Dấu Chân Chiến Mã (Phần 1)

Trần Đỗ Cẩm

Vì mục tiêu của bài viết chỉ giới hạn vào các hoạt động của Thiết Giáp trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 nên chúng tôi không nói nhiều về các trận đánh của những cánh quân khác, mà chỉ ghi lại những diễn tiến hành quân của Chiến Ðoàn 1 Ðặc Nhiệm là đơn vị hỗn hợp quân Dù và Thiết Giáp, đặc biệt về Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ.

Chúng ta cũng biết Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Hành Quân từng là một sĩ quan Thiết Giáp xuất thân trường Kỵ Binh Saumur lừng danh, còn Tướng Abrams, tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam cũng là một chiến sĩ Mũ Ðen nổi tiếng trong binh đội Patton thời Ðệ Nhị Thế Chiến. Vì vậy việc lựa chọn Thiết Giáp làm lực lượng xung kích đánh chiếm mục tiêu chính Tchépone tại Hạ Lào chắc có nhiều điều lý thú! Ðể dễ bề theo dõi, chúng tôi sẽ lần lượt mô tả từng giai đoạn chuyển quân, tiến quân, các cuộc đụng độ và sau cùng là giai đoạn rút quân của Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ.

Trước khi đi sâu vào chi tiết, tưởng cũng nên minh xác đôi điều để tránh những hiểu lầm đáng tiếc. Bài viết được căn cứ vào các tài liệu tác giả sưu tầm được, cùng một số lời thuật lại của các nhân chứng tham dự trận Hạ Lào. Tuy nhiên, vì thời gian xảy ra đã khá lâu, chúng tôi lại không được trực tiếp tham chiến nên chắc chắn có nhiều thiếu sót. Thành thật cáo lỗi cùng qúi độc giả, nhất là các chiến sĩ Mũ Ðen, về những sai lầm ngoài ý muốn.

Mục tiêu của chúng tôi khi viết bài này là để ghi lại một dấu mốc lịch sử, đồng thời tỏ lòng mến phục và tôn vinh các kỵ binh Mũ Ðen. Ước mong bài viết sẽ được độc giả bổ khuyết cho thêm đầy đủ, hoặc nếu được chính các chiến sĩ Thiết Giáp từng tham dự trận Hạ Lào cho biết ý kiến cùng những phê bình, nhận xét v.v. sẽ càng qúi hơn.

BỐI CẢNH LỊCH SỬ

Vào đầu năm 1971, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) cùng Bộ Tư Lệnh Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam quyết định tiến quân sang Hạ Lào để cắt đứt nguồn tiếp vận của Cộng Quân qua ngả đường mòn Hồ Chí Minh. Theo quan niệm hành quân, chiến dịch Hạ Lào năm 1971 được chia thành 4 giai đoạn chính. Trong giai đoạn 1, lực lượng Hoa Kỳ sẽ khai thông và giữ an ninh đường số 9 từ Ðông Hà tới Khe Sanh để mở đường và chuẩn bị cho lực lượng VNCH tiến sang Lào vào giai đoạn 2. Sau khi chiếm giữ những vị trí chiến lược trong phần đất Lào, trong giai đoạn 3, lực lượng tấn công sẽ càn quét và phá hủy các kho tiếp vận của Cộng quân tại khu hậu cần 604 quanh Tchépone. Giai đoạn 4 rút quân sẽ chọn một trong hai đường: một là rút thẳng về Việt Nam sau khi hoàn tất công tác phá hủy hậu cần 604, hai là sẽ lui quân về hướng Ðông Nam (theo giải pháp do Hoa Kỳ đề nghị) vừa đi vừa phá hủy thêm khu hậu cần 611 gần biên giới Việt Nam đối diện với thung lũng A Shau.

Về kế hoạch điều quân, nỗ lực chính sẽ là một lực lượng Thiết Giáp có bộ binh tùng thiết tiến theo đường số 9 hướng về mục tiêu chính Tchépone trong khi các lực lượng yểm trợ chiếm đóng một số những căn cứ hỏa lực (CCHL) dọc theo sườn Bắc và Nam đường số 9 để bảo vệ cho nỗ lực chính. Các trực trực thăng Hoa Kỳ sẽ được xử dụng để gia tăng tối đa di-động tính trong lúc hành quân.

Giai đoạn 1 khởi sự trong phần đất Việt Nam do Hoa Kỳ chịu trách nhiệm được đặt tên là Dewey Canyon 2. Các giai đoạn còn diễn ra bên Lào do Quân Lực VNCH đảm trách mang tên Lam Sơn 719 do Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Quân Ðoàn 1 chỉ huy. Theo qui ước, Lam Sơn là tên chung của các cuộc hành quân quan trọng của Quân Lực VNCH tại vùng 1, tương tự như Cửu Long tại Quân Ðoàn 4, Toàn Thắng tại Quân Ðoàn 3, v.v. Số 71 là năm khai diễn và số 9 là khu vực hành quân, tức là đường số 9 nối liền Ðông Hà với tỉnh Savanakhet bên Lào.

Vì đường số 9 là trục tiến quân chính của Quân Lực VNCH và những trận đánh quan trọng đều xảy ra trong vùng lân cận nên cần biết qua về trục lộ quan trọng này.

SƠ LƯỢC VỀ ÐƯỜNG SỐ 9

Đường số 9 chạy theo hướng Ðông-Tây, cắt ngang lãnh thổ miền Trung song song với khu phi quân sự trong phần đất Việt Nam và xuyên qua vùng Hạ Lào. Tại đầu cực Đông, con đường khởi đi từ Quốc Lộ 1 tại Ðông Hà, một thị trấn quan trọng thuộc tỉnh Quảng Trị, cách vùng phi quân sự chừng 20 cây số (12.4 miles) về phía Nam và thông ra biển Ðông bằng sông Cửa Việt. Từ Ðông Hà, đường số 9 chạy về hướng Tây, xuyên qua vùng đất tương đối bằng phẳng khoảng mươi cây số (6.2 miles) tới Cam Lộ, sau đó bắt đầu lên dốc đi vào vùng cận sơn quanh co qua một số căn cứ quân sự quan trọng như Rockpile, Vandergrift (Cà Lu) v.v. cho tới đèo Ai Lao tại cây số 63. Từ đây tới biên giới, con đường đổ dốc qua Khe Sanh tại cây số 65 rồi xuyên qua Làng Vei, Lao Bảo sát biên giới Lào-Việt tại cây số 83.

Rời Việt Nam, đường số 9 vào nội địa Lào dọc theo thung lũng sông Sepone theo bờ Bắc, hai bên có rặng núi đá cao và một số bản làng của người Thượng. Bản Ðông tại cây số 103 là vị trí nổi bật vì là giao điểm với đường 92 chạy theo hướng Bắc-Nam. Xa hơn nữa chừng 20 cây số (12.4 miles) về hướng Tây là thị trấn Tchépone thuộc tỉnh Savanakhet, giao tuyến của các trục lộ chính thuộc vùng thung lũng các sông Sepone và Cửu Long. Sau Tchépone, đường số 9 đi qua một vùng đồng bằng chừng 100 cây số (62 miles) cho tới Muong Phine, nơi khởi đầu đường 23 đi Saravane, sau đó tới Phalane cách Tchépone chừng 100 (62 miles) cây số.

Qua Phalane, đường số 9 chạy vào vùng nhiều ruộng lúa dân cư đông đúc, qua Dong Hen, rồi Seno nơi có đường 13 nối liền các thị trấn quan trọng bên bờ Ðông sông Cửu Long như Luang Prabang, Vientiane, Thakkhet, Pakse thuộc Lào và Stung Streng và Kratié bên Cam Bốt. Khi tới điểm chót cực Tây là Savanakhet nằm trên bờ sông Cửu Long, tổng cộng đường số 9 chạy dài 328 cây số (203 miles) kể từ Ðông Hà.





Ðường số 9 được xây cất từ thời Pháp thuộc và không được xử dụng nhiều kể từ Ðệ Nhị Thế Chiến. Vào năm 1946, một đoàn quân xa Pháp xử dụng đường này từ Việt Nam tiến sang Lào để tái lập nền thuộc địa. Thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bắt đầu tu bổ đường số 9 để nhằm cộng tác chặt chẽ với Vương Quốc Lào để ngăn chặn sự bành trướng của Cộng Sản, nhưng gặp sự cản trở đáng kể của Việt Cộng lúc đó cũng muốn kiểm soát trục lộ chiến lược này để phát triển đường mòn Hồ Chí Minh. Vì vậy, an ninh tại đường số 9 giảm dần khiến việc tu bổ phải đình hoãn.

Cho tới năm 1964, đường số 9 chỉ còn là một con lộ đất nhỏ gồ ghề vừa một chiếc xe đi, chỉ có quân xa mới qua lại được. Ðầu năm 1967, Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Hoa Kỳ quyết định mở lại đường số 9 để tiếp vận cho Khe Sanh. Ngoại trừ đoạn đầu từ Ðông Hà tới Cà Lu, tức khoảng nửa đường tới Khe Sanh, được rải đá, tráng nhựa, phần còn lại vẫn còn là đường đất hẹp, xe cộ chỉ chạy được một chiều. An ninh cũng không được khả quan vì cầu cống thường bị Cộng Sản phá hoại hay phục kích mặc dầu hai bên đường đã được khai quang sâu chừng 200 thước (218 yards).

Mùa hè năm 1967, một đoàn quân xa Hoa Kỳ dự tính di chuyển đại bác hạng nặng 175 ly ra Khe Sanh gần biên giới, nhưng cũng chỉ đi được tới Cà Lu đã phải ngưng lại. Sau chuyến tiếp vận bằng đường bộ chót của Hoa Kỳ ra Khe Sanh vào ngày 3 tháng 8 năm 1967, đường số 9 coi như bỏ ngỏ.

Tới năm 1968 căn cứ Khe Sanh bị vây, Hoa Kỳ phải mở cuộc hành quân Pegasus để khai thông, đoạn đường từ Cà Lu tới Khe Sanh hầu như cần hoàn toàn làm lại. Tiểu Ðoàn 7 Công Binh Hoa Kỳ phải san bằng nhiều nơi đất đá lở sụp hoặc lỗ hang bom đạn, bắc lại 10 cây cầu và sửa chữa 3 cầu khác. Một số tài xế quân xa cho biết, "Ðường số 9 khúc từ Cà Lu tới Khe Sanh thật ra chỉ là một đoạn đường đất hẹp, nhiều chỗ cành cây de ra đường, đụng cả vào mặt." Sau khi Hoa Kỳ rút khỏi căn cứ Khe Sanh và Lực Lượng Ðặc Biệt bỏ Làng Vei rút về Mai Lộc, đường số 9 lại bị bỏ ngỏ mộ lần nữa từ Cà Lu trở đi.

LAM SƠN 719 - KẾ HOẠCH ÐIỀU QUÂN

Để tiện việc theo dõi, chúng tôi mạn phép được giải thích một số qui ước dùng trong bài này. Về ngày tháng, nếu không đề năm, xin được hiểu là năm 1971 vì cuộc hành quân Lam Sơn 719 xảy ra nào năm này. Về giờ, chúng tôi dùng múi giờ Golf (GMT +7 ) là giờ miền Nam Việt Nam (miền Bắc dùng múi giờ Hotel, GMT +8, tức là nhanh hơn giờ G một tiếng đồng hồ).

Trong thời gian khai diễn cuộc hành quân Lam Sơn 719, Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 1 đóng tại Ðà Nẵng, Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Ðoàn 1 đóng tại Ðông Hà. Do hiệu lực của đạo luật Cooper - Church (tên hai Thương Nghị Sĩ Hoa Kỳ đồng tác giả của đạo luật), quân bộ chiến Hoa Kỳ không được tham chiến ngoài lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa nên Quân Ðoàn XXIV của Hoa Kỳ tại Vùng 1 Chiến Thuật do Thiếu Tướng Sutherland chỉ huy chỉ giữ vai trò yểm trợ, tiếp vận và hoạt động trong phần đất Việt Nam.

Lực Lượng Việt Nam Cộng Hòa tham chiến gồm Sư Ðoàn 1 Bộ Binh (tham chiến không trọn quân số), Sư Ðoàn Nhảy Dù, Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến. Ngoài ra, còn có Liên Ðoàn 1 Biệt Ðộng Quân (BÐQ), Pháo Binh (PB) và Thiết Giáp (TG) cơ hữu thuộc Quân Ðoàn 1. Theo kế hoạch hành quân, Quân Lực VNCH tiến qua Lào bằng 3 mũi tấn công chính với các đơn vị sau đây.





LỰC LƯỢNG ÁN NGỮ SƯỜN BẮC

Lực lượng án ngữ sườn Bắc do Liên Ðoàn 1 BÐQ dưới quyền chỉ huy của Ðại Tá Nguyễn Văn Hiệp, gồm các Tiểu Ðoàn 21, 37 và 39 đảm trách, có nhiệm vụ che chở sườn cực Bắc cho lực lượng xung kích. Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 1 BÐQ đóng tại Phú Lộc (Tà Bạt) cùng với Tiểu Ðoàn 37. Các Tiểu Ðoàn 39 chiếm mục tiêu Biệt Ðộng Quân Bắc và Tiểu Ðoàn 21 chiếm Căn Cứ Biệt Ðộng Quân Nam tại khu cực Bắc khu vực hành quân.

LỰC LƯỢNG XUNG KÍCH

Lực lượng xung kích gồm toàn bộ Sư Ðoàn Nhảy Dù cùng với Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ (TK) tăng phái. Lực lượng này có nhiệm vụ tiến chiếm mục tiêu chính Tchépone, một thị trấn nằm trên đường số 9, cách biên giới Lào-Việt chừng 40 cây số (25 miles). Trung Tướng Dư Quốc Ðống, Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù chia quân làm 3 thành phần chính sau đây.

Thành phần yểm trợ mặt Bắc do Lữ Đoàn 3 Dù gồm có các Tiểu Ðoàn 2, 3 và 6 dưới quyền chỉ huy của Ðại Tá Nguyễn Văn Thọ, có nhiệm vụ thiết lập một số căn cứ hỏa lực sát mặt Bắc đường số 9 để yểm trợ cho nỗ lực chính. Sau các căn cứ của Biệt Ðộng Quân xa hơn về phía Bắc, các căn cứ hỏa lực của Nhảy Dù là lớp khiên thứ 2 che chở sườn Bắc vì ước tính đa số lực lượng tăng viện địch sẽ được điều động tới từ Vùng Phi Quân Sự.

Nỗ lực chính do Chiến Ðoàn 1 Ðặc Nhiệm đảm trách, gồm Lữ Ðoàn 1 Dù và Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ tăng phái, có nhiệm vụ tiến dọc đường số 9 tiến về hướng Tây để chiếm mục tiêu chính Tchépone. Lữ Ðoàn 1 Dù gồm các Tiểu Ðoàn 1, 8 và 9 do Ðại Tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy. Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ gồm các Thiết Đoàn 10, 11 và 17 do Ðại Tá Nguyễn Trọng Luật chỉ huy. Tuy đây là một cánh quân của Sư Ðoàn Dù vì Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ chỉ là một đơn vị tăng phái, nhưng vì Ðại Tá Nguyễn Trọng Luật thâm niên (mang cấp bậc đại tá trước) hơn Ðại Tá Lê Quang Lưỡng nên cánh quân hỗn hợp Dù và Thiết Giáp này được đặt dưới quyền chỉ huy của Ðại Tá Nguyễn Trọng Luật.

THÀNH PHẦN TRỪ BỊ

Thành phần trừ bị do Lữ Ðoàn 2 Nhảy Dù gồm các Tiểu Ðoàn 5, 7 và 11 do Ðại Tá Trần Quốc Lịch chỉ huy có nhiệm vụ nhảy trực thăng vào Tchépone khi Chiến Ðoàn 1 Ðặc Nhiệm khai thông được đường số 9 và tiến gần tới thị trấn mục tiêu này.

LỰC LƯỢNG ÁN NGỮ SƯỜN NAM

Lực lượng án ngữ sườn Nam do Sư Ðoàn 1 Bộ Binh dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Đại Tá Vũ Văn Giai làm tư lệnh phó, gồm các Trung Ðoàn 1 và 3 đảm trách, có nhiệm vụ tảo thanh mặt Nam đường số 9 để bảo vệ sườn Nam cho thành phần Xung Kích.

LỰC LƯỢNG TRỪ BỊ

Lực lượng trừ bị gồm Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến với các Tiểu Ðoàn Pháo Binh cơ hữu đóng tại Khe Sanh trong giai đoạn đầu, sau này được tung vào trận địa thay thế quân Sư Ðoàn 1 Bộ Binh (BB) tại sườn Nam để cánh quân Bộ Binh rảnh tay đánh chiếm Tchépone.

GIAI ÐOẠN CHUYỂN QUÂN

Tuy được chọn là thành phần xung kích chính, nhưng vì lý do bảo mật, Ðại Tá Nguyễn Trọng Luật không được mời tham dự những buổi thuyết trình trong giai đoạn chuẩn bị. Mãi đến ngày 5 tháng 2 năm 1971, ông mới được thông báo về cuộc hành quân bằng điện thoại tại Bộ Chỉ Huy ở Ðà Nẵng. Như vậy, Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ chỉ có vỏ vẹn 3 ngày để chuẩn bị và di chuyển tới điểm tập trung Khe Sanh.

Ðại Tá Luật được lệnh cùng Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn và Thiết Ðoàn 17 di chuyển bằng đường bộ tới Ðông Hà. Tại đây đã có các đơn vị Thiết Giáp khác chờ sẵn cùng nhập đoàn di chuyển tới Khe Sanh. Ðây là lần đầu tiên Ðại Tá Luật được trao phó một nhiệm vụ quan trọng trong một chiến dịch lớn, mặc dầu trước đây ông đã từng nổi tiếng trong trận Pleime vào năm 1965 và rất được các cố vấn thiết giáp Hoa Kỳ nể phục.

Với một lực lượng chiến xa, thiết giáp và các xe yểm trợ tổng cộng gần 200 chiếc, Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ phần lớn gồm các Thiết Ðoàn 10, 11 và 17 vào trận Hạ Lào với một khí thế dũng mãnh. Từ cấp chỉ huy cho tới các binh sĩ, mọi người đều tin tưởng toán quân Mũ Ðen sẽ đạt đươc nhiều chiến tích, nhất là khi nghe tin tình báo Cộng quân không có thiết giáp tại Hạ Lào. Nhưng ngay từ lúc khởi đầu, ngoài trở ngại chính thiếu thì giờ chuẩn bị, còn có một số các trục trặc bất ngờ khác như những dấu hiệu tiên đoán tương lai không mấy sáng sủa của lữ đoàn thiết kỵ tại Hạ Lào.

TRỞ NGẠI VỀ TIẾP VẬN

Sáng sớm ngày 6 tháng 3, toán Thiết Giáp được lệnh di chuyển từ Ðông Hà theo đường số 9 đến căn cứ Hàm Nghi gần Khe Sanh. Phía Hoa Kỳ đảm trách việc tiếp vận yêu cầu đoàn xe dừng lại tại căn cứ Vandergrift (Cà Lu) là điểm tiếp vận lớn có nhiều xăng nhớt ở dọc đường để tiếp tế nhiên liệu. Lý do vì lúc đó đường bộ tới Khe Sanh chưa được hoàn toàn khai thông nên nhiên liệu tại Khe Sanh rất hiếm vì phải chở đến bằng trực thăng, do đó chỉ được xử dụng trong trường hợp khẩn cấp.

Nhưng không rõ vì lệnh lạc thiếu rõ rõ ràng hay bất đồng ngôn ngữ hoặc lý do gì, Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ đã không ngừng tại căn cứ Vandergrift như đã phía Hoa Kỳ yêu cầu mà lại đi thẳng tới Khe Sanh. Khi đến được điểm đồn quân Hàm Nghi, đoàn xe đã gần cạn nhiên liệu. Trước tình trạng đã rồi, phía Hoa Kỳ không còn cách nào hơn phải cấp tốc dùng số nhiên liệu khẩn cấp tại Khe Sanh, đồng thời huy động trực thăng gấp rút chở nhiên liệu tiếp tế.

Dĩ nhiên điều này đã gây trở ngại không ít cho cơ quan tiếp vận Hoa Kỳ nên chúng ta chẳng ngạc nhiên khi thấy Tướng Sutherland, Tư Lệnh Quân Ðoàn XXIV Hoa Kỳ rất bất mãn. Ông cho rằng một sĩ quan kỵ binh có khả năng phải biết rõ việc tiếp tế nhiên liệu là vấn đề quan trọng sinh tử hàng đầu của lực lượng thiết giáp.





Theo tài liệu Hoa Kỳ, Tướng Sutherland đã than phiền với Tướng Lãm và ngỏ ý muốn truất quyền chỉ huy của Ðại Tá Luật, nhưng Tướng Lãm cũng là một sĩ quan Thiết Giáp, đã ít nhiều biết khả năng của Ðại Tá Luật nên không đồng ý. Chuyện Hoa Kỳ không được vừa ý tưởng cũng dễ hiểu vì quả thật, việc không cho đoàn xe gần 200 chiếc ngừng lại Vandergrift là một căn cứ tiếp vận lớn có đầy đủ nhiên liệu để nhận tiếp tế là một lỗi lầm cơ bản về mặt tiếp vận, nhưng chắc chắn một sĩ quan Thiết Giáp nhiều kinh nghiệm như Ðại Tá Luật phải có có lý do chính đáng, không phải chỉ là một sơ sót tình cờ.

Rất có thể Ðại Tá Luật muốn đoàn xe được tiếp tế đầy nhiên liệu tại Khe Sanh, ngay trước khi thực sự hành quân sang Lào thay vì tiếp tế tại Vandergrift là một điểm giữa đường, khi tới Khe Sanh nhiên liệu đã hao hụt một phần. Nhưng dù sao cho tới ngày này, vẫn chưa thấy một tài liệu nào nói rõ lý do tại sao hoặc giải thích thỏa đáng về "biến cố nhiên liệu" này. Rất mong chúng ta sẽ sớm có câu trả lời thỏa đáng từ các chiến sĩ Thiết Giáp hay chính Ðại Tá Luật.

MÁY BAY HOA KỲ DỘI BOM LẦM

Buổi chiều cùng ngày, sau khi nhận tiếp tế đầy đủ tại Khe Sanh, khi qua khỏi Lang Vei, Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ cùng Tiểu Ðoàn 8 Nhảy Dù thuộc Lữ Ðoàn 3 dừng chân tại một khu đồi thấp ngay cạnh đường số 9 sát biên giới Lào-Việt để đóng quân nghỉ qua đêm. Toán chiến xa dẫn đầu thuộc Thiết Ðoàn 11 do Trung Tá Bùi Thế Dung chỉ huy quây lại thành hình cánh cung để thiết lập vị trí phòng thủ. Trong khi binh sĩ đang chuẩn bị bữa cơm chiều, đột nhiên có tiếng rít của phản lực cơ nhào xuống cùng với hai tiếng nổ lớn tiếp theo là nhiều đốm lửa và tiếng nổ phụ nhỏ trên không giống như pháo bông. Cảnh hỗn loạn lập tức diễn ra tại nơi đóng quân. Nhiều người chết và bị thương nằm la liệt trên mặt đất. Sau khi tình hình tạm lắng dịu và trực thăng tải hết thương binh, mọi người mới tìm ra sự thật, đó là phi cơ Hoa Kỳ thả bom lầm.

Nhật ký hành quân ghi lại biến cố đáng tiếc này như sau. Vào buổi chiều ngày 6 tháng 2, hồi 19 giờ 20 phút, một phản lực cơ Hải Quân Hoa Kỳ thuộc mẫu hạm Ranger ngoài biển Ðông trong một phi vụ "Skyspot" đã thả lầm hai quả bom CBU vào vị trí dừng quân của Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ. Tổng cộng thiệt hại có 5 quân nhân chết, 51 bị thương và một thiết vận xa bị thiêu hủy. Thiếu Tá Ðào Thiện Tuyển (tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 8) bị thương phải đưa về bệnh viện trước khi nhập trận Hạ Lào.

Tưởng cũng nên nói rõ "Skyspot" là ám danh của những phi vụ thả bom do những giàn radar dưới đất hướng dẫn, phi công không cần nhìn rõ mục tiêu, thường được xử dụng khi thời tiết xấu. Bom CBU (Cluster Bomb Unit) thường được gọi nôm na là bom "bi" vì khi thả, vỏ bom tách ra làm hai, tung ra hàng trăm "bom nhỏ" (bomblet hay BLU – Bomb Live Unit) như trái tạc đạn. Các bom nhỏ này sau đó có thể điểu chỉnh nổ trên không hay trên mặt đất như một tràng pháo để sát hại người hay chiến xa.

CHIẾN XA VƯỢT BIÊN VÀO HẠ LÀO

Ðúng 7 giờ 00 phút sáng ngày 8 tháng 2, các chiến xa cùng quân Dù tùng thiết thuộc Chiến Ðoàn 1 Ðặc Nhiệm vượt biên giới Lào-Việt trên đường số 9 gần Lao Bảo dưới sự yểm trợ của các trực thăng võ trang thuộc Sư Ðoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ, chính thức mở đầu cuộc hành quân Lam Sơn 719. Khoảng 8 giờ sáng, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu xác nhận trên đài phát thanh Saigon.

"...Ðây là một cuộc hành quân có giới hạn trong thời gian lẫn không gian, với mục tiêu duy nhất và rõ rệt là phá vỡ hệ thống tiếp vận và xâm nhập của Cộng Sản Bắc Việt trên phần đất Lào mà chúng đã chiếm đóng và xử dụng từ nhiều năm nay để tấn công vào Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Ngoài ra, Việt Nam Cộng Hòa không có một tham vọng đất đai nào tại Lào và không khi nào xen vào nội bộ chính trị của vương quốc Lào vì Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn tôn trọng nền độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của vương quốc Lào…"

Dưới thời tiết giá lạnh vào những ngày đầu năm của rừng núi Hạ Lào, đường số 9 lồi lõm quanh co uốn khúc như một con rắn lớn xuyên qua những bờ cây dầy đặc sương mù phủ kín. Các chiến sĩ Mũ Ðen co ro trong những tấm poncho, cổ quấn khăn choàng chăm chú nhìn về phía trước quan sát hai bên ven đường. Tuy trục tiến quân gian nan hiểm trở chẳng khác nào "sạn đạo" nơi đất Thục, nhưng các chiến sĩ Thiết Giáp cũng như quân Dù tùng thiết đều lạc quan và tin tưởng vào chiến thắng sau cùng.

Càng vào sâu trong phần đất Lào, đường càng xấu. Nhiều lúc toán Công Binh tháp tùng phải dùng xe ủi đất san bằng những mô đất, hố bom, hoặc bắc những cây cầu tạm thời, đoàn xe mới tiến được. Tuy gọi là "đường số 9" nhưng vì bị bỏ hoang từ lâu nên nhiều đoạn đã bị nước xoi lở hoặc cây cối mọc lan ra như rừng dầy đặc nên việc khai thông rất khó khăn.





Ðến chiều cùng ngày, dù gặp nhiều gian nan trắc trở, nhưng cánh quân Lữ Ðoàn 1 Ðặc Nhiệm cũng đã tiến sâu vào phần đất Lào được khoảng 9 cây số (5.6 miles), trung bình mỗi giờ đi được 1 cây số (khoảng 0.6 mile). Tuy đây là con số rất khiêm nhượng cho một toán cơ giới, nhưng lại là một tiến bộ rất đáng kể so với địa thế hiểm trở tại Hạ Lào. Trong lúc đó, tại những mặt trận khác dọc theo mặt Bắc và Nam đường số 9, các cánh quân bạn cũng đã thiết lập xong một số căn cứ hoả lực (CCHL) để bảo vệ cạnh sườn như đã dự trù.

Qua ngày hôm sau 9 tháng 2, mặc dù thời tiết rất xấu gây trở ngại cho việc chuyển quân bằng trực thăng của các cánh quân khác, nhưng toán Thiết Giáp vẫn tiến đều trên đường số 9 nhắm vào mục tiêu ám danh "A Lưới" tức địa danh Bản Ðông nơi đường số 9 chạy theo hướng Ðông Tây gặp trục lộ 92 chạy theo hướng Bắc-Nam, khoảng nửa đường từ biên giới Lào-Việt tới Tchépone trên bản đồ hành quân. Tưởng cũng nên biết thật ra "A Lưới" là một địa danh thuộc thung lũng Ashau nằm trong phần đất Việt Nam, phía Tây-Nam Huế, nhưng các nhà thiết kế cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã cố tình dùng địa danh này để đặt tên cho một mục tiêu trên phần đất Lào nhằm đánh lạc hướng cũng như khiến địch quân hoang mang không biết cuộc tiến quân thực sự xảy ra tại đâu.

Trên một chiếc xe vận tải chở đầy đồ tiếp liệu, có anh phóng viên ngoại quốc gốc Nhật tên Akihiko Okamura làm việc cho tờ tuần báo Time lén đi theo đoàn quân. Vì các phóng viên ngoại quốc bị cấm không được đi theo sang Lào, anh Okamura là người duy nhất có dịp ghi lại trung thực những hoạt động của toán Thiết Giáp.

Khi chiếc xe vận tải ngừng lại ở khúc đầu đoàn xe, họ đang ở sâu chừng 9 cây số (5.6 miles) trên đường số 9 trong phần đất Lào. Anh Okamura nhảy ra khỏi chiếc xe vận tải rồi leo lên chiếc Thiết Vận Xa ở vào vị trí số 3 trong hàng. Anh ta ghi lại nhận xét cho thấy tinh thần quân sĩ rất cao, trang bị đầy đủ. Ðoàn viên chiếc Thiết Vận Xa tỏ ra rất ân cần, thân mật. Toán quân Dù tùng thiết cũng rất tự tin và có kỷ luật. Tất cả đều di chuyển thận trọng nhưng vẫn chuyện trò vui vẻ.

Có lúc đoàn xe đi vào một đoạn đường rất hẹp vì đã không có xe cộ qua lại lâu ngày nên cây cối mọc um tùm, hai bên đường tre gai và dây leo mọc đầy đặc như bức tường thành. Ðoàn xe thiết giáp có lúc phải ngừng lại để khai thông trước khi xuyên qua khu hành lang đầy cây cối. Mỗi khi di chuyển cắt ngang một nhánh đường mòn băng qua đường số 9, lính Dù tùng thiết trên xe lại nhảy xuống, chỉ trỏ và la lớn "Ðường mòn Hồ Chí Minh, đường mòn Hồ Chí Minh".

Ðêm hôm đó, đoàn xe hạ trại ngay trên đường số 9, một số binh sĩ mời anh Okamura dùng bữa tối. Mọi người đếu nóng lòng mong sớm tới mục tiêu A Lưới. Anh Okimura nhận xét những người lính trẻ trong đoàn thiết giáp đều vui vẻ, cởi mở và coi bộ ưa thích bộ đồ nghề nhiếp ảnh anh mang theo và hỏi anh giá cả. Anh ta nói đùa: "Nếu tôi chẳng may bị chết, các anh có thể giữ những đồ nghế này, nhưng bây giờ tôi còn cần chúng để kiếm cơm." Họ chuyện trò đến khuya rồi ngủ thiếp đi dưới gầm xe trong tiếng trọng pháo yểm trợ ì ầm của Quân Lực VNCH.

CHIẾM ÐÓNG A LƯỚI

Sang ngày 10 tháng 2, Tiểu Ðoàn 9 Nhảy Dù được trực thăng vận tới A Lưới, một địa điểm trên đường số 9 cách biên giới Lào-Việt chừng 20 cây số (12.4 miles). Mặc dầu hỏa lực phòng không địch bắn lên khá mạnh, các trực thăng vẫn hoàn tất nhiệm vụ đưa các chiến sĩ Dù mau chóng nhảy vào mục tiêu và chiếm lĩnh trận địa trong vòng 20 phút. Hai tiếng đồng hồ sau, các chiến xa dẫn đầu của Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ bắt tay được với Tiểu Ðoàn 9 Nhảy Dù. Như vậy, Chiến Ðoàn 1 Ðặc Nhiệm đã chiếm được một đầu mối giao thông quan trọng trong hệ thống giao thông đường mòn Hồ Chí Minh chỉ sau hai ngày hành quân.

Tin Chiến Ðoàn 1 Ðặc Nhiệm đã chiếm được A Lưới không mấy khó khăn đã khiến các cấp chỉ huy Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ rất lạc quan. Khi Ðại Tá Phan Hòa Hiệp và Ðại Tá Raymond R. Battreall, Cố Vấn Trưởng Thiết Giáp ra tới Khe Sanh thì Chiến Ðoàn 1 Ðặc Nhiệm gồm Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ và Lữ Ðoàn 1 Dù đã chiếm được A Lưới. Tuy đây là một thành quả rất khích lệ nhưng Ðại Tá Battreall vẫn không yên tâm về khái niệm xử dụng Thiết Giáp trong trận Hạ Lào. Là một sĩ quan Thiết Giáp kỳ cựu từng có mặt trong những trận xa chiến gay go thời đệ nhị thế chiến, Ðại Tá Battreall rất thấu hiểu, mến phục và gần gũi các binh sĩ Việt Nam. Ông cũng nhận xét rằng vì đa số người Mỹ chỉ có dịp tiếp xúc với thành phần cặn bã, thiếu văn hóa của xã hội Việt Nam nên thường đánh giá sai lầm và nhất là không hiểu người Việt cũng như những sự thật về cuộc chiến.

Tại Khe Sanh, sau khi duyệt xét tình hình, Ðại Tá Battreall tỏ ra rất quan ngại đến lực lượng Thiết Giáp đang án binh bất động tại A Lưới. Lý do không phải vì khả năng tác chiến của các chiến sĩ Mũ Ðen, mà ngược lại, ông cho rằng họ đều là những binh sĩ thiện chiến hàng đầu và các cấp chỉ huy như Ðại Tá Hiệp, Ðại Tá Luật, Trung Tá Dung v.v. đều có đầy đủ khả năng. Nhưng Ðại Tá Battreal lo ngại vì kế hoạch hành quân không được chu đáo và nhất là lệnh không cho phép cố vấn Hoa Kỳ đi theo vào Hạ Lào, ngay cả việc dùng trực thăng bao vùng để theo dõi hoạt động hoặc quan sát địa thế hay vị trí đóng quân cũng bị nghiêm cấm. Ngoài ra, Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp còn quan ngại về những vấn đế quan trọng sau đây.

Tăng Phái và Tiếp Vận

Theo quan niệm hành quân của Hoa Kỳ, "tăng phái" không chỉ có nghĩa là đặt dưới quyền điều động hành quân, mà còn bao gồm cả việc yểm trợ và tiếp vận. Như vậy, khi Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ được "tăng phái" cho Sư Ðoàn Nhảy Dù, lực lượng Dù có nhiệm vụ lo việc tiếp tế cho đoàn Thiết Giáp. Nhưng đối với Quân Lực VNCH, "tăng phái" không phải đương nhiên bao gồm luôn vấn đề tiếp vận, nên rất có thể Sư Ðoàn Nhảy Dù không dự trù đảm trách việc tiếp tế cho Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ.

Ðối với các xe Thiết Giáp, tiếp tế, nhất là nhiên liệu là tầm quan trọng hàng đầu vì thiếu xăng nhớt, ưu điểm lưu động sẽ bị mất đi, các chiến xa sẽ chỉ còn là những ụ cát cố định, làm mồi cho hỏa lực địch. Sư Ðoàn Nhảy Dù còn phải lo cho các đơn vị cơ hữu, lại chưa có nhiều kinh nghiệm đối với các nhu cầu của Thiết Giáp, làm sao bảo đảm việc tiếp tế được chu đáo? Hơn nữa, đoạn đường từ Căn Cứ Hỏa Lực Bravo tới A Lưới rất quanh co hiểm trở, chỉ có cơ giới chạy bằng giây xích mới có thể vượt qua, vì vậy các xe vận tải tiếp tế không thể nào đi tới A Lưới được. Việc tiếp tế cho A Lưới do đó phải hoàn toàn tùy thuộc vào trực thăng Hoa Kỳ, không phải chuyện dễ dàng.

An Ninh Lộ Trình

Một trong những nhiệm vụ của Sư Ðoàn Nhảy Dù là bảo vệ an ninh lộ trình trên đường số 9 để toán Thiết Giáp dễ bề hoạt động. Ðối với Hoa Kỳ, điều này có nghĩa là rải quân tuần tiễu để các chiến xa di chuyển an toàn, không bị địch quân đặt mìn, phục kích. Ngoài ra, còn phải sửa sang đường lộ để xe cộ có thể di chuyển được. Nhưng quân Dù, ngoài việc cung cấp một số quân tùng thiết, chỉ thiết lập các Căn Cứ Hỏa Lực Bravo và Alpha giữa biên giới và A Lưới để yểm trợ bằng pháo binh khi cần, lại không có khả năng sửa chũa đường xá nên an ninh lộ trình sẽ không sao tránh khỏi thiếu sót.





Thiếu Chủ Ðộng

Nhiệm vụ chính của Chiến Ðoàn 1 Ðặc Nhiệm là tiến dọc theo đường số 9 đánh thẳng vào mục tiêu Tchépone. Lực lượng này đã đi được nửa đường, chiếm đóng A Lưới không mấy khó khăn chỉ sau hai ngày hành quân với lực lượng gần như được bảo toàn. Nhưng sau đó, mũi nhọn quan trọng này dường như án binh bất động, không tiến xa và nhanh hơn về hướng Tchépone. Ðã đành càng đi xa càng gặp nhiều khó khăn về tiếp vận, cũng như địch quân phản ứng mạnh hơn bằng những cuộc phục kích hay phá đường xá cầu cống để trì hoãn cuộc tiến quân, nhưng dường như thượng cấp cũng như các cấp chỉ huy tại chỗ không tìm ra biện pháp thích ứng để giải quyết tình thế, hoặc thờ ơ thụ động trong việc tận dụng yếu tố bất ngờ để nắm phần chủ động hoặc khai thác sở trường "đánh mạnh đánh mau" của Thiết Giáp.

Chiến Xa Bắc Việt

Tin tình báo của Hoa Kỳ trước đây cho biết địch quân không có chiến xa tại Hạ Lào và chiến xa địch từ nơi khác không thể tới vùng hành quân mà không bị phát hiện. Nhưng thực tế đã có rất nhiều dấu hiệu cho thấy địch quân xử dụng thiết giáp tại chiến trường. Nguy hiểm hơn nữa, ngoài chiến xa lội nước hạng nhẹ PT-76, địch còn có cả các chiến xa hạng trung loại T-54 có thiết giáp dầy hơn và súng 100 ly bắn xa hơn các chiến xa M-41 của Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ.

Trên giấy tờ, chiến xa M-41 chỉ có ưu thế so với loại PT-76, nhưng sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi chạm trán chiến xa thật sự T-54. Nhìn chung, cuộc tiến quân của Chiến Ðoàn 1 Ðặc Nhiệm coi như bị chận đứng tại A Lưới. Nỗ lực chính, một mũi tấn công quan trọng để đánh chiếm mục tiêu tối hậu Tchépone đột nhiên trở thành những ụ cát phòng thủ dưới áp lực mỗi ngày một gia tăng của địch quân mỗi ngày được tăng viện mạnh hơn. Ngoài ra, cường độ pháo kích vào mục tiêu cố định A Lưới càng về sau càng dữ dội. Pháo binh địch với các loại trọng pháo 130 ly và 122 ly rõ ràng chiếm lợi thế vì có tầm bắn xa hơn những đại bác 105 ly và ngay cả 155 ly của Quân Lực VNCH, lại được chôn dấu kỹ càng khó phát hiện và đạn dược được tiếp tế dư thừa. Ngoài ra, phòng không địch mỗi lúc một di chuyển đến nhiều hơn đan thành nhiều màng lưới lửa chung quanh căn cứ khiến những phi vụ tản thương, tiếp tế trở nên vô cùng nguy hiểm và khó khăn.

(Còn tiếp)
Cơn địa chấn kinh hồn / Trực thăng tại căn cứ Vandergrift / Khe Sanh và Hạ Lào / Xe lội nước PT-76 / Súng phòng không 37 ly / Thiết Giáp VNCH tại Hạ Lào / Ðại bác 175 ly yểm trợ / Súng phóng hỏa tiển RPG-7 /