Tại khóa họp tháng 8 của Phân ban Nhân
quyền LHQ lần thứ 52 ở Genève, nhân danh Phó chủ tịch Liên Ðoàn Quốc
tế Nhân quyền và Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam,
ông Võ Văn Aí đã tố cáo trưa ngày 15.8.2000 tình trạng vi phạm nhân
quyền nghiêm trọng tại các nước Egypte, Kyrgyzstan, Peru, Bắc Ireland
và Việt Nam. Riêng tại Việt Nam, ông Ái đặc biệt
lưu tâm các phái đoàn chính phủ, phi chính phủ và các chuyên gia Nhân
quyền LHQ về những vi phạm tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tình
trạng bắt bớ trái phép và cưỡng bức lao động. Ông nói :
“Chúng tôi xin nhấn mạnh rằng, từ 1997,
nhà cầm quyền Hà Nội dùng Nghị định 31/CP, cái gọi là “quản chế
hành chính”, để pháp lý hóa việc bắt bớ trái phép. Trường hợp điển
hình là Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, Xử lý Thường vụ Viện
Tăng Thống, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, năm nay 83 tuổi,
vẫn còn bị giam giữ không xét xử từ năm 1982 đến nay. Tháng 7 vừa
qua, HT Thích Huyền Quang bị công an hạch xách, hăm dọa, thẩm vấn, vì
đã gửi một bức thư cho lãnh đạo Ðảng và Nhà nước nhân ngày kỷ
niệm 25 năm kết thúc chiến tranh. Qua bức thư này, Hòa thượng kêu
gọi Ðảng cộng sản lấy ngày 30 tháng Tư làm “Ngày Sám hối và Chúc
sinh toàn quốc”. Sám hối về những hành động gây thảm sát qua Cải
cách Ruộng đất, Mậu Thân Huế, trong hai cuộc chiến, tại các Trại
Cải tạo, và phục hồi danh dự cho những người bị chết oan ức. Hòa
thượng cũng kêu gọi ra công tìm kiếm thi hài mất tích của hàng trăm
nghìn bộ đội miền Bắc và binh sĩ miền Nam, và bồi thường xứng đáng
cho các gia đình có con em bị chết hoặc tàn tật. Một cuộc hòa giải
dân tộc nhằm tuyên dương “Linh quyền cho người chết, và Nhân quyền
cho người sống”.
“Thế mà lời kêu gọi hòa ái ấy lại bị
Công an tỉnh Quảng Ngãi xem như một “hành động vi phạm nghiêm trọng”
chống Nhà nước. “Vi phạm an ninh quốc gia” là tội tầy trời trong bộ
Luật Hình sự của CHXHCN Việt Nam. Việc hăm dọa cộc cằn và thô lỗ
của công an đối với Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, là một vi
phạm trắng trợn quyền tự do ngôn luận.
“Sự kiểm duyệt của Nhà nước càng khắt khe
hơn với bộ Luật Báo chí ban hành tháng 5 năm ngoái. Vì bất cứ nhà
báo nào cũng có thể bị kết án hoặc bồi thường nặng nề khi loan tin
có hại cho cá nhân người khác, dù nguồn tin ấy chính xác. Năm
ngoái, Hòa thượng Thích Quảng Ðộ, Viện trưởng Viện Hóa Ðạo, Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, viết thư xin ra một nguyệt san
Phật giáo. Nhưng nhà cầm quyền không trả lời. Chứng tỏ không có tự
do báo chí tại Việt Nam. “Cũng
không có tự do tôn giáo. Những cuộc sách nhiễu, hăm dọa, khủng bố
tinh thần hàng giáo phẩm Phật giáo qua các cuộc công an thẩm vấn
nhiều tháng qua cho thấy cuộc đàn áp có kế hoạch và quy mô đang
chụp xuống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Ngày 11 tháng 7
vừa qua, Thượng tọa Thích Thiện Hạnh, đại diện Tăng Ðoàn Thừa Thiên
- Huế đã gửi cho nhà cầm quyền
địa phương một “Thư nhận định và kiến nghị” nêu lên 9 trường hợp cấm
tự do tín ngưỡng, chiếm dụng chùa viện và cơ sở Phật giáo, cũng như
không cho tôn tạo các tự viện bị hư nát. Trầm trọng nhất là các
trường hợp :
“1. Chùa Quan Âm ở
đường Trần Quang Khải, bị Nhà nước chiếm dụng sau năm 1975. Tượng
Phật và chuông mõ đem đào đất chôn, kinh sách bị thủ tiêu. Những hoa
văn kiến trúc trên các mặt tường chùa bị sơn phết, hủy hoại dấu
vết tôn giáo trang nghiêm. Sau đấy, biến chùa thành hợp tác xã thêu
ren. Vừa đây, toàn bộ cơ sở chùa Quan Âm bị san bằng thành bình địa
để lấy đất cho một công ty Nhật Bản thuê làm trung tâm huấn luyện nghề
du lịch ;
“2. Ðất chùa Long Quang, ở thượng nguồn
sông Bồ gần cầu An Lỗ, xã Tứ Hạ, huyện Quảng Ðiền, bị xói lỡ
nhiều năm qua nhiều cơn lũ lụt. Hòa thượng trụ trì Thích Như Ðạt phải
cho xây bờ kè để giữ đất. Thế mà nhà cầm quyền Thừa thiên - Huế
ra văn thư tố cáo chùa Long Quang “lấn đất công, chiếm mặt nước, xây
dựng trái phép làm thay đổi dòng chảy, gây xói lở ảnh hưởng đến
môi trường sinh thái” ; rồi mở chiến dịch nói xấu trên đài Truyền
hình Huế gây hoang mang trong quần chúng và chia rẽ Tăng tín đồ Phật
giáo ;
“3. Trung tâm Liễu Quán, tọa lạc trên
đường Lê Lợi, Huế, gồm một xưởng in và một thư viện có 10 nghìn đầu
sách. Sau 75, Nhà nước buộc hiến cho nhà cầm quyền địa phương. Nhưng
nại cớ là tài sản của Tăng, Ni, Phật tử đóng góp, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống nhất ở Huế từ khước. Sau đó Ban Văn học - Nghệ
thuật Thừa thiên đến xin “mượn”. Bị đàn áp, Giáo hội đành “cho mượn”
với điều kiện khi nào Giáo hội cần phải hoàn trả. Nhưng cho đến nay,
đòi không trả, lại đem Trung tâm Liễu Quán cho Công ty Trần Lâm thuê
lấy tiền. 10 nghìn đầu sách gồm kinh sách Phật giáo, các sách nghiên
cứu triết học, văn sử học... đã bị đem đốt trong chiến dịch “bài trừ
văn hóa đồi trụy” ;
“4. Các chùa Từ Hiếu, Phước Thành, Phước
Hải, Châu Hoằng Liên xã và Từ Vân bị hư hỏng từ nhiều năm, đặc
biệt sau cơn đại lũ lụt năm ngoái. Nhưng các đơn xin trùng tu, tôn
tạo, đều bị nhà cầm quyền làm khó dễ hoặc làm ngơ không trả lời ;
“5. Việc cúng bái theo nghi lễ Phật giáo
được truyền thừa bao nhiêu đời, nay Ủy ban Nhân dân xã Phong Mỹ ra
Thông báo số 23/TB tố cáo sự cúng tế của một số chức sắc tôn
giáo là “trái với thuần phong mỹ tục” (!) ;
“6. Công an huyện Phú Vang gửi giấy đòi hai
ông Trương Công Ðống và Nguyễn Văn Loan đến “làm việc có liên quan”
vào lúc 1 giờ 30 đến 2 giờ 30 khuya. Chưa có một quốc gia nào trong
thế giới bắt dân đến đồn thẩm vấn vào lúc một, hai giờ khuya, mà
cũng không cho biết nội dung sự việc liên quan thuộc vấn đề gì.
Sau khi trình bày sự việc, ông Võ Văn Ái
cất lời kêu gọi :
“Trong khóa họp tháng 3 vừa qua, Ủy hội
Nhân quyền LHQ đã dùng thủ tục tố tụng ECOSOC/1503 tố cáo CHXHCN
Việt Nam vi phạm nhân quyền trầm trọng, liên tục và có hệ thống. Nay
Liên Ðoàn Quốc tế Nhân quyền và Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người
Việt Nam xin Phân ban Nhân quyền LHQ tạo áp lực cho nhà cầm quyền Hà
Nội thi hành những điều Báo cáo viên LHQ đặc nhiệm về Bất bao dung
tôn giáo khuyến cáo trong bản Phúc trình sau chuyến đi điều tra Việt
Nam tháng 10 năm 1998 ; và chấp nhận, trong thời hạn gấp nhất, cho
Báo cáo viên LHQ đặc nhiệm về Tự do ngôn luận và Tổ Hành động
chống bắt bớ trái phép đến Việt Nam điều tra”.
Ông Võ Văn Ái cũng đã trao cho các chuyên
gia trong Phân ban Nhân quyền LHQ bản “Bạch thư về tình trạng đàn áp
nhân quyền tại Việt Nam”. Trình bày một hệ thống độc tài kiểm soát
và kềm kẹp nhân dân không cho họ được hưởng các quyền tự do ngôn
luận, báo chí, tôn gíao, hội họp, nghiệp đoàn ; một hệ thống nhà
tù, trại cải tạo, cách giam giữ khắt nghiệt, đặc biệt trong khu tử
hình ngày càng đông. Do án tử hình ngày càng gia tăng. Năm 1999 có
194 án tử hình, sáu tháng đầu năm nay đã có 41 án. Ngoài ra còn một
hình thức nhà tù không nhà tù theo quy chế “quản chế hành chính”
(Nghị định 31/CP) và “quản chế” (điều 30 trong Bộ luật hình sự), thứ
nhà tù khổng lồ dành cho tất cả những tù nhân vì lương thức và tù
nhân chính trị vừa được đặc xá hay trả tự do từ các trại cải
tạo. Bạch thư cũng tố cáo hiện
trạng lao động cưỡng bức theo sắc luật số 15 thông qua vào tháng 11.99
và áp dụng kể từ ngày 1.1.2000, liên quan đến mọi người Việt Nam
thuộc lứa tuổi từ 15 đến 35. Mỗi năm họ phải làm không công 10
ngày trên các công trường, đặc biệt là công trình xa lộ xuyên Việt
theo Ðường mòn Hồ Chí Minh, mà ai cũng cảm thấy vô ích, vì quá xa xỉ,
tốn kém đối với một nước nghèo kiết xác, và vì đã có con đường
quốc lộ Bắc Nam số 1. Tuy nhiên, ai không đi dân công có thể trả
một lệ phí thay thế hoặc thuê người làm thay. Người nghèo càng thêm
khổ, chỉ người có máu mặt, kẻ tham nhũng, là yên hàn vô sự trên
lưng giai cấp lao động. Ủy ban Bảo
vệ Quyền làm Người Việt Nam nhận định rằng “lệ phí thay thế này tính
theo mức thu nhập tối thiểu hợp pháp, hiển nhiên đưa tới tình trạng
tầng lớp khá giả không muốn đi lao động cưỡng bức, sẽ tìm thuê
người thất nghiệp làm thay với giá rẻ hơn đồng lương tối thiểu, hơn
là tự mình trả số lệ phí tính theo lương tối thiểu”, và kết luận :
“thứ pháp luật bất công này, phản chống lại điều 8 trong Công ước
quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị, theo điều này thì “không
ai bị cưỡng bức hoặc bắt buộc phải lao động”, cũng như phản chống với
ý kiến được công nhận trong các xã hội trên thế giới, theo đó
“người lao động phải được hưởng thù lao công minh và thỏa ý”. Thứ
pháp luật bất công ấy sẽ dẫn tới sự hình thành khối dân công lao
dịch làm nô lệ cho Nhà nước và đào sâu sự bóc lột người lao động
trên các công trường tại Việt Nam”. Sắc luật số 15 đến không đúng
lúc giữa một đất nước nghèo đói cùng cực và nạn thất nghiệp gia
tăng phi mã như Việt Nam.
Làm tại Liên Hiệp Quốc, Genève ngày
16.8.2000
Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam.