TUYÊN NGÔN VỀ THỰC
TRẠNG
GIÁO
HỘI CÔNG GIÁO TẠI GIÁO PHẬN HUẾ
Kính gởi :
Quí Vị và mọi người thành tâm thiện chí trên Thế giới.
Kính thưa Quí
Vị,
Tôi không
chủ yếu trình bày thực trạng Giáo Hội Công Giáo và thực trạng tôn
giáo tại Việt Nam nói chung vì có thể thiếu một số chi tiết chính
xác. Tuy nhiên, từ tình hình Giáo phận Huế, Quí Vị có thể hiểu được
thực trạng Giáo Hội Công Giáo của cả Việt Nam và của tất cả các
Giáo Hội khác trên đất Việt Nam hôm nay.
Giáo phận
Huế vừa có một vị Tổng Giám Mục Giám Quản Tông Tòa sau 6 năm chờ
đợi, vừa có một lễ truyền chức 5 tân Linh mục sau hơn 18 năm vắng
bóng, vứa được phép mở lại Ðại Chủng Viện sau hơn 18 năm đóng cửa.
Phải chăng đời sống tôn giáo đang đầy phấn khởi, đang được tự do ?
Hoàn toàn không phải thế !
Sau đây là
một vài nét về thực trạng Giáo phận Huế để chứng minh :
1. Tiểu
chủng viện Hoan Thiện, 11 Ðống Ða - Huế, đang bị Nhà nước dùng bạo
lực chiếm đóng từ tháng 12-1979 làm trường Trung học Phổ thông cấp
2-3 Nguyễn Chí Diễu, khiến cho gần 300 chủng sinh phải lang thang tu học
tại gia, chỉ biết chờ đợi được xét duyệt lý lịch để may ra được vào
Ðại chủng viện một cách nhỏ giọt do ân huệ của Nhà nước ban xuống.
Tiểu chủng viện nầy, cả Giáo phận Huế cũng như nhân dân thành phố
đều biết rõ, là nơi đào tạo linh mục; thế nhưng Chính quyền cứ cố
tình gian dối cho rằng đó chỉ là một trường trung học tư thục để tịch
thu.
Hơn 100 Chủng
sinh bị Nhà nước đuổi khỏi Tiểu chủng viện Hoan Thiện và Ðại chủng
viện Huế từ 1979 đành lưu lạc khắp nơi, một số phải chạy ra nước
ngoài để được làm Linh mục. Hiện nay còn khoảng 15 Chủng sinh đang
lang thang tại Huế đợi chờ ngày được vào Ðại chủng viện mà không
biết đến bao lâu. Họ có tội tình gì ? Ðó không phải là đàn áp Tôn
giáo sao ?
2. Quyền tấn
phong và bổ nhiệm Giám mục, quyền đi cử hành bí tích Thêm sức, quyền
phong chức, bổ nhiệm Linh mục và tuyển chọn chủng sinh trên lý
thuyết là của Giáo Hội, "Nhà nước không can thiệp
vào" (lời Ông Ðỗ Mười), nhưng trong thực tế, tất cả đều
do Chính quyền đồng ý hay không ("Mọi chuyện chính đáng đều
được quyền làm nhưng phải xin phép trước đã" !?) Trong
suốt 261 năm bị bách hại (1625-1886), tuy các Giám mục, Linh mục,
Chủng sinh phải trốn tránh, có khi bị bắt, bị giết . . . nhưng các
quyền thiêng liêng ấy chẳng bao giờ mất : Giáo hội vẫn hoàn toàn
chủ động phong chức và bổ nhiệm nhân sự theo ý mình. Còn hôm nay,
tuy mang tiếng là "Tự do", thực chất Giáo Hội
hết sức bị động, phải ngửa tay xin ân huệ Nhà nứơc, không tuyển
chọn, phong chức và bổ nhiệm được người mình cho là xứng đáng và
cần thiết. Chính quyền ấn định số Ðại chủng viện được mở, số chủng
sinh cho từng Giáo phận và thời gian cho mỗi kỳ thi tuyển, như
thể Ðại chủng viện là trường đào tạo cán bộ Nhà nước vậy ! Chính
quyền lấy quyền gì mà ấn định các con số ấy? Thiên Chúa kêu gọi ai
thì người ấy xin tu, Giáo hội có khả năng bao nhiêu thì Giáo hội
nhận, xét đủ tư cách hay không thì Giáo hội truyền chức. Ơn Thiên
triệu chứ có phải ơn Mác-xít triệu hay ơn Chủ Nghĩa Xã Hội triệu đâu
! Hơn 18 năm qua, Chính quyền đã làm Giáo phận Huế thiệt mất khoảng
80 tân linh mục, mà thường là Giáo hội có thể đào tạo được.
Chính quyền
xen vào nội bộ Giáo Hội cách trắng trợn, dùng áp lực để sắp xếp,
lèo lái theo ý mình, tuân theo một nguyên tắc nghiệt ngã : "Nhà
nước phải quản lý toàn diện", dựa trên một quan niệm
quá lố về quyền bính : "Luật Nhà nước là tối thượng",
nhằm một ý đồ đen tối biến Giáo Hội thành một công cụ mềm dẻo,
một nô bộc trung thành, một tay chân ngoan ngoãn. Tất cả đều lồng
trong những chiêu bài : "Có tốt đời mới đẹp đạo",
"được tự do nhưng trong khuôn khổ", "kính
Chúa phải đi đôi với yêu Chủ Nghĩa Xã Hội". Chính vì Giáo
Hội dè dặt chưa yêu ngay CNXH mà phải bị o ép đủ điều. Và càng bị
trói buộc thì Giáo Hội lại càng không thể yêu cái ý thức hệ độc
đoán cứ bắt mọi người phải học và phải yêu nó cho bằng được. Mỗi
học sinh từ cấp 1 đến đại học đều phải thấm nhuần "chân
lý" nền tảng: "Yêu nước hôm nay là phải yêu
CNXH". Ðộc tài về tư tưởng là thứ độc tài ghê gớm nhất,
thâm hiểm nhất !
3. Ðức
nguyên Giám quản Giacôbê Lê Văn Mẫn được Hội Ðồng Cố Vấn bầu làm
Giám quản Huế theo giáo luật từ 1990. Suốt 4 năm qua, cả Giáo phận
Huế đều vâng phục Ngài là Vị Bản quyền chính thức, thế nhưng chính
quyền cứ cố tình không nhận, tạo ra bao rắc rối khó khăn cho Giáo
Hội. Ðó chẳng phải là can thiệp thô bạo vào nội bộ của Giáo Hội
sao ? Nếu Ngài có tội gì thì Chính quyền đã bắt và xử theo pháp
luật. Nếu Ngài chẳng đủ tài đức thì Hội Ðồng Cố Vấn bầu lên làm gì,
và Tòa Thánh Vatican ắt đã không chuẩn nhận. Thế tại sao Chính quyền
không vừa ý ? Phải chăng chỉ vì Ngài chưa yêu CNXH hết lòng ? Tình
trạng Ðức Giám Mục Nicôla Huỳnh Văn Nghi, Giám quản Sài Gòn cũng
đang tương tự. Chính quyền lấy quyền gì mà không thừa nhận các Ngài ?
4. Tuyển sinh
các Dòng nam nữ đều phải ẩn núp dưới nhiều hình thức. Cho đến khi
khấn trọn đời, trở thành tu sĩ thực thụ, nào có mấy ai trong họ
suốt 19 năm qua được tự do nhập hộ khẩu vào Dòng, cứ phải "tu
chui" hoài mãi. Tu thì có gì là tội mà phải "chui"
? Các Dòng muốn lập thêm một cộng đoàn mới tại những nơi
cần thiết theo nhu cầu của Giáo Hội thật khó như bay lên trời. Dòng
Con Ðức Mẹ Vô Nhiễm (Phú Xuân, Kim Long) có cơ sở Nhà mẹ bị Chính
quyền đứng ra thuê hơn 19 năm nay, tiền không trả mà nhà cũng chẳng
giao, dù trên lý thuyết thì Chính quyền nói sẵn sàng trả lại. Biết
đến bao giờ ? Muốn tu cũng không có chỗ để tu !
5. Giáo hữu
các vùng kinh tế mới, xứ đạo xa xôi như Quảng Bình, Khe Sanh, Bình
Ðiền, Nam Ðông, A Lứơi hàng năm đến lễ Giáng Sinh, Phục Sinh chỉ ước
ao có một Thánh Lễ thôi nhưng cũng khó lòng mà được. Hết lý do nầy
đến lý do khác, Nhà nước khất mãi giấy phép làm Nhà Thờ, cũng
chẳng cho Linh mục đến cử hành Thánh Lễ hoặc ban Bí tích cho họ. Ðời
sống Tôn giáo bình thường, phồn thịnh, phấn khởi chỗ nào ?
6. Giáo Hội hằng
hết sức mong ước được cộng tác vào công việc giáo dục, y tế,
truyền thông, xã hội . . . nhưng biết đến khi nào mới được phép mở
lại các trường học, bệnh xá, viện mồ côi, nhà khuyết tật, trung
tâm văn hóa của mình mà vốn đã bị Nhà nước trưng thu hoặc buộc phải
trao nhượng tất cả ?
Giáo Hội có
được một tờ báo nào riêng, một nhà in nào riêng để phổ biến giáo
lý của mình chăng ? Muốn thế thì điều kiện tiên quyết vẫn là phải "kiên
định lập trường Xã Hội Chủ Nghĩa" hay ít nhất là không có
tí gì phê bình chế độ Nhà nước. Quyền tự do tư tưởng, tự do trình bày
niềm tin, tự do rao giảng Phúc Âm và Chân Lý, tự do chọn trường và
môn học cho con em... đến bao lâu mới có cách bình thường ?
7. Tại Giáo
phận Huế trước đây, vì gặp Ðức cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Ðiền cương
quyết chống lại, Chính quyền thất bại trong việc lập Ủy Ban Ðoàn Kết
Công Giáo Yêu Nước. Hiện nay chính quyền đã và đang mời một số Linh
mục, Tu sĩ tham gia Hội Ðồng Nhân Dân là cơ quan quyền lực Nhà
nước, hoặc Mặt Trận Tổ Quốc VN. Thâm ý là mượn một số Linh mục, Tu
sĩ, giáo dân tuyên truyền cho Chủ Nghĩa Xã Hội, hỗ trợ cho Chế độ.
Sau đây là
một vài nét chung về Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và ít tâm nguyện
riêng:
8. Tôi không
dám gọi Ðức Giám mục nào, Linh mục nào là "quốc
doanh", vì tôi nghĩ các Ngài có thể cũng hết lòng trăn trở,
kể cả trong nước mắt, để tìm cách sao cho Giáo hội được mở mang, dễ
hoạt động. Nhưng những gì các Ngài thu được trước mắt không thể bù
lại những mất mát quá lớn lao sẽ còn di lụy lâu dài trong lịch sử,
làm méo mó hình ảnh một Giáo hội hiên ngang xây dựng Nước Trời, tự
do rao giảng tiếng nói lương tâm, mạnh dạn phê phán mọi bất công,
sai lầm bất cứ từ đâu đến, thay vào đó chỉ tạo nên hình ảnh một
Giáo Hội yếu nhược, qụy lụy ngày càng rõ nét, chạy theo một vài
thuận lợi nhất thời trước mắt, chỉ biết "cộng tác" (collaborer)
mà thiếu hẳn "đề kháng" (en résistant) [Công
thức collaborer en résistant của Ðức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II], làm
nãn lòng đại bộ phận Dân Chúa và bao người thiện chí trước đây vốn
khâm phục Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Phải chăng nên chịu khó uốn
lưỡi vài lời "phấn khởi", "hân
hoan", "khôn ngoan", "ngưỡng mộ" để
được xuôi thuận công việc hoặc thậm chí để được các đặc quyền đặc
lợi...?
9. Tôi có
thể bị lên án là tại sao không quan tâm cộng tác trong các lãnh vực
giáo dục, y tế, xã hội mà cứ om sòm đòi hỏi tự do tôn giáo hoài ?
Một điều dễ hiểu là chính nhờ có tự do Tôn giáo mà Giáo Hội mới
có điều kiện góp sức ngăn chặn sự ác, thăng tiến xã hội và đóng
góp nhiều Kitô hữu nhiệt tình dấn thân phục vụ trần thế về mọi
mặt. Tự do lương tâm và tự do Tôn giáo là cơ sở để có được và bảo
đảm được những quyền tự do chân chính khác. Tôi muốn sống thật yên
ổn để được phục vụ mọi người, nhưng trên hết mọi sự, vì say mê
Thiên Chúa và yêu mến con người, tôi phải chiến đấu cho tự do Tôn
giáo đích thực, kiên trì đòi hỏi mãi cho đến khi Việt Nam có cuộc
sống Tôn giáo bình thường như tại đa số các nước trên Thế giới, nơi
đó dân chúng không hề lên tiếng đòi hỏi cũng như Chính quyền chẳng
cần lặp đi lặp lại điệp khúc : "Nhà nước bảo đảm tự
do tín ngưỡng", "chính sách Tôn giáo trước sau như
một". Cứ xem 2 bản kiến nghị của Hội Ðồng Giám Mục Việt
Nam gởi Thủ Tướng Chính Phủ ngày 18-10-1992 và ngày 26-10-1993 thì đủ
thấy Giáo Hội Việt Nam thiếu quá nhiều quyền cơ bản nhưng chỉ đành
biết kiến nghị và chờ đợi, đợi chờ mà thôi.
Ðối chiếu
với điều 18 và 19 Tuyên Ngôn Nhân Quyền ngày 10-12-1948 của Liên
Hiệp Quốc (mà Việt Nam được là thành viên từ năm 1977). Tuyên ngôn
về Tự do Tôn giáo ngày 7-12-1965 và Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô
giáo ngày 28.10.1965 của Công Ðồng Vatican II (xin xem phụ lục
đính kèm), thử hỏi Giáo Hội Việt Nam đã được những quyền cơ bản gì ?
10. Có thể
có kẻ phê phán rằng tại sao các Linh mục khác vẫn cam phận làm
việc, thậm chí có vị còn xem ra vừa lòng mọi chuyện nữa, mà hình như
chỉ có mình tôi cứ luôn lên tiếng đòi hỏi tự do Tôn giáo (từ sau
1975, tôi đã bị bắt ở tù hai lần vì đòi hỏi tự do Tôn giáo và hiện
đang bị quản thúc cũng chỉ vì đấu tranh cho Tự do Tôn giáo)(). Tất
nhiên có rất nhiều người, bằng nhiều cách, cùng chiến đấu như tôi
hoặc hơn tôi. Nhưng cũng có thể có người muốn khôn ngoan giữ mình để
còn có thể phục vụ, chứ Linh mục nào cũng vào tù cả thì việc mục
vụ biết ủy cho ai?
· Tôi hy
vọng các Kitô hữu đích thật và mọi người thành tâm thiện chí sẽ
tán thành tuyên ngôn 10 điểm trên đây của tôi. Tôi cũng xác tín
rằng cùng với tôi, đã, đang và sẽ có nhiều thế hệ Kitô hữu cùng
muốn chia sẻ ơn gọi ngôn sứ của Môsê, Giêrêmia, Eâdêkien . . . từ
hơn 3000 năm nay : "Hãy để cho dân tôi được tự do đi tế lễ
Thiên Chúa" (Xh 5,1) và "Ta truyền cho con điều
gì, con phải nói . . . đừng sợ gì cả !" (Gr 1,7; Ed 2,6)
Tuy bất
xứng, tôi cũng nguyện noi gương các Thánh Tử Ðạo Việt Nam, Tu sĩ
Gioankim Marcel Nguyễn Tân Văn tử đạo rũ tù ngày 10-7-1959 tại trại 2
Yên Bình gần Hà Nội, Giáo Hội và Hội Ðồng Giám Mục thầm lặng Trung
Quốc hiện nay và, gần gũi nhất là, Ðức cố TGM Philipphê Nguyễn Kim
Ðiền, người đã khổ vì đạo và chết vì đạo ngày 08-6-1988 tại Sài
gòn. Tuy nhiên, ai cố tình bách hại tôi thì ngang nhiên vi phạm điều
19 Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc.
Xin Quí Vị và
mọi người cầu nguyện cho tôi mỗi ngày để tôi đủ nghị lực chu toàn
nhiệm vụ Thiên Chúa trao phó mà không trút cho ai được. "Thiên
Chúa đã chỉ cho tôi một chỗ đứng, tôi không có quyền trốn
thoát" (Thư gởi ông Diôgnêtos, tk 1)
Tôi xin đặt
Tuyên ngôn nầy dưới sự bảo trợ của Chúa Giêsu Kitô, Ðức Mẹ La
Vang, Thánh cả Giuse, các Thánh Tử Ðạo Việt Nam, cùng các Tổ chức
Nhân quyền Quốc tế. Xin Quí Vị và mọi người giúp tôi phổ biến rộng
rãi để Ðất nước tôi sớm có Tự do Tôn giáo và Tự do Lương tâm đích
thực. Xin chân thành cảm ơn Quí Vị và kính chào mọi người.
Nhà Chung
Huế, Lễ Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam : 24.11.1994
Một linh mục
bé nhỏ ở Huế : Tađêô Nguyễn Văn Lý
Kỷ niệm 6
năm Bản tuyên ngôn trên đây :
Lễ Các
Thánh Tử Ðạo Việt Nam : 24. 11. 2000
Lm Tađêô
Nguyễn Văn Lý Cố Vấn UB ÐT cho TDTG tại VN (CRFV)
Nơi ở :
Nhà Thờ Công Giáo Nguyệt Biều, xã Thủy Biều, Huế
Ðịa chỉ
Bưu điện : 37 Phan Ðình Phùng, Huế - Việt Nam
Tel. 011.
84. 54. 846429 hoặc 011. 84. 54. 881061
E-mail :
nvlgph@dng.vnn.vn hoặc nguyenvanly@dng.vnn.vn