Về yêu cầu tiếp tục đổi
mới trong giai đoạn hiện nay
Vấn đề tiếp tục công cuộc đổi
mới để đẩy mạnh sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta vốn đã
được đặt ra thường xuyên từ hơn 10 năm nay, hiện nay trước những biến
chuyển của tình hình mới nó lại càng trở nên cấp thiết, đòi hỏi
chúng ta phải nghiêm túc đánh giá lại những gì đã qua để tìm những
giải pháp tích cực cho giai đoạn mới. Tôi hoan nghênh báo cáo chuẩn
bị cho Hội Nghị Trung Ương Ðảng lần thứ tư sắp tới do đồng chí Lê Ðăng
Doanh trình bày, bản báo cáo đã đề cập một cách thẳng thắn đến
nhiều vấn đề cơ bản của tình hình hiện nay và đã có sự phân tích
tương đối sâu sắc. Tôi hy vọng là từ những phân tích đó sẽ có thể
đi đến các giải pháp thực sự đáp ứng các đòi hỏi mới của sự phát
triển đất nước. Dưới đây tôi xin góp thêm một số ý kiến về việc
phân tích tình hình và hướng tìm giải pháp cho việc tiếp tục đổi mới.
Chúng ta đang sống trong một thời
đại của những chuyển biến sâu sắc và hết sức nhanh chóng trên toàn
thế giới, trên khắp mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Sự
chuyển biến sang một nền kinh tế mới trong đó các yếu tố thông tin
và trí tuệ ngày càng giữ một vai trò quyết định, sự diễn biến mau
lẹ của quá trình thế giới hóa (mondialisation) nền kinh tế thị trường
với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt, vốn xuất phát từ yêu cầu
của các nước công nghiệp phát triển nhất, đã nhanh chóng tác động
đến mọi nước trên thế giới, lôi cuốn cả thế giới vào trong cùng
một dòng chảy mà bất kỳ nước nào, dầu không muốn cũng khó có
cách gì tránh né được. Ðể hòa nhập được vào dòng chảy đó và vươn
lên, chúng ta đã hiểu rằng cần phải đổi mới tư duy, tiếp nhận những
cách suy nghĩ, những quan niệm mới về thời cuộc, học tập kinh nghiệm
từ nhiều phía đối với việc tổ chức nền kinh tế xã hội, v.v... Cải
cách kinh tế theo hướng phát triển kinh tế thị trường và cải cách
chính trị theo hướng từng bước dân chủ hóa xã hội, về nguyên tắc đã
được xem là nội dung cơ bản của đổi mới, cùng nhằm mục đích là phát
huy tối đa mọi nguồn năng lực tài nguyên, lao động, trí tuệ của toàn
dân tộc để làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn
minh.
Từ cuối những năm 80, trước yêu
cầu cấp thiết của việc thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng toàn
diện của đất nước, Ðảng đã chấp nhận một số chủ trương đổi mới,
đặc biệt về kinh tế, đồng thời Ðảng giữ quyền lãnh đạo công cuộc
đổi mới. Ðiều đó đã có tác động giữ cho công cuộc đổi mới bước
đầu được tiến hành trong điều kiện tương đối ổn định, đất nước thoát
ra khỏi khủng hoảng, nền kinh tế thị trường được hình thành dần, đời
sống của một bộ phận dân cư được cải thiện rõ rệt, v.v...
Nhưng rồi rất nhanh chóng, tình hình
đã làm bộc lộ rõ một mâu thuẫn cơ bản: yêu cầu phát triển nền
kinh tế thị trường một cách đầy đủ trong điều kiện hiện đại với
nhiều thách thức và cạnh tranh gay gắt đòi hỏi sự đổi mới toàn
diện cả về kinh tế và chính trị đã xung đột với vị trí lãnh đạo độc
quyền của một Ðảng Cộng Sản, tuy có chấp nhận một số nội dung đổi
mới nhưng vẫn kiên trì các nguyên tắc chuyên chính vô sản, đấu tranh
giai cấp và cái gọi là định hướng xã hội chủ nghĩa (cái định hướng
này thường được giải thích tùy tiện: khi thì như là dân giàu nước
mạnh để ai cũng có thể chấp nhận, trong các tài liệu chính thức thì
vẫn là kinh tế quốc doanh là chủ đạo, xây dựng chế độ sở hữu công
cộng và sở hữu tập thể, và chuyên chính một Ðảng...). Ðáng lẽ Ðảng
đẩy mạnh hơn nữa quá trình tự đổi mới để phù hợp với yêu cầu phát
triển kinh tế thị trường và dân chủ hóa xã hội, thì tiếc thay, dưới
danh nghĩa duy trì sự ổn định chính trị, Ðảng vẫn tiếp tục củng cố sự
lãnh đạo độc quyền với các nguyên tắc nói trên. Và như vậy, mâu
thuẫn cơ bản kể trên không được giải quyết một cách thỏa đáng theo
yêu cầu khách quan của sự phát triển, mà lại được kiềm chế lại
dưới sức mạnh chuyên chế để bảo đảm quyền lãnh đạo duy nhất của
Ðảng. Ðiều này đã được thể hiện từ Ðại hội 7, và một cách rõ
ràng, dứt khoát hơn ở Ðại hội 8 của Ðảng. Ðảng liên tiếp khẳng định
là Ðảng cầm quyền, lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối Nhà Nước và
xã hội. Mâu thuẫn bị kiềm chế và dồn nén, không được giải quyết
theo hướng tích cực, thì đã quay trở lại biến thành một sức mạnh phá
phách từ bên trong bằng mọi kiểu kết hợp các tiêu cực của một thị
trường hỗn loạn và một độc quyền toàn trị không giới hạn. Ðó có
thể xem là nét đặc trưng chủ yếu của tình hình kinh tế xã hội ở
nước ta trong những năm gần đây, đang tạo ra những khó khăn to lớn
cho sự phát triển tiếp tục của đất nước.
Tình trạng nói trên được biểu hiện
rõ rệt trên mọi mặt của đời sống đất nước trong những năm vừa qua.
Trước hết là tệ nạn tham nhũng tràn lan tàn phá mọi thành quả
khiêm tốn của những cố gắng xây dựng đất nước mà chưa có cách nào
khắc phục được. Một thị trường còn non yếu lại nửa kín nửa
mở không biến được thành nơi phát huy và ganh đua của các tài năng
kinh doanh, nhưng lại rất thuận lợi cho những thế lực độc quyền mặc
sức tự do thi thố các mánh khóe trao đổi và bán chác quyền lực, đó
là đặc điểm chính của quốc nạn tham nhũng, buôn lậu, hối lộ tràn
lan, càng kêu gọi chống càng phát triển trầm trọng. Một số
vụ tham nhũng bị đưa ra xét xử đã làm dân chúng bàng hoàng về qui
mô của tội phạm, nhưng cũng đáng hoài nghi về khả năng trừng trị
tận gốc vì truy cứu các đường dây hối lộ đến một lúc nào đó trở
đi thì thường trở nên mờ mịt.
Về kinh tế, tuy có nói đến
kinh tế nhiều thành phần, nhưng ngay trong Văn Kiện Ðại Hội 8, cách
đề cập cũng đã khá phân biệt đối xử. Trong bài trình bày của đồng chí Lê Ðăng
Doanh đã nói khá rõ tình hình làm ăn thua lỗ của đại đa số các doanh
nghiệp quốc doanh, và nhiều vị đã phát biểu nêu rõ tình trạng tham
nhũng, hối lộ tại cách doanh nghiệp đó. Chấp nhận kinh tế thị
trường, có các doanh nghiệp, có các ngân hàng, có các cơ cấu tài
chính,... đáng lẽ các cơ cấu và tổ chức đó phải có được đầy đủ
trách nhiệm và quyền chủ động hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị
trường, nhưng chúng lại được quản lý và chỉ đạo tuân theo ý muốn
chủ quan của lãnh đạo, nên tình trạng làm ăn kém hiệu quả, thiếu
năng động và sáng tạo, tạo điều kiện cho tiêu cực, tham nhũng, đi
đến đổ vỡ, v.v... là tất nhiên.
Trong nền kinh tế thị trường, các
doanh nghiệp tư nhân đã được khẳng định trên khắp thế giới là năng
động nhất, chính vì vậy mà ngày nay, việc tư nhân hóa các doanh
nghiệp nhà nước không những được thực hiện ở các nước xã hội chủ
nghĩa cũ mà cả ở các nước tư bản vốn đã từng có một khu vực quốc
doanh rộng lớn. Thậm chí, để tăng cường năng lực cạnh tranh trong giai
đoạn thương mại điện tử của quá trình thế giới hóa nền kinh tế hiện
nay, nhiều vị lãnh đạo các nước đã xem việc các doanh nghiệp tư nhân
giữ vị trí dẫn đầu là một nguyên tắc bảo đảm cho sự thành công. Ở
nước ta trong bước đầu phát triển kinh tế thị trường, các doanh nghiệp
tư nhân mới được hình thành và nói chung còn non yếu, tuy vậy cũng
đã góp phần tạo nên những yếu tố năng động trong nền kinh tế. Nhưng
trước thái độ ghẻ lạnh và kỳ thị của Ðảng (đã từng có những chỉ
thị cấm đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân) và trăm thứ phiền hà
do các cơ quan nhà nước gây ra, nhiều tâm huyết và năng lực lớn sớm
bị thui chột, rồi đến nỗi hiện nay, như nhiều nhà quan sát nước ngoài
nhận xét và lấy làm lạ là hầu như không thấy có một doanh nhân
nào có tầm cỡ, có ý đồ lâu dài xây dựng một cái gì đáng kể cho
nền kinh tế đất nước. Trong điều kiện không được khuyến khích như
vậy, một điều khá tự nhiên là người ta chỉ có thể đầu tư cho những
việc có lợi ích ngắn hạn, có tính chất ăn xổi ở thì, thậm chí làm
ăn giả dối, móc ngoặc với các phần tử tiêu cực trong cơ quan nhà
nước để trục lợi.
Chúng ta phải thấy rằng đất nước
có giàu mạnh lên được hay không, nền kinh tế có tạo nên những điểm
sáng đặc sắc có sức cạnh tranh trên thị trường hay không, chủ yếu
là tùy thuộc ở chỗ ta có xây dựng được các doanh nghiệp mạnh, năng
động với những doanh nhân có nghị lực, có tâm huyết, có tri thức và
năng lực sáng tạo hay không. Những doanh nhân như vậy khó có thể
xuất hiện từ những người lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước, vốn là
những công chức nhà nước phải tuân theo cách quản lý quan liêu của
bộ máy hành chính nhà nước. Khu vực kinh tế tư nhân với những đặc
thù của nó, nếu được thật sự khuyến khích để được tự do phát
triển, sẽ có thể là nơi cống hiến cho đất nước những doanh nhân như
vậy. Ngoài ra, khuyến khích và tạo các điều kiện thuận lợi, an toàn
về pháp lý và có những ưu đãi cần thiết đối với khu vực kinh tế
này, đặc biệt là trong những ngành mũi nhọn, cũng sẽ có tác động
thu hút các nguồn vốn trong nước cho sự nghiệp xây dựng đất nước,
không để các nguồn vốn này bị tồn đọng vô ích hoặc chi tiêu hoang
phí.
Một hệ quả trầm trọng nữa của
việc kéo dài tình trạng độc quyền là sự thoái hóa rõ rệt cả về
năng lực, phẩm chất và uy tín của bộ máy nhà nước. Ðảng, hay đúng
hơn một bộ phận nhỏ nắm quyền lực của Ðảng, tự qui định là lãnh
đạo toàn diện và tuyệt đối Nhà Nước và xã hội, đề ra các nguyên
tắc khá chi tiết về việc hệ thống cấp ủy Ðảng cho ý kiến chỉ đạo
đối với các hoạt động của Quốc Hội, Chính Phủ, Tòa Án, Viện Kiểm
Sát, cho đến các đoàn thể quần chúng, trên thực tế đã biến toàn
bộ thể chế nhà nước thành một hệ thống thừa hành chỉ thị của bộ
phận quyền lực trong Ðảng; “dân chủ”, luật pháp cũng biến thành
những công cụ cho sự thừa hành đó. Và tất nhiên, trong điều kiện
như vậy, mọi tài năng, tâm huyết, bản lĩnh, nếu không trở thành vô
hiệu thì cũng bị bào mòn cho vừa khung cửa của quyền lực. Và trong
mọi cấp, mọi ngành xuất hiện ngày càng nhiều những kẻ ăn bám theo
cơ chế độc quyền với đủ tính chất nịnh bợ, dối trá, tham nhũng, quan
liêu, hống hách, cửa quyền... Hiệu lực của bộ máy nhà nước bị giảm
sút, thậm chí nhiều chủ trương tích cực, đúng đắn cũng bị chính những
người trong bộ máy biến báo và lợi dụng cho lợi ích cá nhân nên
không được thi hành đến nơi đến chốn, dân tình ta thán vì mọi thứ
nhũng nhiễu, v.v... Vì Ðảng đặc biệt nắm toàn quyền quyết định trong
khâu tổ chức cán bộ, nên trong cơ chế lựa chọn những cán bộ chủ
chốt hiện nay, việc sắp xếp thực chất chỉ được tiến hành trong một
phạm vi hẹp, tự sắp xếp cho nhau và cho những người tùy thuộc trong
trật tự quyền lực. Cả dân tộc thực tế là đứng ngoài sự lựa chọn
đó. Và vì vậy, không ít những kẻ bỗng chốc leo lên những vị trí chủ
chốt, đầy quyền lực nhưng ngoài việc lo giữ ghế và tìm cách leo cao
hơn thì chẳng có mấy tài năng và tâm huyết để làm được việc có ít
cho đất nước.
Tôi không có tham vọng phát biểu
ý kiến đầy đủ về mọi mặt khó khăn trong tình hình phát triển kinh
tế xã hội của nước ta hiện nay. Tại Hội Nghị này, nhiều vị đã phát
biểu và phân tích sâu sắc về các vấn đề như: hiệu quả của việc sử
dụng vốn đầu tư nước ngoài và tình hình công nợ, cách thức quyết
định khi chưa có đủ căn cứ vững chắc cho các dự án đầu tư lớn, tình
hình giáo dục và khoa học chậm được cải thiện, sự bất bình đẳng
trong xã hội gia tăng, đặc biệt là đời sống cực kỳ khó khăn của
đại đa số nông dân và công nhân, v.v... Dĩ nhiên, tất cả tình hình
khó khăn đó đều có nguyên nhân khách quan là nước ta bước vào thời
kỳ đổi mới từ những hậu quả chưa được khắc phục của chiến tranh và
từ sự nghèo nàn lạc hậu vốn có của nền kinh tế. Những thách thức
của quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới lại quá
nghiệt ngã, phải chấp nhận hội nhập trong khi chưa tạo được những ưu
thế cạnh tranh đáng kể. Chắc chắn không ai có thể phủ nhận những khó
khăn khách quan là cực kỳ to lớn.
Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là
trước những khó khăn khách quan và trước những thách thức nghiệt
ngã đó, ta chưa huy động được mọi khả năng về tài nguyên, về lao
động và trí tuệ của toàn dân tộc để làm thành sức mạnh đưa đất
nước tiến lên. Mà một nguyên nhân cơ bản là chưa có được giải pháp
thỏa đáng để giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển kinh tế
thị trường và dân chủ hóa xã hội với việc duy trì sự lãnh đạo độc
quyền của Ðảng Cộng Sản.
Thời đại hiện nay đang có những
chuyển biến sâu sắc về kinh tế và xã hội. Và trong sự chuyển biến
đó, vai trò của Nhà Nước cũng có nhiều thay đổi. Nhà Nước không
còn là công cụ của đấu tranh giai cấp, mà phải tiến tới là Nhà
Nước của sự tăng trưởng kinh tế, của các tiến bộ công nghệ và của
thị trường. Nhà Nước phải là Nhà Nước của toàn dân, mà chức năng
chủ yếu là kiến tạo một môi trường pháp lý và những điều kiện
thuận lợi cho mọi người dân được tự do phát huy mọi năng lực và trí
tuệ của mình để tiến hành các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội,
đồng thời đóng vai trò là người trọng tài công minh điều hòa mọi
xung đột lợi ích của các công dân trong xã hội. Nhà Nước không còn
là Nhà Nước cai trị, lại càng không thể là công cụ của một Ðảng
cai trị. Theo một ý nghĩa nào đó, Nhà Nước cũng phải tính toán sòng
phẳng với dân theo kiểu một doanh nghiệp: những sản phẩm do bộ máy nhà
nước làm ra (các quyết định, chính sách, các biện pháp quản lý, điều
hành...) phải được đánh giá và phán xét về chất lượng, hiệu quả;
nếu hiệu quả quá thấp so với chi phí thì cần phải xứ lý. Ngày nay,
không thể có một bộ phận nào chiếm đặc quyền lãnh đạo, làm ra sản
phẩm gì dân cũng phải chấp nhận, nói xuôi nói ngược gì dân cũng
phải nghe như lời vàng ý ngọc. Trong điều kiện nước ta, đã đến lúc
không thể vin vào lý do trung thành để áp đặt một ý thức hệ lỗi
thời cho xã hội, không thể dựa vào những hào quang dĩ vãng của một
thế hệ đi trước để khẳng định vị trí độc tôn cho một lớp người tự
xưng là kế thừa trong hiện tại, không thể buộc mọi người chấp nhận
có con đường được lựa chọn một lần cho mãi mãi.
Cuộc sống hiện tại có những yêu
cầu của hiện tại, và phải do những con người của hiện tại cùng nhau
góp sức tìm cách giải quyết trong sự bình đẳng. Yêu cầu của hiện
tại là phải tiếp tục đổi mới sâu rộng hơn nữa theo hướng chấp nhận
đầy đủ kinh tế thị trường và dân chủ hóa xã hội. Chấp nhận kinh tế
thị trường, xóa bỏ sự quản lý bao cấp của các cơ quan hành chính nhà
nước đối với các doanh nghiệp, tạo điều kiện bình đẳng đối với các
chủ thể kinh doanh, khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân và tạo ưu
tiên thuận lợi cho các doanh nhân tài năng có khả năng tạo nên các
ưu thế cho kinh tế quốc gia, từ đó huy động được mạnh mẽ các nguồn
đầu tư trong nước cả về vốn cũng như về năng lực trí tuệ.
Một nhân tố cơ bản của nền kinh
tế mới trên phạm vi thế giới là thông tin và trí tuệ, cho nên việc
tự do hóa trao đổi thông tin, tăng cường giáo dục nâng cao dân trí,
đưa thông tin và tri thức đến mọi người, đồng thời tăng cường các
yếu tố thông tin trong hiện đại hóa các ngành sản xuất, dịch vụ
hiện có và phát triển các ngành sản xuất, dịch vụ mới... là những
cơ hội cần được đặc biệt chú ý. Mà để tận dụng được những cơ hội
này, thì kinh tế tư nhân do tính năng động và linh hoạt của nó, là
thích hợp hơn cả. Ðể tạo ra một nền kinh tế năng động, một xã hội
năng động, hãy để cho toàn xã hội tham gia vào việc quyết định các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch dụ... Còn Nhà Nước thì cần đủ
năng lực để quản lý vĩ mô, bảo đảm cho xã hội một môi trường an
ninh và thuận lợi là chủ yếu. Yêu cầu dân chủ hóa chính trị cũng
đã trở nên hết sức bức thiết. Những tư tưởng mới, những quan điểm
mới, vốn là những nguồn giá trị hỗ trợ cho việc làm ra của cải và
sự giàu có trong giai đoạn mới, nhưng nếu trái với sự hiểu biết của
Ðảng, đều bị cấm đoán. Yêu cầu hiện đại hóa xã hội đòi hỏi phải
thực hiện các quyền tự do dân chủ tối thiểu như tự do ngôn luận,
tự do tư tưởng, tự do báo chí, rồi tự do lập hội, tự do ứng cử và bầu
cử thật sự.
Tiếc rằng trong các Văn Kiện Ðại
Hội 8 của Ðảng cũng như trong các chủ trương gần đây, Ðảng nói đến
đổi mới nhưng chưa hề có ý định tự đổi mới để đáp ứng các yêu cầu
nói trên. Cũng cần phải nhìn nhận một thực tế là với một bộ máy
có tổ chức chặt chẽ và một lực lượng chuyên chính thừa hưởng được
từ trong quá khứ, bộ máy quyền lực trong Ðảng hiện nay vẫn có đủ
sức mạnh khống chế xã hội dưới quyền cai trị của mình để thực hiện
sự đổi mới nửa vời, dưới danh nghĩa bảo vệ sự ổn định, không đi
chệch hướng, giữ vững vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, thực
hiện định hướng xã hội chủ nghĩa v.v... Thực ra thì trong xã hội ta
hiện nay, nói mãi những chuyện cách mạng xã hội chủ nghĩa, vai trò
lãnh đạo của giai cấp công nhân, Ðảng là đội tiên phong của giai
cấp... đã trở nên vô ích và vô nghĩa, khi mà trong thực tế, trong
cái xã hội mà giai cấp công nhân được mang danh là lãnh đạo thì
công nhân và nông dân vẫn là những tầng lớp có cuộc sống khốn
khổ nhất, trong khi lớn tiếng chống bốc lột thì những người đáng gọi
là bóc lột chủ yếu hiện nay chính là một bộ phận khá lớn những
quan chức có quyền lực trong Ðảng. Cần phải thẳng thắn mà
thừa nhận rằng đất nước ta không thể giàu lên được, đời sống nhân
dân lao động của ta không thể khấm khá lên được bằng đấu tranh giai
cấp, bằng chuyên chính vô sản, bằng kinh tế nhà nước, và bằng những
lời lẽ mị dân được đâu.
Cho nên, nếu Ðảng tiếp tục củng
cố sự lãnh đạo độc quyền của mình bằng sức mạnh chuyên chế, thì
đất nước khó mà tiến hơn được nữa, nguy cơ của tụt hậu và khủng
hoảng khó mà tránh khỏi. Con đường thoát ra cho đất nước lúc này là
Ðảng thật sự tự đổi mới một cách triệt để để mở đường cho dân
tộc đẩy mạnh đổi mới theo những hướng nói trên. Ðảng triệt để đổi
mới là đổi mới về mục tiêu, về cơ sở lý luận và tư tưởng, về
phương thức tổ chức, và đặc biệt về cách xác định vị trí của mình
trong dân tộc. Không cần băn khoăn về tính giai cấp, về vai trò tiên
phong giai cấp của mình, vì như trên đã nói, những chuyện đó đã trở
nên vô nghĩa, cái cần quan tâm và giữ vững là có tiếp tục giữ vai
trò lực lượng tiên phong của dân tộc trong bước chuyển biến lịch sử
quan trọng này hay không.
Dẫu biết rằng vô cùng khó khăn,
nhưng là một người dân của đất nước, tôi cũng hy vọng rằng sớm
muộn Ðảng, với nhiều năng lực và trí tuệ vốn tiềm tàng trong đội
ngũ của mình, sẽ thật sự thực hiện cuộc đổi mới lịch sử của mình,
tạo điều kiện cho đất nước ta, dân tộc ta phát huy được mọi tiềm
năng tài nguyên, sức lực và trí tuệ để nhanh chóng nâng cao thân
phận của mình, sánh vai bình đẳng cùng các dân tộc khác khi bước sang
thế kỷ mới.
Phan Ðình Diệu