Kính gởi những người cộng sản Việt Nam chân chính,

Ðồng kính gởi đồng bào cả nước và đồng bào Việt Nam ở nước ngoài

Trong mấy ngàn năm lịch sử tồn tại của mình, dân tộc Việt nam đã từng chiến đấu hàng ngàn năm chống quân xâm lược và sự đô hộ của phong kiến phương Bắc và từng chiến đấu hàng thế kỷ sau cùng chống quân xâm lược và sự đô hộ của đế quốc thực dân, đặc biệt, các cuộc chiến đấu ấy đã đặt dưới sự lãnh đạo của ÐCSVN từ năm 1930 khi đảng này ra đời về sau. Cụ thể các cuộc chiến đấu ấy như:

- Khởi nghĩa chống Pháp và thành lập Xô Viết Nghệ Tỉnh (năm 1930);

- Khởi nghĩa Nam Kỳ chống Pháp (năm 1940);

- Khởi nghĩa Ðô Lương, Bắc Sơn và khởi nghĩa tháng 8-1945 (gọi là Cách Mạng Tháng 8), giành chính quyền từ tay bọn phát-xít Nhựt Bản;

- Kháng chiến chống Pháp (9 năm: 1945-1954);

- Kháng chiến chống Mỹ (20 năm: 1955-1975);

- Kháng chiến chống bọn bành trướng phương Bắc (từ đầu năm 1979 và sau một tháng thì chấm dứt, nhưng đánh ở biên giới vẫn kéo dài);

- Chiến đấu võ trang chống bọn diệt chủng Pôn-Pốt, Iêng Sary và "làm nghĩa vụ quốc tế" ở Campuchia (12 năm: 1979-1991).

Tất nhiên, dân tộc Việt Nam chúng ta phải gánh chịu những hy sinh lớn lao trong quá trình chiến đấu lâu dài nói trên vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Chỉ riêng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài suốt 20 năm đã gây thương vong cho 8 triệu người Việt Nam (theo báo chí Trung Quốc, dựa vào thống kê của nhà nước XHCNVN đã loan báo gần đây); 1,1 triệu liệt sĩ; 300.000 quân nhân mất tích, 600.000 thương binh; 2 triệu thường dân bị chết; 2 triệu thường dân bị thương tật; 2 triệu người bị nhiễm chất độc hóa học.

Nếu tính tất cả các cuộc chiến tranh và các cuộc khởi nghĩa như đã nêu trên thì tổng số thương vong ở nước ta ước tính có thể lên tới 11-12 triệu người. Ðó là cái giá quá đắt và quá nặng nề đối với dân tộc Việt Nam ta. Sở dĩ có hậu quả ấy là vì cuộc chiến tranh cứu nước của nhân dân ta vừa mang tính chất giải phóng dân tộc, lại vừa mang tính chất đấu tranh giai cấp (giữa cộng sản và quốc gia - giữa vô sản và tư bản - giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản) và đấu tranh ý thức hệ (giữa duy vật và duy tâm - giữa vô thần và hữu thần - giữa cộng sản và các tôn giáo: Cao Ðài, Hòa Hảo, Công Giáo, Tin Lành, Phật Giáo...)

Với tính chất giai cấp ấy, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã biến thành cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn - nội chiến, chém giết lẫn nhau giữa những người anh em ruột thịt có chung một dòng máu Lạc Hồng. Tính chất đấu tranh giai cấp ác liệt của cuộc chiến tranh cứu nước của dân tộc ta được thể hiện ở tổng số thương vong vừa kể trên; đồng thời được thể hiện ở các sự kiện chấn động chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta: 2 triệu người miền Bắc ồ ạt di cư vào miền Nam từ năm 1954-1955 và 2 triệu người trong cả nước ồ ạt di tản khắp thế giới từ năm 1975 trở đi.

Do đó, tuy chiến tranh đã chấm dứt từ lâu, nhưng hận thù trong các từng lớp nhân dân đối với chế độ hiện nay ở Việt Nam vẫn còn sâu sắc, đậm nét và chưa hề được giải quyết để xóa sạch nó đi, thậm chí các cuộc đàn áp, bắt bớ, giam cầm, tù đày đối với những người theo đạo (Phật Giáo, Công Giáo...), trí thức, nhà văn, nhà thơ, luật sư, bác sĩ,... cán bộ đảng viên trung thực, những người kháng chiến cũ,... vẫn tiếp diễn không ngừng, chỉ vì những người kể trên dám có ý kiến khác với ÐCSVN.

Việt Nam đang tiến lên, nhưng trên mình còn nhiều ung nhọt, nhức nhối thường xuyên. Ðiều đó không thể không hạn chế bước phát triển của đất nước.

Ở vào thời đại trên thế giới chiến tranh lạnh đã chấm dứt, hòa giải và hợp tác giữa các kẻ thù với nhau đã xuất hiện và tiến triển mạnh mẽ; do đó, nhiệm vụ tất yếu phải sớm hòa giải và hòa hợp trong cộng đồng dân tộc Việt Nam càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Ðó là nội dung cách mạng, chính trị rất quyết định trong giai đoạn phát triển mới của Việt Nam từ nay đến đầu thế kỷ 21. Nếu chỉ với giải pháp thuần túy kinh tế thì không thể giải quyết được gì đáng kể cho giai đoạn nói trên.

Theo xu thế chung của thế giới, ÐCSVN đã thực hiện một cách nhanh chóng sự hòa giải và hợp tác chặt chẽ chưa từng có trong lịch sử với những "kẻ thù không đội trời chung" của dân tộc như: đế quốc Mỹ, Pháp, Nhựt, Nam Triều Tiên, ASEAN, Trung Quốc, lẽ nào lại không thể hòa giải hòa hợp với những người anh em Việt Nam từng là đối tượng đàn áp, nạn nhân của ÐCSVN sao? Phải chăng đồng đô-la là điều kiện để hòa giải, có nghĩa là nơi nào có đô-la thì có hòa giải với nơi đó; ngược lại, nơi nào không có đô-la Mỹ thì không có hòa giải sao? Nếu đó quả là sự thật thì rất đáng buồn và tủi nhục cho dân tộc Việt Nam bất hạnh! Nhưng tôi mong rằng điều đó không hề là sự thật bao giờ.

Vậy, câu hỏi đặt ra: Nếu có hòa giải thì ÐCSVN hòa giải với ai và trên cơ sở gì?

- hòa giải với những ai từng là đối tượng vu khống, chụp mũ, đàn áp, khủng bố, giam cầm, tù đày, tước đoạt, giết hại của ÐCSVN;

- hòa giải trên cơ sở dân chủ, bình đẳng, có nghĩa là ÐCSVN phải tự bắt buộc mình thực hiện nền chính trị đa nguyên - dân chủ đa đảng, từ bỏ chuyên chế độc tài, độc đảng, tức ÐCSVN và những người cần phải hòa giải cùng đứng chung, vai ngang vai với nhau, chớ không thể như lâu nay, ÐCSVN luôn luôn đứng trên họ, đè đầu đè cổ họ.

Ở vào thời điểm nghiêm trọng này, ÐCSVN muốn tiến hay lùi đều không dễ dàng chút nào. Ðây là thách thức nặng nề của lịch sử đối với ÐCSVN. Chính tình hình khách quan ấy đòi hỏi ÐCSVN phải "lột xác" hòan toàn (thay đổi cả nội dung và hình thức) để có điều kiện đưa cách mạng tiếp tục tiến lên trong giai đoạn mới.

Ðiều chắc chắn làm cho chúng ta tin tưởng là những người cộng sản chân chính với tinh thần trách nhiệm trước nhân dân và lòng dũng cảm của mình sẽ vượt qua bao cản ngại lớn do lực lượng bảo thủ, ngoan cố đưa ra, để xông lên, giành thắng lợi rực rỡ cho sự nghiệp hòa giải, hòa hợp dân tộc, xây dựng một nền chính trị đa nguyên - dân chủ đa đảng, xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, vì dân và xây dựng đất nước Việt Nam giầu mạnh, dân chủ tự do, ấm no hạnh phúc, văn minh hiện đại.

Giai đoạn phát triển mới của đất nước từ chuyên chế độc tài chuyển sang chế độ dân chủ đa nguyên. hòa giải hòa hợp dân tộc là giai đoạn rất phức tạp và đầy cam go. Tuy nhiên, chúng ta phải thực hiện nó bằng những điều kiện và biện pháp hòa bình (đối thoại, hội thảo, thương lượng...), cố tránh mọi hành động bạo lực, vũ lực nhằm tiết kiệm triệt để xương máu của nhân dân ta đã từng chịu đựng nhiều đau thương đầy máu và nước mắt qua mấy mươi năm chiến tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Dân chủ, bình đẳng, đối thoại là những yếu tố quyết định đối với hòa giải, hòa hợp dân tộc. Tuy nhiên, một yếu tố khác cũng không kém phần quyết định: đó là sự sám hối của ÐCSVN.

Sám hối nghiêm túc, chân thành, súc tích, có sức thuyết phục sẽ làm tan biến nhanh chóng bao nỗi u buồn, đau khổ, uất hận tiềm tàng từ lâu trong các tầng lớp nhân dân từng là nạn nhân của ÐCSVN. Chính bản thân sám hối nghiêm túc đó mới dẫn đến kết quả tiết kiệm thật sự xương máu của nhân dân ta và thúc đẩy công cuộc hòa giải, hòa hợp sớm đến thắng lợi huy hòang.

Sám hối nghiêm túc đó cũng có ý nghĩa nghiêm trọng đối với việc giữ vững vai trò, vị trí của người cộng sản trong điều kiện hòan toàn mới của đất nước và sẽ không có chuyện ÐCSVN "bị gạt ra" và "bị trả thù", bởi vì biết bao tấm gương trung trinh, bất khuất, vì dân vì nước mà hy sinh của những người cộng sản còn in sâu trong tâm trí của nhân dân ta ngày nay.

ÐCSVN phải có trách nhiệm tạo lối thoát cho dân tộc, đồng thời dân tộc cũng có trách nhiệm tạo lối thoát danh dự (bao dung, nhân ái) cho ÐCSVN. Ðã đến lúc phải có nhiều phía, nhiều tiếng nói thì mới có thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề của đất nước đặt ra.

Giữ vững độc lập, đẩy mạnh cải cách, mở cửa và hợp tác, hòa nhập vào cộng đồng thế giới, đó là hướng đi chiến lược của chúng ta. Bằng đôi chân vững vàng của dân tộc mình, chúng ta mới có thể tránh được tình trạng lệ thuộc ngoại bang. Do đó, điều quan trọng và cấp bách là chúng ta phải biết huy động sức mạnh tổng hợp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài gồm hai triệu người được đánh giá có trọng lượng tương đương với một nước giầu mạnh trên thế giới (có tổng thu nhập hàng năm cao gấp bội TSPXH của nhà nước CHXHCNVN: 16 tỷ đô-la với hơn 70 triệu dân), với đội ngũ trí thức quý báu (trên 300.000 người) đang cư trú và làm việc trên khắp thế giới, đặc biệt là ở các nước Phương Tây. Do lăn lộn và cọ sát với môi trường văn minh, tiên tiến của thế giới tư bản chủ nghĩa trong mấy mươi năm qua, anh chị em trí thức nói trên có đầy đủ tầm vóc (quốc tế) trên các lãnh vực để góp phần quyết định trong sự nghiệp xây dựng dân chủ, phát triển đất nước, thúc đẩy Việt Nam cất cánh. Với lực lượng hùng hậu của đội ngũ trí thức Việt Nam trong và ngoài nước, tại sao Việt Nam lại không thể thành "Rồng" trong một tương lai không xa?

Tôi lạc quan và tin tưởng đồng bào các từng lớp ở trong và ngoài nước sẽ có thái độ bình tĩnh, vì lợi ích tối cao của Tổ Quốc Việt Nam thân yêu, sẽ góp phần tích cực thực hiện hòa giải, hòa hợp và đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở dân chủ, bình đẳng, bao dung, nhân ái, sẵn sàng khép lại mọi quá khứ đau buồn và tội lỗi, nhìn thẳng về tương lai mà dốc toàn lực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, biến Việt Nam thành một nước giầu mạnh, dân chủ, tự do, no ấm, hạnh phúc, văn minh, hiện đại.

** II **

Ðể thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc cần tiến hành những công tác lớn trước mắt:

1. Thành Lập Ban Vận Ðộng Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc:

a. Tiếp xúc giữa các đối tượng có liên quan.

b. Mở hội thảo, hội nghị hòa giải, hòa hợp dân tộc.

c. Mở đại hội hòa giải, hòa hợp dân tộc.

2. Thực hiện các quyền tự do, dân chủ của công dân:

a. Tự do ngôn luận.

b. Tự do báo chí.

c. Tự do hội họp, hội thảo, mít tinh...

d. Tự do tổ chức, tự do lập hội...

3. Thành lập Ủy Ban hòa Giải hòa Hợp Dân Tộc có nhiệm vụ lãnh đạo quốc gia thông qua bộ máy nhà nước hiện hành (bước quá độ).

4. Xây dựng dự thảo Cương Lĩnh Hòa Giải, Hòa Hợp Dân Tộc.

5. Tổ chức bầu cử tự do trong cả nước (bầu Quốc hội mới) có sự giám sát của Liên Hiệp Quốc.

6. Xây dựng dự thảo Hiến Pháp mới hòa giải, hòa hợp dân tộc.

Tóm lại, giờ phút hòa giải, hòa hợp dân tộc Việt Nam ta đã điểm. Dân chủ, bình đẳng, sám hối, bao dung, nhân ái là những yếu tố quyết định hòa giải, hòa hợp dân tộc thành công trong hòa bình, ổn định và danh dự, tràn đầy phấn khởi.

Ngược với sám hối là sự tố giác. Tố giác của quần chúng, nhân dân khi đã trở thành sự thật (như ở Liên Xô, Ðông Âu cũ) thì không khác gì núi lửa hận thù bộc phát, vô cùng khủng khiếp, bởi vì không có bất cứ thứ gì có thể chịu đựng nổi sự tàn phá, hủy diệt của núi lửa. Do đó, sám hối là sự lựa chọn khôn ngoan nhất mà chỉ có dũng khí cách mạng kiên cường và tấm lòng thương dân, thương nước vô hạn của những người cộng sản chân chính, trung thực mới có thể thúc đẩy thực hiện sám hối thắng lợi mà thôi.

Thực tế, đã có sám hối đầy khí phách của Nguyễn Trung Thành - người cộng sản suốt mấy mươi năm qua bị chìm đắm trong mê muội, tối tăm của tư tưởng mù quáng, sùng bái cấp trên, dấn thân vào một quá trình hành động tạo ra tội ác, ngày nay đã thức tỉnh, mạnh dạn trở về cội nguồn, nhân dân, đất nước, trở về lương tri của những người cộng sản chân chính, trung thực. Thật đáng kính trọng. Ðây chắc chắn là tín hiệu cho sự xuất hiện trong một ngày không xa hàng trăm, hàng ngàn Nguyễn Trung Thành khắp đất nước cho sự sám hối và hòa giải, hòa hợp dân tộc.

Thành phố HCM,

Ngày 11 tháng 6 năm 1995

Nguyễn Hộ

Ðịa chỉ: số 11 Trần Quốc Thảo,

Quận 3, Thành phố HCM

Việt Nam. Ðiện thoại: 290408.