Về vấn đề biên giới Việt – Trung

    Trong thời gian gần một năm qua, những nguời Việt Nam yêu nước không phân biệt nguồn gốc chính trị, đều sửng sốt, đau lòng và phẫn nộ khi được biết hiệp định biên giới Việt - Trung được ký kết và phê chuẩn lén lút làm thiệt hại hàng trăm km2 đất đai tổ tiên cha ông để lại. Ðã có rất nhiều người lên tiếng, nhiều bài viết, bài nói và giải thích khác nhau xung quanh vấn đề này. Sau khi đuợc tiếp cận với những bài viết và tài liệu cũng như những phản kháng, kiến nghị của rất nhiều nguời Việt Nam trong và ngoài nước, Tôi có một số băn khoăn, thắc mắc xung quanh vấn đề biên giới Việt - Trung. Qua thời gian nghiên cứu, tìm hiểu, Tôi đã đi tới nhận thức về vấn đề này.

    Trước hết, tại sao lại có sự khác biệt rất lớn giữa thông báo của Nhà nước về hiệp định biên giới trên bộ với những nguồn thông tin khác. Theo thông báo của Nhà nước Việt nam, trong số 227 km2 đất đai tranh chấp suốt dọc biên giới, bằng các nguyên tắc phân chia được che chắn khá kỹ luỡng, phía Trung Quốc đuợc chia 114 km2 và phía Việt Nam là 113 km2. Trong khi đó các nguồn tin khác lại khẳng định, diện tích đất đai phía Việt Nam bị mất là từ 720 km2 - 900 km2. Phải hiểu vấn đề này như thế nào ? Liệu có phải một trong hai nguồn thông tin này không chính xác hoặc là sự bịa đặt hoàn toàn ? Câu trả lời là cả hai nguồn tin này đều đúng ! Mỗi nguồn thông tin đều có cách đặt vấn đề và cách giải thích theo cách đặt vấn đề đó. Ðối với nguồn thông tin Việt Nam bị mất từ 720 km2 - 900 km2 thì đối tượng so sánh là hiệp định biên giới Việt - Trung vừa ký kết, với hiệp định biên giới Pháp - Thanh. Theo đó diện tích đất đai bị mất có thể không chỉ bắt đầu từ hiệp định mới ký kết mà từ nhiều năm trước đó. Còn với thông báo chính thức của Nhà nuớc Việt Nam, diện tích đất đai bị tranh chấp chỉ là sự so sánh trên thực tế trong một giai đoạn nhất định, có thể là từ truớc và sau cuộc chiến tranh biên giới Việt - Trung (1979 - 1986). Một ví dụ là địa danh ải Nam Quan, trên thực tế đã bị mất vào tay Trung Quốc từ khá lâu trước cuộc chiến tranh biên giới, nhưng chỉ đến bây giờ người ta mới được biết điều đó (đọc bài "Hận Nam Quan ngày xưa, hận Nam Quan ngày nay").

    Một câu hỏi được đặt ra là việc mất đất đã diễn ra như thế nào ? Tại sao vừa qua Ðảng cộng sản Việt Nam lại ký kết hiệp định đó ? Và tại sao họ lại chỉ đặt vấn đề giải quyết tranh chấp đất đai trên thực tế và trong giai đoạn ngắn ?

    Quá trình đất đai, lãnh thổ bị Trung Quốc lấn chiếm có thể coi là hệ quả tổng hợp của sự mất cảnh giác, của cái giá phải trả đổi lấy sự ủng hộ, giúp đỡ của Trung Quốc trong cuôc chiến tranh và sau cùng là của những kẻ dùng đất đai của tổ tiên cha ông để lại đổi lấy quyền lực của cá nhân và tập đoàn cầm quyền. Trong một số tài liệu đã nêu, vào những năm chiến tranh, để tránh tổn thất cho cơ quan đầu não, Ðảng cộng sản đã đặt các An toàn khu sát dọc biên giới Việt - Trung và công bố đó là phần đất đai của Trung Quốc. Ngoài sự mất cảnh giác, chúng ta cũng hiểu được rằng sức ép từ phía Trung Quốc với những thủ đoạn rất tinh vi và khôn khéo đã đẩy Ðảng cộng sản Việt Nam phải đánh đổi lấy sự ủng hộ và giúp đỡ của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh vừa qua.

    Việc ký kết và phê chuẩn hiệp định biên giới Việt - Trung vừa qua mang đậm dấu án cá nhân của ông Lê Khả Phiêu, cựu Tổng bí thư đảng, người đứng đầu Bộ chính trị khi đó. Với cơ chế tập thể lãnh đạo, thực chất là vô trách nhiệm, người đứng đầu Bộ chính trị rất dễ dùng những thủ đoạn đơn giản để giải quyết những vấn đề quốc gia mà không ảnh huởng trực tiếp đến quyền lợi trước mắt của những uỷ viên Bộ chính trị còn lại. Và ông ta đã đạt đuợc mục tiêu, song cái đích cuối cùng mà ông ta nhắm tới lại không đạt được, đó là sự ủng hộ của người khổng lồ phương Bắc để duy trì chiếc ghế Tổng bí thư.

    Lý do Ban lãnh đạo hiện nay giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải chỉ bó hẹp trong phạm vi nhất định về thời gian và không gian cũng không có gì khó hiểu. Bình thường ra, ban lãnh đạo quốc gia phải nhân danh sự liên tục của quốc gia hay chí ít là sự liên tục của chế độ để giải quyết vấn đề biên giới, theo đó bảo đảm chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc. Nếu những người đi trước có sai lầm phải tìm cách sửa chữa và tuyệt đối không để thiệt hại thêm một tấc đất vào tay ngoại bang. Song, đối với giới lãnh đạo hiện nay, một tâm lý và phong cách ứng xử phổ biến là chỉ quan tâm tới phạm vi, lĩnh vực và đơn vị mình quản lý để làm sao không xảy ra sự cố nào có thể ảnh hưởng tới chiếc ghế quyền lực hiện tại và khả năng thăng tiến trong tuơng lai. Ngoài ra, người ta không hề quan tâm tới những gì xảy ra trước khi tiếp nhận và sau khi thay đổi đối tượng quản lý. Hay nói cách khác, với sự tha hoá nhân cách và cảm nhận sự bế tắc của tuơng lai, thực chất giới lãnh đạo hiện nay không có trách nhiệm gì trước vận mệnh dân tộc cũng nhu không hề đại diện quyền lợi của nhân dân. Chính lối suy nghĩ như vậy về trách nhiệm mà ban lãnh đạo Ðảng cộng sản đã ký kết hiệp định biên giới vừa qua. Nhưng có một điều mà họ không thể không nghĩ tới đó là trách nhiệm trước lịch sử, một trách nhiệm rất lớn bởi vì họ phải gánh cả sai lầm của những người tiền nhiệm khi đặt bút ký và phê chuẩn hiệp định biên giới Việt - Trung.

    Từ khi phát hiện ra việc ký kết và phê chuẩn hiệp định biên giới Việt Trung của ban lãnh đạo Ðảng cộng sản, những nguời Việt Nam yêu nước đã có phản ứng quyết liệt bằng nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Chúng ta có thể tự hào về những việc đã làm và kết quả trước mắt, tạm thời ngăn chặn được Ban lãnh đạo Ðảng cộng sản phê chuẩn hiệp định biên giới trên biển.

    Qua sự kiện này, tôi cũng nhìn thấy một mối lo rất lớn đang ngày một hiện diện rõ hơn. Phản ứng của người dân truớc sự kiện trọng đại của dân tộc thật đáng thất vọng. Một phần không nhỏ nhân dân trong nước đã biết tới việc đất đai lãnh thổ bị cắt nhượng, nhưng chỉ có một số rất ít nguời đang tham gia phong trào dân chủ lên tiếng bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc. Sự thờ ơ đã phản ánh tinh thần yêu nước nói chung của nhân dân xuống tới mức đáng báo động. Sự kiện hàng ngàn hec-ta rừng chàm nguyên sinh ở U minh thuợng và U minh hạ bị thiêu huỷ hoàn toàn không chỉ tố cáo khả năng quản lý yếu kém của giới lãnh đạo hiện nay mà còn cho thấy những tổn thất vô cùng lớn khi nguời dân không quan tâm tới lợi ích chung của quốc gia, dân tộc. Là nguời Việt Nam, chúng ta cần khẩn trương hành động để hun nóng tinh thần yêu nước, điều kiện không thể thiếu đối với tuơng lai của dân tộc trước khi quá muộn. Một trong những việc cần làm là tiếp tục cuộc đấu tranh bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải thiêng liêng của tổ quốc.

    Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2002
    Nguyễn Vũ Bình