|
MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ LINH MỤC NGUYỄN VĂN LÝ Phạm Hữu Đàm Khoảng giữa năm 1983 tôi dang ở trại cải tạo Thanh Cẩm, Thanh Hóa thì được biết có một linh mục tên Lý mới bị chuyển từ Huế ra. Ông bị biệt giam ngay nên không có nhiều chi tiết về ông. Vả lại, lúc đó toàn bộ tù Miền Nam ở Thanh Cẩm có khoảng 80 người, trong đó đã có khoảng 30 linh mục, hầu hết là tuyên úy, trừ một vài người không phải là tuyên úy như cha Nguyễn Hữ Lễ. Đó là chưa kể năm sáu ông cha chịu chức chui của Miền Bắc. Cho nên thêm một ông cha nữa cũng không có gì phải chú ý lắm. Khoảng tháng 10, 1983 hai anh bạn và tôi bị biệt giam vì tội gửi thư chui. Chúng tôi may mắn hơn cha Lý là ba người nhốt chung một phòng nên có người trò truyện và nâng đỡ nhau. Nhưng chúng tôi xui hơn cha Lý vì bị còng chân. Khu biệt giam có nhiều phòng có thể nói chuyện to tiếng với nhau qua cửa sổ khi không có cai tù, nhưng không trông thấy nhau. Quy luật của khu biệt giam, luật do tù đặt ra với nhau, là hội viên mới phải tự giới thiệu ra mắt trước rồi các ma cũ sẽ tu xưng danh sau. Khi người cán bộ và người trật tự đi theo khoá cửa phòng và khoá cổng khu xong vừa đi khỏi thì một ma cũ công bố quy luật cho ba chúng tôi thi hành. Đến lượt anh tự giới thiệu được biết là Nguyễn Đức Khuân, một thân chủ kỳ cựu của khu biệt giam này, nguyên là một giáo sư tham gia Phục Quốc ở Saigon, bị bắt và đưa ra đây. Anh Khuân giới thiệu cha Lý, đỡ cho cha khỏi phải làm công việc “anh chi” này. Khi nói chuyện, nghe giọng trầm trầm và cách nói từ từ chín chắn, tôi nghĩ ông cha này chắc cũng khoảng 60 tuổi rồi. Sau này gặp tôi không ngờ ông còn trẻ thế; ít tuổi hơn tôi. TRUNG THÀNH VÀ CAN ĐẢM Hai tuần sau ba chúng tôi được xuống làng, có nghĩa là hếtt bị biệt giam trở về đội sống sinh hoạt bình thường chung với anh em trong đội. Khoảng một năm sau cha Lý mới xuống làng, nhập vào đội các linh mục, ở một khu riêng. Giữa khu các linh mục và khu chúng tôi không được lien lạc với nhau, mà tiếng chuyên môn gọi là cấm quan hệ. Tuy vậy chúng tôi thường đột nhập khu mấy ông cha nói chuyện chơi và xem mấy ông sinh hoạt thế nào. Có điều mấy ông cha khi đụng chuyện bị bắt gặp cứ đứng ngây ra trố mắt nhìn, không biết lấp liếm, nên chúng tôi phải hạn chế qua lại, tránh cho các ông khỏi bị rắc rối. Khi đó cha Lý lại lén xuống chỗ chúng tôi ở để nói chuyện. Thường là buổi trưa chủ nhật vắng vẻ. Nhà tù nằm xạp, có hai tầng. Tôi ở tầng trên. Cha Lý đề nghị nằm nói chuyện. Như vậy nếu có cán bộ vào kiểm soát thì đứng ở duướ nhìn lên chỉ thấy bốn cái bàn chân. Mà tù thì chân nào cũng như chân đó, đen đúa và bẩn thỉu, không phân biệt được của ai với ai. Sau này nhờ kinh nghiệm đó có lần tôi đã thoát nạn. Số là năm 1988 khi chuyển về trại Nam Hà ở Hà Nam Ninh, nhân một bữa chủ nhật tôi đột nhập vào phòng giam của mấy ông tướng ở để ” thăm dân cho biết sự tình .“ Vả tôi cũng muốn gặp tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Lê Minh Đảo có mấy điều để hỏi về cuộc chiến tranh. Tôi vào phòng được chừng năm phút, nói được mấy câu chào hỏi, chưa nhận diện được ai, thì ở ngoài cổng khu có tiếng chào cán bộ báo động cho tôi. Ông tướng ngồi bên cửa đang học chữ nho vội bảo tôi, “Thôi em ra đi kẻo cán bộ vào bâyy giờ.” Tôi nhìn lên xạp tầng trên, thấy có nhiều chỗ trống. Tôi đi sâu vào trong phòng, nhìn lại thấy ông tướng nọ đang trố mắt nhìn tôi. Tôi leo lên tính nằm đại xuống chỗ nào đó. Nhưng tôi thấy có một người đang ngồi trước một lô giấy tờ. Tôi tò mò ngồi đối diện với ông ta, xoay lưng ra lối đi giữa phòng. Tôi chào ông và nói mục đích của tôi là né cán bộ. Ông cười và mời tôi ngồi. Cũng là sự tình cờ lý thú. Đó là tướng Huỳnh Văn Lạc, nguyên tham mưu trưởng Quân Đoàn IV. Nói chuyện một hồi mới biết ông là bà con bên vợ của tôi lúc đó. Năm 1985 kỷ niệm 10 năm chiếm Miền Nam, đài truyền hình Cần Thơ đưa người và máy móc ra trại Nam Hà để phỏng vấn ông Lạc. Nhưng ông cương quyết từ chối. Phái đoàn truyền hình tiu nghỉu ra về, còn ông Lạc lặng lẽ xách chiếu vào biệt giam. Câu truyện vừa hết cũng là tới giờ chia cơm, người đi lại tấp nập, tôi ung dung về phòng. Trở lại chuyện cha Nguyễn Văn Lý. Trong những tháng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà, cha Lý đang làm giám đốc một cơ sở huấn luyện của địa phận Huế ở vùng Gò Vấp, Saigon. Thấy tình hình Huế bức thiết trong hấp hối, cha hỏi Đức Tổng Giám Mục Huế Nguyễn Kim Điền xem ngài muốn cha làm gì, ở lại Saigon hay trở về Huế. Đức Cha muốn cha Lý về Huế. Và cha lên đường về Huế, ngược dòng với đoàn người đang tháo chạy từ vùng một và vùng hai. Ký giả Nguyễn Tú đứng trên đèo Cả tường trình cuộc rút lui của Quân Đoàn II khỏi Pleiku. Cảnh thê lương làm ông khóc tức tửi. Nhiều lúc tiếng khóc làm nghẹn ngào giọng run run khi ông gọi về toà soạn báo Chính Luận. Nguyễn Tú lúc đó khoảng trên 60 tuổi, từng lăn lộn với bao chiến trường, đã trực tiếp nghe Tướng Phú tuyên bố rằng ông sẽ tái chiếm Pleiku. Nhưng nhìn đoàn người nheo nhóc di tản, lính lẫn với dân, tiếng người gọi nhau chen lẫn tiếng khóc, nhìn những gương mặt sợ hãi, lo âu, cuống quít, ông không chịu nổi thốt lên câu hỏi để mà hỏi bất hủ, “Chính phủ ở đâu? Tổng thống ở đâu?” Trong tình huống đó, một tình huống nguy cập đến nỗi có những ông tướng ông tá liều bỏ quân lính chạy thoát thân trước, cha Lý đã quyết định đi ra Huế. Ông lúc đó xấp xỉ 30 tuổi, chưa lăn lóc với đời bao nhiêu, nhưng ông có được sự bình tĩnh và sáng suốt để quyết định phải làm điều phải làm giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng. Tinh thần đó biểu lộ một niềm tin kiên định vào Chúa và sự tận tâm với nhiệm vụ. Niềm tin và tận tâm đó đã cho ông can đảm chấp nhận khó khăn và nguy hiểm. Tôi hỏi tai sao ông quyết định chọn đi vào chỗ chết trong khi mọi người chen lấn tìm đường sống. Ông nói thứ nhất đó là nhiệm vụ của một linh mục. Thứ hai ông nghĩ nơi đó dân chúng cần ông hơn ở Saigon. Linh mục là để phục vụ người khác, không phải để tìm an toàn cho mình. Và ông tin Chúa sẽ lo tất cả cho ông. Khi cha Lý tới Đà Nẵng thì thành phố đã bỏ hoang và cực kỳ hỗn loạn. Lên đến đèo Hải Vân thì đường bị cắt hoàn toàn. Ông tìm cách đi đường biển ra Huế. Nhưng không có thuyền nào dám đi vì sóng to gió lớn. Khi biển động thì vùng biển dưới chân đèo càng động dữ dội hơn vì sóng đập vào vach đá thẳng đứng, dội lại tạo nên lực xoáy rất nguy hiểm. Ông cầu nguyện. Ông năn nỉ và cuối cùng thuyết phục được một người liều đưa ông đi. Ông nói ông nhờ truyện của Papillon khi vượt ngục và rút ra bài học là cứ nhìn kỹ các ngọn sóng biển mình sẽ tìm ra được một ngõ an toàn trong cái cuồng loạn cua thiên nhiên. Thêm vào đó là kinh nghiệm cổ truyền. Dân biển vẫn biết rằng giữa hai làn sóng lớn luôn luôn có một khoảng nước yên lặng thuyền có thể đi qua an toàn. Papillon là tên một tập truyện của tác giả người Pháp Henri Charrière xuất bản nam 1970, đặt theo biệt danh của ông vì ông có xâm hình con bướm (tiếng Pháp papillon có nghĩa là con bướm). Henri Charrière nói đây là tập tự truyện kể lại giai đoạn ông bị tù và vượt ngục, nhưng các nhà phê bình thường coi đây là tiểu thuyết hư cấu. Papillon bị kết án oan về tội giết người và bị chung thân khổ sai đày đi Guyane thuộc Pháp ở Nam Mỹ. Bây giờ vùng đất này là lãnh thổ hải ngoại của Pháp nằm giữa Brazil và Suriname, nhưng trước đây là thuộc địa Pháp dùng để nhốt tù biệt xứ, giống như Côn Đảo trước đây. Một số anh hùng Yên Thế trong cuộc kháng chiến chống Pháp của Đề Thám bị đày đi Guyane hồi đầu thế kỷ 20. Thực ra giai thoại nổi tiếng nhất của Papillon là khi anh và một người tên là Cuic Cuic dùng một con heo dẫn đường để vượt qua vùng sình lầy cát lún. Con heo có khả năng đặc biệt trườn trên sình và tìm ra đất cứng mà đi. Hai người cứ đi theo sau và vượt ra khỏi vùng sình lầy chứ không bị cát lún vùi chết như em của Cuic Cuic. Truyện gọi anh em Cuic Cuic là thổ phỉ (pirates) người gốc Đông Nam Á. Không biết họ có phải thuộc nhóm chiến sĩ Yên Thế hay không, bởi vì thực dân Pháp, hay bất cứ thực dân xâm lăng nào khác, luôn luôn gọi các anh hùng kháng chiến là thổ phỉ. Ngày nay người ta dùng từ ngữ khủng bố cho hợp thời trang. Cha Lý rút được bài học đi biển của Papillon từ cuộc vượt ngục trước đó của anh từ đảo Ile du Diable (Đảo Ác Thần). Ác Thần là hòn đảo nhỏ hầu như không thể vượt thoát được. Papillon nghiên cứu các vùng nước chung quanh đảo và thấy một nhánh biển nhỏ có vách đá cao bao quanh khiến tạo nên một dòng nước đặc biệt. Anh nhận thấy cứ bảy con sóng thì có một con lớn đủ để đưa bất cứ cái gì nổi trên nước ra xa ngoài biển và trôi về hướng đất liền. Anh thử nghiệm và cuối cùng làm bè bằng trái dừa và vượt tới vùng cát lún Cuic Cuic đang lẩn trốn. Trở lại Huế cha Lý làm việc ở xứ đạo một thời gian. Quan hệ giữa nhà nước và giáo hội ở Huế rất ngộ ngạt. Cộng sản muốn khống chế giáo hội qua tổ chức Công Giáo Yêu Nước, nhưng Đức Tổng Giám Mục Nguyễn KimĐiền rất cương quyết trong lập trường của ngài. Đức cha bị quản thúc tại gia. Linh mục thơ ký bi ép buộc thay đổi. Khi đó cha Lý được đức cha đặt làm thư ký toà giám mục. Một thời gian không lâu sau tháng 4/75, sau khi khống chế Công Giáo tạm xong, cộng sản bắt đầu đàn áp Phật Giáo. Các vị lãnh đạo Phật Giáo Huế phản đối và tố cáo đàn áp. Cộng sản tổ chức buổi họp Mặt Trận Tổ Quốc, mời tất cả các vị lãnh đạo của các tôn giáo. Trong buổi họp cộng sản quảng cáo chính sách tự do tôn giáo và hăm he những người tham dự. Họ mời Đức Cha Điền phát biểu xem chính quyền có đàn áp tôn giáo không, hy vọng ít nhất ngài cũng nói điều vô thưởng vô phạt. Đức Cha nói nội dung tôn giao bị rất nhiều khó khăn và ngài bày tỏ sự cảm thông và liên đới với các vị lãnh đạo Phật Giáo bằng câu “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.” Câu nói không những xác nhận Phật Giáo bị đàn áp mà còn có nghĩa “cả chúng tôi Công Giáo cũng bị đàn áp; và chúng tôi hiểu rõ những thủ đoạn đàn áp của chính quyền.” Buổi tối hôm đó bài phát biểu của Đức Cha Điền được rải khắp thành phố Huế. Cha Lý nói không biết ai đã phổ biến bài nói chuyện đó. Ông quả quyết ông không làm bởi vì giả dụ ông có muốn làm cũng không được vì cái tư thế thư ký toà giám mục của ông. Cha Lý nói các thày bên Phật Giáo cũng quả quyết các thày không làm việc phổ biến đó. Nhưng cuộc đời cha Lý bắt đầu lao đao từ đó. Ông bị nghi là tổ chức phổ biến bài phát biểu của Đức Cha Điền. Công an mời ông làm việc liên tục trong nhiều ngày. Ông bị áp lực và đe doạ. Cuộc điều tra gây phiền hà cho ông đã vậy, mà nhất là cản trở ông không làm được các công việc của một thư ký toà giám mục. Cuối cùng jĐức Cha Điền phải chịu cho ông nghỉ và cử ông về coi một họ đạo nhỏ bên ngoài Huế. Tôi không nhớ tên xứ đạo này. Đây là bước đầu của kế hoạch công an chuẩn bị bắt ông. Cũng như lần ông bị bắt và xử án mới đây, trước khi bát cha Lý, họ tìm cách đẩy ông ra khỏi toà giám mục. Thứ nhất để chứng tỏ rằng đây là nhà nước thi hành luật pháp với cá nhân Nguyễn Văn Lý chứ không phải đối với Công Giáo. Thứ hai là để cho việc bắt bớ đỡ gây tai tiếng ồn ào, bất lợi về chính trị. Giáo dân của cha Lý biết rất rõ âm mưu của công an. Họ cắt người canh gác xứ đạo. Khi thấy bóng dáng công an họ giật chuông kêu gọi giao dân đổ ra ngăn cản. Công an đến bắt cha Lý mấy lần không được. Cho đến một ầan, cộng sản bày mưu đánh lừa dân chúng, kêu họ đi họp ngoài xã rồi công an mặc thường phục bất thần đột nhập nhà xứ khiêng cha Lý đi. Ông bị xử về tội xách động dân chúng chống lại chính quyền. Trước khi tuyên án toà điều đình với cha Lý: một là cởi áo tu về gia đình ở, hai là lãnh án 10 năm. Đây là chiến thuật cổ điển cộng sản đối phó với các vị tu hành. Cũng ở trại Thanh Cẩm, tôi được hân hạnh ở chung với sáu linh mục chịu chức chui và hai thày dòng của Miền Bắc thuộc các địa phận Bùi Chu, Hải Phòng và Phát Diệm. Hầu hết đều bị tù lần thứ hai về tội chống đối nhà nước vì không chịu về nhà lấy vợ. Có ôg lần đầu đã bị giam cả 15 năm rồi. Cha Lý đã chọn bản án 10 năm. Sự lựa chọn đã nói lên con người của ông. Ông bị nhốt ở Huế ít lâu thì chuyển trại ra Thanh Cẩm. Có hai lý do cho việc chuyển trại này. Thứ nhất cộng sản muốn đưa ông xa khỏi Huế để tách rời ông khỏi khối giáo dân ở đó, cắt đứt mọi liên lạc vì họ vẫn sợ ảnh hưởng của ông. Thứ hai Thanh Cẩm lúc đó là trại trừng giới dễ đi khó về sau khi trại cổng trơì Quyết Tiến bị phá huỷ trong cuộc chiến tranh bài học Đặng Tiểu Bình dạy cho đàn em. Tôi hỏi cha Lý ông có hối hận về sự chọn lựa của ông không. Ông trả lời không do dự: không. Bởi ông nghĩ ông đang làm theo thánh ý Chúa. Là linh mục, ông đi bất cứ nơi nào Chúa sai ông đi. Và ông nghĩ Chúa sai ông tới đây để đưa Chúa tới những người anh em ở đây, bao gồm cả người ở tù và người coi tù. Tôi hỏi cộng sản đối xử với ông thế nào. Sau khi tuyên án, ông nói, nói chung dễ chịu hơn trước. Ông không bị đánh đập. Không còn bị hăm dọa như trước. Tuy ăn không đủ no, nhưng khẩu phần của ông là khẩu phần bình thường như các tù nhân khác, không bị giảm bớt như khẩu phần của các người biệt giam. Nhưng cái ghê gớm nhất là biệt giam. Mặc dầu ông nói chuyện với Chúa cả ngày, ông vẫn thèm được nói chuyện với con người bằng xương bằng thịt. Ông lấy làm lạ tại sao giờ này 6ng vẫn bị bắt làm tự khai triền miên. Đó là kỹ thuật điều tra. Người ta bắt ông nói một sự kiện lập đi lập lại nhiều lần. Nếu có điều gì không đúng lộ khi so sánh các lần khai khác nhau. Hoặc giả lúc đó ngoài xã hội đang có chuyện gì mà công việc làm của ông trước đây c1 thể có liên can tới sự việc hoặc con người nào đó. Tôi nói sau này chắc ông có thể còn bị hỏi thêm nhiều nữa. Trong anh em chúng tôi có những người còn bị kêu làm việc vào những năm 1982 và 1983 về tình hình tôn giáo trong những năm cuối của Việt Nam Cộng Hoà, và nhất là về Tư Trọng. Tư Trọng, con của nhà văn Nguyễn Công Hoan, là đại tá tình báo chiến lược của Miền Bắc bị Miền Nam bắt và giam cho đến 30/04/75. Sau 75 ông đượoc phong thiếu tướng và làm cục trưởng hải quan. Nhưng ít lâu sau ông mất chức và không còn nghe đến tên ông nữa. Cha Lý nói hết điều tra miệng, CS bắt ông viết tự kiểm. Ông phải viết tất cả cuộc đời ông, những gì ông đã làm hoặc đã xảy ra cho ông từ nhỏ tới hiện tại. Ông viết xong, đem nộp. CS bảo ông viết nữa. Ông nói ông không còn gì để viết. CS bảo ông viết ra những gìi ông đang có trong đầu ông. Cha Lý bắt đầu viết về giáo lý Công Giáo, về tình thương yêu của Thiên Chúa đối với con người, và ông viết kinh nguyện. CS tức giận hỏi ông tính gì đây. Ông trả lời ông chỉ làm theo lời họ bảo ông làm. Ông suy nghĩ việc Chúa làm, con đường Chúa đi thật kỳ diệu, con người không thể tưởng tượng ra được. Ai dám nghĩ mình có thể nói về Chúa cho một người công an cộng sản mặc sắc phục ngồi tại bàn làm việc của anh ta. Điều đó càng làm ông xác tín hơn vào sứ mệnh của ông khi Chúa đưa ông vào nhà tù CS. Tôi bật cười và hỏi ông có tin rằng người công an cộng sản nào đó đọc bài viết của ông và hiểu đưọc điều ông viết không. Thực ra trong trí óc, tôi lúc đó ngờ ngợ nghĩ rằng không biết ông cha này có mát không. Ông kể cho tôi mẩu chuyện đối thoại giữa Đức Phật và hai đệ tử mà tôi không nhớ tên. Một người rất thông minh giải thích cao siêu về chân lý xong thì người kia nói chân lý đâu có phải rắc rối như vậy. Đức Phật nói người đệ tử thứ hai đã đạt được giác ngộ. Rồi cha Lý giải thích tôn giáo hiểu được chính yếu không phải bằng lý trí mà bằg tấm lòng. Nếu người công an nào đó có tấm lòng rộng mở với chân lý và điều thiện, người đó sẽ đón nhận được ơn Chúa. Nhiệm vụ của ông là giới thiệu Chúa cho họ, còn việc theo Chúa hay không là việc của Chúa và cá nhân người đó. Tôi vẫn thắc mắc về lời giải thích của ông, không hiểu nổi. Cho tới một ngày gần đây nhân đọc đoạn phúc âm về cuộc xử án của Philatô tôi mới chợt nhận ra rằng lúc đó cha Lý đang giới thiệu Chúa cho tôi mà tôi không mở rộng lòng để đón nhận. Trong cuộc xử án, Philatô thẩm vấn Chúa Giêsu về việc người Do Thái tố cáo Chúa xưng mình là vua. Viên tổng trấn La Mã hỏi, “Vậy ông có phải là vua không?” Chúa xác nhận nhưng giải thích rằng nước của Ngài không phải là một nước ở trần thế này và Chúa nói thêm, “… Tôi sinh ra và đến trần gian này là để làm chứng cho chân lý. Ai thuộc về chân lý thì nghe tôi.” Philatô hỏi, “Chân lý là gì?” rồi ông bỏ ra ngoài nói chuyện với những người tố cáo Chúa. Người ta vẫn tiếc rằng Philatô không chịu đợi xem Chúa nói chân lý là gì. Thực ra Chúa không trả lời. Bởi vì Chúa đã từng nói, “Tôi là đường, là sự thực và là sự sống.” Vậy Philatô đang thấy Chúa ngay trước mặt mình mà không nhìn ra chân lý là tại ông nhìn mà không thấy. Ông đã đóng lòng ông lại với chân lý vì cho mình là người ngoại cuộc không cần đến cai thứ chân lý ấy của người Do Thái. Chúa tạo cho ông cơ hội để mở lòng ra bằng cách hỏi lại ông để đưa vấn đề thẳng vào cá nhân ông, “Ngài nói vậy là tự ngài nói hay có người khác đã nói với ngài về tôi?” Chúa mời gọi ông nhập cuộc nhưng ông khước từ, “Tôi đâu phải người Do Thái, đúng không?” Ông vẫn nghĩ ông là người La Mã, lại là một quan tổng trấn, thì ông là người ngoại cuộc với những tranh tụng tôn giáo của đám dân bản xứ này. Khi nghe cha Lý nói về việc cha giới thiệu Chúa với người khác, tôi cũng coi tôi là người ngoại cuộc, nghĩ rằng những điều ông nói là áp dụng cho người khác, không phải cho tôi vì tôi đã là người công giáo rồi. Tôi cám ơn cha Lý về những điều ông giúp tôi hiểu rõ hơn về đức tin của mình. Nhất là tôi biết ơn ông đã giúp tôi có được sự bình an tâm hồn trong những ngày tháng ở tù. Trong kinh thánh tôi không thấy nói chữ hạnh phúc, chi nói bình an. Khi Chúa sống lại và hiện ra với các môn đệ, câu đầu tiên Ngài nói là “Bình an cho các con.” Sự bình an đó chính là hạnh phúc mênh mang và dày đặc. Nó giúp con người vượt qua mọi hoàn cảnh. Tôi chúc cha Lý được bình an tâm hồn. Cầu xin cho ông mau qua khỏi thời gian khó khăn nay. Xin Chúa ban cho ông sức mạnh vá sự nâng đỡ để vượt qua. Phạm Hữu Đàm |