” để xây dựng một xã hội mới phú cường v dân chủ, tiến bộ”

Anh khẳng định: “Lịch sử phát triển của lo i người cho thấy tất cả những chế độ độc đoán, chuyên chế dù t n bạo đến bao nhiêu, dù núp dưới hình thức n o, dù l độc t i tôn giáo thần quyền, dù l độc t i tư bản đế quốc; dù l độc t i gia đình trị; dù l độc t i phong kiến hủ lậu; dù l độc t i phát xít quân phiệt; dù l độc t i cộng sản to n trị Mac-xit, đã, đang, v sẽ bị lịch sử đ o thải v nhân dân chính các nước đó đ o huyệt chôn vùi.

Napoleon, kẻ ngạo mạn từng đánh đông dẹp bắc vang bóng một thời có thốt ra câu nói rất đau xót: “Người ta có thể l m được nhiều việc nhờ lưỡi lê, nhưng người ta không thể ngồi lâu trên đống lưỡi lê”.

Câu thơ Nguyễn Ái Quốc từng ngân vang từ ngục tối: “Thân thể ở trong lao. Tinh thần ở ngo i lao". Đến nay, ta cũng nghe rầm rì đâu đó từ triệu triệu thanh niên Việt Nam lời tuyên của Nguyễn Khắc To n “Tự do dân chủ sẽ đến với đất nước Việt Nam, sẽ đến với dân tộc ta sau bao nhiêu năm lầm than, cay đắng, chia rẽ v hận thù. Con đường đến với tự do thực sự sẽ không còn xa nữa, cho dù còn lắm thử thách v gian nguy, đòi hỏi ở m-i người Việt Nam yêu nước dù ở phương trời n o, thêm nhiều n- lực đóng góp v o sự nghiệp chung thiêng liêng đó”.

H Nội 9 tháng 5 năm 2005
Nguyễn Thanh Giang
Số nh 6 – Khu tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn- Từ Liêm- H Nội
Điện thoại: 5 534370
--------------------------------------------------------------------------------
(*): Phiên to sơ thẩm ng y 20/12/2002 tuyên án Nguyễn Khắc To n 12 năm tù giam v 3 năm quản chế. Sau đó, tại phiên to n phúc thẩm, ng y 1/4/2003 H Nội tuyên án 12 năm tù giam v 4 năm quản chế.