Cuộc Hành Quân Attleboro (phần 1)

Tác giả: Charles K. Nulsen, Jr. (Trung Tá Bộ Binh Hoa Kỳ)
Chuyển dịch: Phạm Cường Lễ

Tháng 9, ngày 14 năm 1966, Lữ Ðoàn 196 Bộ Binh Hoa Kỳ đang tham dự trong một cuộc hành quân thao dợt tại Việt Nam. "Hành quân thao dợt" có nghĩa là một chiến dịch hành quân càn quét ngắn hạn, tương đối nhỏ, để sau đó các cấp chỉ huy sẽ quan sát và đánh giá khả năng tác chiến của lữ đoàn này. Cuộc hành quân đang tiến hành tốt đẹp thì đột nhiên phực lửa và bùng nổ dữ dội. Trận ác chiến giữa các đơn vị lục quân Hoa Kỳ và Việt Cộng kéo dài mãi cho đến ngày 24 tháng 11 mới chấm dứt.

Trong trận này có sự tham dự của vài đơn vị thuộc Sư Ðoàn 1 và 25 Bộ Binh Hoa Kỳ, Lữ Ðoàn 173 Nhảy Dù Hoa Kỳ, vài tiểu đoàn Việt Nam Cộng Hòa, toán lực lượng đặc biệt "Mike Force," và luôn cả các phi vụ không-yểm Hoa Kỳ phụ trách. Tổng cộng bao gồm 22 ngàn binh sĩ của quân đội đồng minh. Ðây là trận chiến lớn nhất cho Hoa Kỳ kể từ khi quốc gia này can thiệp vào tình hình chiến sự tại Việt Nam. Ngày 6 tháng 11/1966, các đơn vị tham chiến được đặt dưới quyền của một bộ chỉ huy đặc-nhiệm ở cấp sư đoàn. Bộ chỉ huy này điều khiển cuộc hành quân cho đến ngày 25 tháng 11 năm 1966.


o O o


Thành lập vào tháng 8 năm 1965 tại căn cứ Fort Devens ở tiểu bang Massachusetts, Lữ Ðoàn 196 Bộ Binh là một lực lượng bộ-chiến trang bị nhẹ, với số lượng quân cụ tối thiểu, để có thể mau chóng phản ứng trong tình trạng khẩn thiết. Mùa hè năm 1966, lữ đoàn này nhận lệnh sang Việt Nam. Họ được di chuyển bằng tàu bè lẫn phi cơ, và đến nơi vào tháng 8 năm 1966. Cuộc hành quân Attleboro (đặt theo tên của một thành phố ở tiểu bang Massachusetts) là chiến dịch quân sự đầu tiên của Lữ Ðoàn 196. Ngày 14 tháng 9 năm 1966, từ một căn cứ nằm về phía Tây thị xã Tây Ninh, cuộc hành quân chính thức bắt đầu.

Vì đây là trận thử lửa đầu tiên của lữ đoàn, nên thượng cấp không giao phó các nhiệm vù táo bạo hay cam go. Theo kế hoạch hành quân, vài đơn vị cấp tiểu đoàn sẽ được trực-thăng vận vào vùng phía Bắc, Ðông và Nam của Tây Ninh từ Trại Bí đến Suối Ðá và Dầu Tiếng. Vùng hoạt động bao gồm luôn đồn điền cao su Michelin ở ngoại ô Dầu Tiếng. Lữ Ðoàn 196 lãnh trách nhiệm lục soát về phía Nam mật khu Dương Minh Châu (còn được gọi là Chiến Khu "C"). Vùng này, và luôn cả khu vực Chiến Khu D (nằm về phía Ðông và Nam của tỉnh Phước Long) đã từng được các lực lượng Việt Minh xử dụng trong thời kháng chiến chống Pháp. Về sau, trong cuộc chiến "chống Mỹ," những mật khu này vẫn tiếp tục được quân đội Bắc Việt lẫn Việt Cộng miền Nam xử dụng.

Trong cuộc hành quân Attleboro, nhiệm vụ của lữ đoàn được phân thành hai giai đoạn. Giai đoạn đầu, 14 tháng 9 đến 31 tháng 10/1966, chỉ gồm các cuộc chuyển quân thám kích. Trong đó vài vụ chạm súng với Việt Cộng xảy ra, rời rạc và lẻ tẻ, không gì quan trọng. Lữ đoàn tịch thâu một số lượng đáng kể vũ khí và thực phẩm của địch quân.

Cả ba tiểu đoàn chủ lực thuộc Lữ Ðoàn 196 đều tham dự cuộc hành quân này. Tiểu Ðoàn 2/1 (đọc là "Tiểu Ðoàn 2 thuộc Trung Ðoàn 1"), dưới quyền điều khiển của Trung Tá Charles "Pete" Weddle, mở đầu với cuộc hành quân trực-thăng vận vào ngày 14 tháng 9 đi sâu vào vùng đất giữa Tây Ninh và Dầu Tiếng. Kế tiếp, ngày 18 tháng 9, Tiểu Ðoàn 4/31 của Trung Tá Hug Lynch được trực thăng bốc vào phía Bắc khu vực hành quân của Tiểu Ðoàn 2/1. Sau vài vụ chạm súng lẻ tẻ, tiểu đoàn này được mang trở về căn cứ vào ngày 25 tháng 9.





Ngày 6 tháng 10, Tiểu Ðoàn 4/31 mở cuộc hành quân truy-lùng và tiêu-diệt. Cuộc hành quân được thực hiện trong vùng đất mà Tiểu Ðoàn 2/1 đã hoàn tất và rút đi vào ngày 21 tháng 9. Tiểu Ðoàn 4/31 thi hành nhiệm vụ cho đến ngày 14 tháng 10. Trong những ngày đó, hai cán binh Việt Cộng bị bắn chết trong vài vụ chạm súng nhỏ. Tiểu Ðoàn 3/21 do tôi (Trung Tá Charles K. Nulsen, tác giả bài này) chỉ huy được trao nhiệm vụ phòng thủ căn cứ của Lữ Ðoàn 196 tại Tây Ninh. Ở Giai Ðoạn 1 này, Chuẩn Tuớng Edward H. DeSaussure là vị sĩ quan chỉ huy trưởng của cuộc hành quân (ông cũng là tư lệnh của Lữ Ðoàn 196).

Giai Ðoạn 2 của chiến dịch (vẫn còn nằm dưới quyền điều khiển của Chuẩn Tướng DeSaussure) được khởi động vào ngày 1 tháng 11, sau đó kết thúc vào ngày 5. Số lượng thực phẩm tịch thâu của Cộng quân tăng lên rất nhiều. Phi cơ được gọi đến để chở hết về Dầu Tiếng. Viên tư lệnh của Sư Ðoàn 25 Bộ Binh ra lệnh cho Tiểu Ðoàn 1/27, hỗn danh "Wolfhounds" (loại chó bự dùng để săn chó sói), được trực thuộc nằm dưới quyền điều động của Lữ Ðoàn 196 để phụ giúp việc canh giữ các chiến lợi phẩm này. Về mặt chiến đấu, Tiểu Ðoàn 1/27 cũng nhận được chỉ thị là phải yểm trợ cho Lữ Ðoàn 196 trong trường hợp cần thiết.

Tiểu Ðoàn 1/27 của Thiếu Tá Guy S. "Sandy" Meloy được trao nhiệm vụ canh gác phi đạo ở Dầu Tiếng (sau này, Thiếu Tá Meloy trở thành một người hùng trong khi thi hành nhiệm vụ). Ngoài ra, trong các phi vụ hỗn danh "eagle flights" (những chuyến bay diều hâu), tiểu đoàn được trực thăng bốc thẳng vào vùng hành quân để thâu hồi những chiến lợi phẩm.

Ngày 1 tháng 11/1966, hai tiểu đoàn 2/1 và 4/31 lãnh nhiệm vụ canh giữ các kho thực phẩm của Việt Cộng và mở cuộc hành quân 3 km về phía Tây-Bắc Dầu Tiếng. Ngày 2 tháng 11, hai tiểu đoàn 2/1 và 4/31 tiếp tục cuộc hành quân truy lùng, còn Tiểu Ðoàn 1/27 thì thực hiện các phi vụ "eagle flights" với toán trực thăng bay vần vũ khoảng 3 km về phía Bắc vùng hoạt động của Tiểu Ðoàn 2/1 và 4/31.

Tháng 11 ngày 3, các sĩ quan hành quân thuộc Lữ Ðoàn 196 đưa ra kế hoạch mới để phối hợp sự hoạt động của cả 3 tiểu đoàn bộ binh. Theo kế hoạch này, Ðại Ðội B/1/27 (đọc là "Ðại Ðội B của Tiểu Ðoàn 1 thuộcTrung Ðoàn 27") lãnh nhiệm vụ án ngữ tại một vị trí nằm về phía Bắc của Quốc Lộ 19. Ở đây cây hoang và cỏ dại mọc rất nhiều, che phủ hết đoạn đường đi. Hai tiểu đoàn còn lại sẽ tiến quân dọc theo 4 trục lộ chánh để đi về hướng Bắc. Ðiểm xuất phát sẽ là từ những nơi có kho thực phẩm hay quân cụ của Cộng quân đã được tìm thấy, tức là độ chừng 4 cây số về phía Nam của Ðại Ðội B/1/27.

Thiếu Tá Meloy hết sức phản đối kế hoạch này. Ông cho rằng bản tường trình của kế hoạch lúc nghe thì thấy hay, và nhìn trên bản đồ thì các sự di chuyển đều tương đối dễ, nhưng thật sự không ai hiểu dùm sự di chuyển của bộ binh qua vùng rừng cây với cỏ dại mọc cao, chi chí và rậm rạp, là cả một vấn đề rất khó khăn. Nhất là các toán quân nhỏ có thể sẽ bị lạc vị trí mỗi khi các mệnh lệnh "quẹo trái, quẹo phải" không được thi hành đúng nơi hoặc đúng lúc.

Và đúng như sự lo ngại của Thiếu Tá Meloy. Trong khoảng thời gian 3 ngày khi cục diện bắt đầu biến chuyển thì kế hoạch hành quân này bắt đầu nứt rạn với các sơ hở sau đây:

  • Vài đại đội bị lạc đường, mất vị trí.
  • Khi tình hình cực kỳ khẩn trương, liên lạc vô tuyến giữa bộ chỉ huy tiểu đoàn và các sĩ quan hành quân lữ đoàn đã hầu như không có.
  • Trong giai đoạn cuối của trận chiến, một vị sĩ quan tiểu đoàn trưởng đã phải trực tiếp lèo lái hết thảy 11 đại đội, trong khi đó một vị tiểu đoàn trưởng khác lại chỉ "nắm" một toán quân thuộc bộ chỉ huy của ông mà thôi.

    Chín giờ sáng ngày 3 tháng 11, cuộc hành quân bắt đầu. Các tiểu đoàn 2/1 và 4/31 tấn công dọc theo 4 trục tiến quân chánh. Mỗi trục tiến quân được ghi danh hiệu như sau: Ðỏ, Xanh, Trắng và Tím. Vì gặp nhiều khó khăn trong địa thế, sự phối hợp giữa các đơn vị bộ binh này đã không được chặt chẽ.

    Chín giờ 22 phút, trong sai lầm của tín toán, hai đoàn trực thăng chở hai đại đội đã đáp xuống hai vị trí khác nhau. Thay vì bốc Ðại Ðội B/1/27 đến vị trí án-ngữ đã được chỉ định, đoàn trực thăng lại đưa đại đội này xuống một vùng đất nằm về phía Ðông. Trong khi đó, một toán trực thăng khác bốc Ðại Ðội C/1/27 đến một nơi khoảng 4 km về phía Tây của vị trí án-ngữ. Theo kế hoạch, cả hai đại đội này sẽ mở cuộc hành quân bắc-tiến để rồi sau đó bắt tay nhau.

    Chín giờ 50, bãi đáp an toàn, không một tiếng súng của địch quân. Ðoàn trực thăng đáp xuống và các binh sĩ thuộc Ðại Ðội C/1/27 nhào ra. Sau khi đi bộ khoảng 500 mét qua một vùng cỏ cao rậm rạp, đại đội này tạm thời dừng chân ở bìa rừng. Vị sĩ quan đại đội trưởng, Ðại Úy Frederick H. Henderson, cho toán trinh-sát đi vào khu rừng hướng Ðông-Bắc để tìm con đường mòn mà họ đã được chỉ định phải nương theo. Chỉ vừa đi được 400 mét về phía Bắc thì họ lọt vào ổ phục kích của Việt Cộng. Các vũ khí cá nhân và tự-động của địch quân nổ liên hồi. Và đây chỉ là một trận chạm súng trong nhiều trận chạm-súng khác sẽ xảy ra ở những ngày kế tiếp trong cuộc hành quân Attleboro. Thế rồi Ðại Ðội C/1/27 dừng lại ở đây, và họ không tiến quân xa hơn nữa. Trong khi đó ở Dầu Tiếng, Ðại Ðội A/1/27 vẫn tiếp tục thi hành nhiệm vụ giữ an ninh cho bãi đáp.

    Lúc đó, Tiểu Ðoàn 1/27 đã chạm trán với một đại đội trinh-sát thuộc Công Trường 9 Việt Cộng (ghi chú: "công trường," danh từ Cộng Sản dùng để chỉ định một đại đơn vị với quân số tương đương một sư đoàn). Ðại Ðội C/1/27 cố gắng thiết lập vị trí phòng thủ, đồng thời tính toán các việc di tản thương binh. Ðến 12 giờ 10, trong đại đội đã có 6 binh sĩ tử thương và 6 người khác bị thương, trong đó có cả Ðại Úy Henderson, vị sĩ quan đại đội trưởng. Trung Úy Billy B. Powers (chỉ huy Trung Ðội 2) lập tức lên thay thế và chỉ huy đại đội.

    Mười hai (12) giờ trưa, trực thăng chỉ-huy của Thiếu Tá Meloy bay vần vũ trên đầu. Khi con chuồn-chuồn sắt sà xuống cách mặt đất khoảng 5 feet (1 mét rưỡi), Thiếu Tá Meloy tung người nhảy ra. Ông chạy đến xem xét vết thương của Ðại Úy Henderson. Sau khi thăm hỏi viên đại úy bị thương, Thiếu Tá Meloy liên lạc với đoàn trực thăng "Hornets" (những con ong) do Thiếu Tá Jim Patterson (phụ tá hành quân) chỉ huy, và hạ lệnh phải di tản Ðại Úy Henderson cấp tốc.

    Trong khi đó, Việt Cộng vẫn giữ lợi thế trên chiến trường. Các tổ súng của họ bắn lên từ mặt đất, trong những bụi cỏ, sau những gốc cây mà trực thăng hoặc máy bay ở trên cao rất khó nhận diện. Một số xạ thủ Việt Cộng ẩn nấp trên cây cao (thân thể họ có dây quấn vào thân cây cao, không biết là họ bị thượng cấp dùng dây trói vào thân cây để không bỏ chạy, hay là để khi họ bị trúng đạn thì không rơi xuống đất). Những xạ thủ Việt Cộng này đã bắn tỉa khá chính xác, và đã gây nhiều thương vong cho các đơn vị Hoa Kỳ trong 3 ngày sau đó.

    Trong lúc Ðại Úy Henderson bị thương nặng và Thiếu Tá Meloy đích thân chỉ huy, các đơn vị Hoa Kỳ khác cũng đang tiếp tục đổ quân vào mặt trận này. (Sau đó Ðại Úy Henderson chết vì chiếc trực thăng di tản được gọi đến đã bị bắn rơi ngay trên bãi đáp).

    Lúc ấy, Ðại Ðội A/1/27 của Ðại Úy Richard B. Cole đang canh giữ phi đạo ở Dầu Tiếng đột nhiên nhận được lệnh cấp tốc đi tiếp ứng cho các đơn vị bạn. Theo chỉ thị, họ di chuyển bằng trực thăng đến một vị trí về phía Tây của Ðại Ðội C/1/27, rồi sau đó sẽ đánh vào sườn bên phải của đơn vị Cộng quân. Lúc 12 giờ 45, đoàn trực thăng thả Ðại Ðội A/1/27 xuống bãi đáp và họ bắt tay được với C/1/27. Chuẩn Tướng DeSaussure gọi Thiếu Tá Meloy và hỏi, "Anh cần thêm quân tiếp viện không?" Thiếu Tá Meloy đáp, "Dạ rất cần, trình chuẩn tướng!"

    Chuẩn Tướng Desaussure liền cử Ðại Ðội C/3/21 của Ðại Úy Russell DeVries lên đường tăng phái cho Tiểu Ðoàn 1/27. Từ hậu cứ ở Tây Ninh, đại đội này được trực thăng đưa đến Dầu Tiếng, rồi sau đó trực chỉ đến một địa điểm sát nơi đóng quân của Tiểu Ðoàn 1/27. Chiếc trực thăng đầu tiên đáp xuống chiến trường lúc 14 giờ 05, và toán quân cuối được chở đến vào lúc 15 giờ 15. Toàn thể đơn vị tăng phái này được lệnh tấn công ở sườn phía Ðông của C/1/27. Lúc 14 giờ 48, một toán quân của C/3/21 hoàn tất nhiệm vụ bắt tay với các binh sĩ của Tiểu Ðoàn 1/27.

    Trong khi mọi diễn tiến khác đã và đang xảy ra, lúc 9 giờ 21 sáng Ðại Ðội B/1/27 của Ðại Úy Robert P. Garrett được trực thăng thả xuống 4 km về phía Ðông của toàn thể tiểu đoàn. Sau đó đơn vị này di chuyển về hướng Tây-Bắc để tìm đến vị trí mà họ đã được chỉ định để đóng quân án ngữ. Bãi đáp trực an toàn, không có tiếng súng. Nhưng sau khi đi được vài cây số, Ðại Ðội B/1/27 tìm thấy một ngôi làng bỏ trống với nhiều công sự chiến-đấu và phòng-thủ của Cộng quân.

    Mười một (11) giờ 20, hai đại đội B và C của Tiểu Ðoàn 2/1 (do Thiếu Tá Ed Stevens chỉ huy) tấn công dọc theo trục lộ Ðỏ về phía Bắc và Tây-Bắc. Họ cố di chuyển đến vị trí án-ngữ theo như kế hoạch đã định. Giữa đường, gặp một tiền đồn phòng thủ của Việt Cộng với cả một vòng đai mìn Claymore, họ liền thanh toán mục tiêu. Lúc 16 giờ, Tiểu Ðoàn 2/1 nhận được lệnh đi tăng cường cho Tiểu Ðoàn 1/27. Các trực thăng liền bốc tiểu đoàn này đến một bãi đáp ở gần nơi đóng quân của 1/27.

    Mười Tám (18) giờ, Tiểu Ðoàn 2/1 di chuyển đến gần vị trí đã định, sau đó thiết lập một vòng đai phòng thủ về phía Nam để bảo vệ các đơn vị của Thiếu Tá Meloy. Khi hoàng hôn buông xuống, các thương binh được di tản ra khỏi vùng tử địa. Cuộc di tản này kéo đến khuya. Lợi dụng ban đêm, Việt Cộng mở vài cuộc thám kích nho nhỏ, nhưng không có đánh lớn.

    Tối hôm đó, phòng hành quân của Lữ Ðoàn 196 đưa ra chỉ thị mới cho ngày hôm sau:

  • Tiểu Ðoàn 1/27 sẽ tấn công về hướng Ðông-Bắc, nương theo con đường mòn cũ, sau đó đóng quân cách vị trí hiện tại chừng 2 km.
  • Ðại Ðội B/1/27 hành quân về hướng Tây dọc theo Liên Tỉnh Lộ 19, sau đó bắt tay với Tiểu Ðoàn 1/27.
  • Tiểu Ðoàn 2/1 đánh sang hướng Ðông, đi độ chừng 2 km, sau đó dừng quân (nơi này sẽ cách mục tiêu tiến-quân của Tiểu Ðoàn 1/27 khoảng 2 cây số về phía Ðông-Nam).
  • Ðại Ðội A/2/1 (có sĩ quan tiểu đoàn trưởng đi kèm, đã từng đánh dọc theo trục tiến quân Xanh qua một đoạn 4 km đường dài) mở cuộc tấn công về hướng Tây. Họ sẽ bắt tay với Tiểu đoàn 2/1 để liên kết hệ thống chỉ huy.
  • Tiểu Ðoàn 4/31 tấn công lên hướng Tây-Bắc, sau đó án ngữ tại một địa điểm cách mục tiêu hành quân của 1/27 và 2/1 chừng 1 km về hướng Ðông-Bắc.

    Mục tiêu của kế hoạch là ngăn chận sự chuyển quân của Công Trường 9 Việt Cộng về phía Tây-Nam, đồng thời tổng liên-kết các ban chỉ huy của Liên Ðoàn 196. Trong kế hoạch mới, các sĩ quan hành quân nhấn mạnh sự liên kết trong việc chỉ huy. Nhưng kết hoạch này cũng phạm vào sơ hở trong kế hoạch cũ là để cho các đơn vị ở cấp đại đội (và lại là những đại đội biệt-lập) tự di chuyển qua những vùng địa thế hiểm trở.

    Tám giờ sáng, 4 tháng 11/1966, Tiểu Ðoàn 4/31 rời chỗ đóng quân, di chuyển về hướng Tây-Bắc đến vị trí án ngữ. Họ không gặp sự kháng cự nào của địch quân. Ðại Ðội B/1/27 bắt đầu đi về hướng Tây để bắt tay với Tiểu Ðoàn 1/27. Ðột nhiên, Chuẩn Tướng DeSaussure ra lệnh cho đại đội này chuyển hướng để nhập vào với 4/31. Ðại Ðội A/2/1, cùng với vị sĩ quan tiểu đoàn trưởng, cũng di chuyển về hướng Tây để bắt tay cùng Tiểu Ðoàn 2/1.

    Lúc 10 giờ 40, Tiểu Ðoàn 2/1 bắt đầu hành quân về hướng Ðông. Ðể tránh mọi sự giao chiến "nhầm lẫn" với một đơn vị bạn, vị sĩ quan tiểu đoàn trưởng của 1/27 không cho cuộc tiến quân tiếp tục cho đến khi 11 giờ 40, để Tiểu Ðoàn 2/1 có thêm thời gian di chuyển xa hơn về phía Ðông.





    Tiểu Ðoàn 1/27 xuất phát với Ðại Ðội A/1/27 của Ðại Úy Cole dẫn đầu, kế đến là Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn, sau đó là Ðại Ðội C/3/21, còn C/1/27 đi đoạn hậu. Trong khu rừng rậm, lá cây dầy đặc che phủ trên cao tạo nên một vùng u tối. Toán quân A/1/27 đi đầu di chuyển được 200 yards (182 mét) thì giáp mặt với một hỏa lực hùng hậu của Bắc quân. Thiếu Tá Meloy lập tức cho hai đại đội C/3/21 và C/1/27 đánh qua bên trái của A/1/27 vì ông nhận thấy ở đó hỏa lực của địch quân tập trung mạnh mẽ nhất. Ðương nhiên, nếu sườn bên phải của lực lượng Cộng quân bị bứng gốc, thì các đơn vị Hoa Kỳ có thể tạo một thế mạnh để lật đổ vị trí phòng thủ của đối phương.

    Trong lúc thi hành nhiệm vụ trên, đột nhiên không hiểu vì sao một tiểu đội thuộc cánh quân của C/3/21 đánh vào sườn bên phải của A/1/27. Về sau này, Ðại Úy DeVries giải thích là người trung đội trưởng của Trung Ðội 2 đã không nhận rõ lệnh cấp trên qua máy truyền tin. Bởi lúc đó "tiếng súng đạn gầm thét liên hồi, kéo dài vài tiếng đồng hồ trong một khu rừng dầy đặc," nên người trung đội trưởng đã nhầm lẫn khi nghe chữ "bên trái" thành chữ "bên phải."

    Khi ấy, từ phía bên phải Trung Ðội 2 xông lên, vượt qua mặt Ðại Ðội A/1/27 để rồi đột nhiên đưa mình vào giữa vùng lửa đạn. Trung đội này chống trả dữ dội. Trung Sĩ tiểu-đội-trưởng Lester Armstrong (quê quán tại Molden, Missouri), giằng lấy khẩu súng trường tự động từ tay một đồng đội bị thương vừa ngã xuống. Chính anh đã đơn-thân độc-mã tấn công và sau đó tiêu diệt một lô cốt của Cộng quân. Với hành động can đảm đó, về sau này Trung Sĩ Armstrong được trao tặng huân chương Distinguished Service Cross.

    Trong 3 ngày lâm trận, ngoài Trung Sĩ Armstrong, một số binh sĩ khác trong trung đội cũng đã chiến đấu không kém phần dũng cảm. Hai huân chương Medals of Honor và một vài huân chương Distinguished Service Cross đã được trao cho các binh sĩ trong hai tiểu đoàn Wolfhound (tức là Tiểu Ðoàn 1/27 và 2/27).

    Khi cuộc xung phong táo bạo của Trung Sĩ Armstrong kết thúc, Trung Ðội 2 liền rút về đóng quân cùng với Ban Chỉ Huy Ðại Ðội. Sau đó, trung đội này tiếp tục di chuyển qua sườn bên trái của Ðại Ðội A/1/27 (như đã được chỉ định từ lúc ban đầu). Trong khi đó một trung đội khác thuộc C/1/27, đáng lý phải đi kèm bên hông trái của C/1/27, đã không tiến thêm được bước nào vì hỏa lực của Cộng quân bắn dữ dội quá. Ðể trám vào chỗ trống, viên đại đội trưởng của A/1/27 ra lệnh cho trung đội bên cánh phải lập tức quay ngược lại để bắt tay với trung đội "dậm chân" kia của C/1/27. Và cuộc bắt tay đã thành công.

    Lúc đó, các toán quân ở hiện trường cũng không có liên lạc gì với Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn 196. Tuy nhiên một phi cơ của Không Quân Hoa Kỳ bay trên cao đã ghi nhận được tình hình dưới đất. Các cuộc điện đàm trên chiến trường đã được viên phi công báo cáo về Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn. Sau này, trong quyển sách Ambush (Phục Kích), tác giả S. Marshall nhận định rằng chiếc trực thăng của vị sĩ quan chỉ huy trưởng của Lữ Ðoàn 196 đã thiếu hẳn các dụng cụ truyền tin tối tân để điều hành và đối phó trên một "chiến trường với quá nhiều tình huống biến đổi liên tục."

    (Còn tiếp)