Nguyễn Tấn Dũng và khúc xương
Kinh tế thị trường

Phạm Trần

Trước khi đến Mỹ gặp Tổng thống George W. Bush ngày 24-6, Thủ tướng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã “đề nghị Hoa Kỳ sớm công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường”, nhưng Phủ Tổng thống Mỹ đã nhanh chóng trả lời rằng, bên cạnh vấn đề nới rộng quan hệ song phương và mậu dịch, Tổng thống Bush sẽ chú trọng đến các vấn đề ông hằng quan tâm như nhân quyền, và các quyền tự do phát biểu, tôn giáo, và hội họp. (The President will also take this opportunity to highlight the importance he attaches to respect for human rights and the freedoms of speech, religion, and assembly) (Thông báo của Tòa Bạch Ốc, 17-6-08).

Vẫn theo tin này, hai bên còn thảo luận thêm các vấn đề của Hiệp hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN), Hội đồng Bảo an Liện Hiệp Quốc, giáo dục, năng lượng và sự thay đổi của khí hậu, an toàn thực phẩm và tiến trình hội nhập kinh tế của khu vực.

Về phía Việt Nam. Bản Tin của Nhà nước phổ biến hôm 18-6-08 cho biết:
“Chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (từ 23/6 đến 26/6/2008) diễn ra trong bối cảnh quan hệ hợp tác Việt Nam - Hoa Kỳ đang phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực. Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 12/7/1995, hai bên đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao.

Hai bên đã ra 2 Tuyên bố chung (năm 2005 và 2006) trong đó khẳng định mong muốn xây dựng quan hệ đối tác xây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và hai bên cùng có lợi, đồng thời mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới giữa hai nước trên các lĩnh vực.

Đáng chú ý, quan hệ thương mại song phương phát triển mạnh mẽ. Kim ngạch thương mại 2 chiều năm 2005 đạt 7,8 tỉ USD, tăng hơn 5 lần so với năm 2001, năm 2006 đạt 9,7 tỉ USD, năm 2007 đạt hơn 12 tỉ USD.

Hiện Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và cho đến nay, Việt Nam luôn xuất siêu sang Hoa Kỳ. Đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam đến nay đạt hơn 5,5 tỉ USD, xếp thứ 5 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Hiện có hơn 1.000 doanh nghiệp Hoa Kỳ đang hoạt động tại Việt Nam.”

Vào ngày 17-11-07, ông Nguyễn Tấn Dũng cho biết, trong những năm qua quan hệ hợp tác trên tất cả các lĩnh vực giữa Việt Nam và Mỹ “ đã phát triển mạnh mẽ và ấn tượng. Quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, chỉ riêng 5 tháng đầu năm 2008, đã đạt 5 tỉ USD, dự báo trong năm 2008 là trên 12 tỉ USD. Hiện Hoa Kỳ có gần 400 dự án được cấp phép hoạt động tại Việt Nam với số vốn trên 4 tỉ USD.”

Lời tuyên bố này được đưa ra vào dịp Thứ trưởng Israel Hernandez và đoàn doanh nghiệp Hoa Kỳ gặp ông Dũng để thảo luận về khả năng đẩu tư của các nhà doanh nghiệp Hoa Kỳ. Ông Dũng hứa sẽ “tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ hợp tác đầu tư tại Việt Nam”. Ông Dũng kêu gọi: “Hai nước cần đẩy mạnh hơn nữa việc khai thác các tiềm năng và lợi thế trong hợp tác thương mại, đầu tư vì lợi ích và sự phát triển chung của mỗi nước”.

Đáng chú ý là trong cuộc tiếp Thứ trưởng Israel Hernandez, ông Dũng còn “Đề nghị Hoa Kỳ sớm công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường cũng như đẩy mạnh xúc tiến các biện pháp thúc đẩy đàm phán đi tới ký kết Hiệp định đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ”. Và, theo bản tin của Nhà nước Việt Nam, Thứ trưởng Israel Hernandez cho biết “sẽ chuyển lên Chính phủ Hoa Kỳ ngay sau chuyến thăm”.

Nguồn gốc của lời yêu cầu

Nhưng tại sao cho đến bây giờ, sau hai năm Hoa Kỳ vĩnh viễn bình thường quan hệ thương mại với Việt Nam (Permanent Trade Relations, PNTR) mà Hoa Kỳ vẫn chưa coi Việt Nam có nền kinh tế theo đúng các tiêu chuẩn của Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization, WTO) và Hiệp định Thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 12-10-2001 (U.S.-Vietnam Bilateral Trade Agreement (BTA) ?

Bởi vì Việt Nam vẫn chưa có một nền kinh tế “trong sáng” theo nghĩa phải làm ăn minh bạch theo đúng luật lệ, đối xử công bằng với mọi nhà đầu tư và doanh nghiệp, bất kể là người Việt Nam hay người nước ngoài làm chủ.

Chính bà Virginia Foot, Chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ-Việt đã phản ảnh những trở ngại do phiá Việt Nam gây ra trong bài phỏng vấn của báo Quân đội Nhân dân (QĐND) cuối tháng 4-2008. Phóng viên Linh An viết trên Báo QĐND ngày 29-4-2008: “Theo đánh giá của bà V.Phút, mối quan hệ Việt - Mỹ đang trong giai đoạn phát triển rất tốt đẹp. Mỹ là một trong những đối tác thương mại và nhà đầu tư hàng đầu của Việt Nam. Các doanh nghiệp Mỹ coi Việt Nam là thị trường đầy tiềm năng. Tuy nhiên hai bên cần nhanh chóng gỡ bỏ một số rào cản để tới gần nhau hơn. Theo bà, Việt Nam là nơi hấp dẫn các nhà đầu tư nhưng cũng là nơi “khó” làm ăn kinh doanh. Nhà đầu tư nước ngoài cho rằng thủ tục đăng ký kinh doanh tại Việt Nam vẫn còn rườm rà, phức tạp; việc thỏa thuận hợp tác kinh doanh cũng mất rất nhiều thời gian…”

”Để loại bỏ những chướng ngại này, theo bà, thời gian tới Việt Nam cần chú trọng cải cách bộ máy hành chính, chính sách thuế, đẩy mạnh đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… làm nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế. Bà V.Phút nhấn mạnh, một nền kinh tế tăng trưởng bền vững thì không thể thiếu nền tảng cơ sở hạ tầng vững chắc, bao gồm cầu cảng, sân bay, năng lượng và đường bộ.”

Nhưng không chỉ có bấy nhiêu thôi. Những lực cản khác, quan trọng hơn, mà bà Foot không dám nói, đó là: Tình trạng tham nhũng tràn lan, nạn mè nheo, đòi tiền công khai của đội ngũ cán bộ phụ trách lo cáp giấy phép. Chính sách đối xử thiếu công bằng của nhà nước trong mức thuế giữa công ty trong nước và công ty nước ngoài cho đến chế độ sử dụng đất đai, thuê mướn cũng bị đối xử sai biệt.

Trên thị trường nội địa cũng đang có tình trạng cạnh tranh bất xứng của các doanh nghiệp trong nước va chế độ bao cấp (bù đậy thua lỗ) của Nhà nước dành cho các Doanh nghiệp Quốc doanh và các Tổng Công ty do cán bộ đảng và nhà nước quản lý vẫn công khai thi hành, gây thiệt hại không nhỏ cho các Công ty nước ngoài. Đã vậy, nhà nước còn bao che, giấu diếm thua lỗ của các Doanh nghiệp nhà nước và chậm cổ phần hóa các Công ty tiếp tục gây lỗ, nợ nần chồng chất để thỏa mãn nhu cầu chính trị nội bộ. Nếu có cổ phần hóa thì Cán bộ qủan lý, Ban giám đốc lại tìm cách mua lại để tiếp tục làm chủ, ăn chia trên sức lao động của công nhân.

Ngoài ra, Việt Nam cũng chưa thi hành đấy đủ nghĩa vụ bảo vệ sản phẩm của Trí tuệ mà ngay trong nước, các Nhà sản xuất băng, dĩa, làm phim, xuất bản cũng là nạn nhân của nạn sao chép, in lậu để bán phá gía gây thiệt hại tài chính không nhỏ cho các văn-nghệ-sỹ và chủ nhân của các tài sản.

Nhà nước Việt Nam vẫn ngăn cấm không cho ra báo tư nhân và không cho phép Báo chí nước ngoài, kể cả báo của người Việt ở nước ngoài, nhập vào Việt Nam để cung cấp thông tin đa dạng.

Ấy là chưa kể đến tình trạng buôn lậu các sản phẩm từ nước ngoài nhập vào Việt Nam không kiểm soát nổi, hay có tiếp tay của đội ngũ kiểm soát biên phòng, cảnh sát lưu thông. Nạn hàng gỉa tràn lan từ thành phố về miền quê cũng đang làm chao đảo thị trường, cộng thêm với tình trạng đình công liên miên của công nhân và nạn lạm phát, dù chưa phi mã, nhưng chưa kìm hãm được cũng đang làm cho các nhà đầu tự nước ngoài lo âu, không an tâm làm ăn ở Việt Nam.

Nhân quyền, các quyền tự do

Từ một nền kinh tế không có nền tảng bền vững như thế nên những bất công cứ chồng chất lên cao làm điêu đứng cho nhiều lớp người trong xã hội nên càng ngày càng có nhiều người dân Việt Nam kéo nhau đi khiếu kiện, gây bất ổn định và làm hoang mang các nhà đấu tư nước ngoài.

Nền kinh tế thị trường của WTO còn đòi hỏi Nhà nước Việt Nam phải đối sử công bình với người dân, bất kể họ thuộc thành phần hay theo tôn giáo nào. Nhưng nếu tình trạng cách biệt giầu – nghèo trong xã hội Việt Nam cứ mỗi ngày một dãn ra và sâu thêm thì đó không phải là mục tiêu, hay sự mong đợi của tổ chức WTO. Và khi nào xã hội vẫn còn có một bộ phận tôn giáo hay người dân chưa được hưởng các quyền tự do và quyền làm người của họ không được nhà nước tôn trọng hay bị đàn áp, như đã và đang xẩy ra ở Việt Nam, thì nhà nước này đã vi phạm các nguyên tắc dân chủ và nghĩa vụ của một hội viên trong tổ chức WTO.

Trường hợp Việt Nam rất rõ rệt vì trước khi Việt Nam được gia nhập tổ chức WTO , Tổng thống Bush đã phải vận động để được Quốc Hội chấp thuận Việt Nam hội đủ điều kiện hưởng chế độ “Vĩnh viễn bình thường quan hệ thương mại” (Permanent Trade Relations, PNTR) và không còn bị liệt trong danh sách các nước “ đáng quan tâm” (Country of Particular Concern, CPC) vì đã vi phạm nghiêm trọng quyền Tự do Tôn giáo của công dân.

Nhưng sau khi được vào WTO ngày 7-11-2006, Nhà nước CSVN Việt Nam lại tiếp tục chà đạp nhân quyền, bắt bỏ tù, khủng bố, đe doạ, giam tại nhà các nhà đấu tranh dân chủ bất đồng chính kiến và các lãn h tụ tôn giáo không chịu phục tùng hay gia nhập các tổ chức tôn giáo của Nhà nước, điển hình như Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Mặc dù tình hình Tôn giáo tại Việt Nam đã có nhiều cởi mở hơn, nhưng chính sách kỳ thị, khống chế tinh vi hơn lại được tăng cường sau ngày Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO ngày 11-01-2007.

Theo các tin Tôn giáo, còn vào khỏang 40 Nhà lãnh đạo tôn gíao, nổi bật nhất là Linh mục Nguyễn Văn Lý của Công giáo còn bị giam. Nhiều tài sản của Giáo hội Công giáo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vẫn bị nhà nước chiếm giữ hay đã sang nhượng cho người khác.

Vì những vi phạm nghiêm trọng cam kết của Việt Nam đối với Hoa Kỳ và Tổ chức WTO trong lĩnh vực nhân quyền và các quyền Tự do mà Tổng thống Bush đã cho Nguyễn Tấn Dũng biết trước thái độ của ông trước khi gặp ông Dũng ngày 24-6 -2008.

Liệu ông Dũng có đạt được sở nguyện được Hoa Kỳ công nhận Việt Nam đã thật sự có nền Kinh tế Thị trường hay ông Dũng sẽ phải ra về tay không là điều còn tùy đảng và nhà nước CSVN có biết nói chuyện nghiêm chỉnh hay không.

Ngoài ra ông Dũng cũng nên biết một Dự Luật về Nhân quyền cho Việt Nam (HR 3096) hãy còn chờ Hà Nội tại Thượng viện Hoa Kỳ, sau khi đã được Hạ viện đồng ý với đa số tuyệt đối 414, chống 3 và 15 Dân biểu không bỏ phiếu trong phiên họp hôm 18-09-2007.

Phạm Trần
19/06/2008