Bản Phúc Trình Về tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam


Phúc trình
Kính gởi:

Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc

Liên Đoàn Quốc Tế Nhân Quyền
Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam (Trụ Sở tại Pháp)
Tổng Thống và Quốc Hội Hoa-Kỳ
Tổng Thống và Quốc Hội Pháp
Đồng Bào Việt Nam

Đầu tiên, tôi xin thay mặt những người đang đấu tranh vì mục đích chính trị, ngay trong lao tù ở Việt Nam, kính gởi đến Quý Vị lòng biết ơn về sự quan tâm của Quý Vị đến vấn đề Nhân Quyền đang diễn ra ở Việt Nam, đất nước thân yêu của chúng tôi. Chính nhờ sự quan tâm của Quý Vị mà trong thời gian vừa qua, một số tù nhân chính trị đã được trả tự do tại Việt Nam. Dù rằng sự Tự Do ấy chỉ là một sự tự do vô cùng giới hạn, như một giọt nước trong cả thùng lớn, nhưng cũng đã là một điều hạnh phúc lớn lao cho những người đang kiên trì tranh đấu cho một nước Việt Nam Dân Chủ, Tự Do, và Hoà Bình.

Nhờ sự quan tâm của Quý Vị, tôi cũng đã là một trong những người được trả tự do sau gần 6 năm bị giam cầm, đày đọa tại ngay quê hương mình, và được trở về nước Pháp, nơi đã đón nhận và dung chứa tôi sau một cuộc vượt biển trốn chạy Cộng Sản đầy kinh hoàng năm 1982.

Vì vấn đề Nhân Quyền tại Việt Nam còn quá nhiều bức xúc; Vì các tù nhân chính trị còn bị giam giữ và ngược đãi một cách quá bất công và vô nhân bản. Vì tương lai dân tộc Việt Nam, và thế hệ mai sau, tôi trân trọng làm bản phúc trình này, công khai công bố những gì chính tôi đã mắt được nhìn, tai được nghe, và bản thân đã trải qua. Tôi cam kết hoàn toàn chịu trách nhiệm và chứng thực về những điều tôi công bố.

Bản Phúc Trình sẽ được viết theo trình tự thời gian để Quý Vị dễ theo dõi. Vì để bảo vệ sinh mạng của những chiến hữu và đồng bào của tôi hiện còn đang bị giam giữ, sẽ có những chi tiết mà cá nhân tôi không thể công khai tiết lộ trong lúc này, kính mong quý vị thông cảm.

Vì thời gian gấp rút, và vì tình trạng sức khoẻ suy thoái hiện nay của tôi, bên cạnh đó tôi còn nhiều công việc khẩn thiết khác đối với Cộng Đồng cũng như xã hội, đặc biệt là đối với những tù nhân chính trị hiện vẫn bị Cộng Sản Việt Nam giam giữ, tôi có những hoạt động cần phải di chuyển nhiều nơi. Vì vậy, bản phúc trình có thể sẽ không được đầy đủ, rất mong sẽ nhận được sự quan tâm và bao dung của Quý Vị.

Nội dung phúc trình

PHẦN I : Bị bắt, tống giam, xử án

Ngày 05 tháng 3 năm 1993, một tuần sau khi từ Pháp trở về Việt Nam, tôi bị bắt tại Sài Gòn (Quận Tân Bình, Thành Phố Hồ Chí Minh). Người trực tiếp chỉ huy cuộc bắt giữ tôi là Thượng Tá công an Nguyễn Hoạt, Cục Phó Cục An Ninh Điều Tra thuộc Bộ Nội Vụ (Việt Nam).

Việc bắt giữ xảy ra khi tôi đến nhà ông Nguyễn Ngọc Đăng, tại số 150 đường Hoàng Văn Thụ, Quận Tân Bình, để lấy lại vali cá nhân của tôi. Tới đây tôi đã bị ấn súng vào đầu, tay bị khoá giật ra sau lưng và, tức khắc, bị nặn soát từng phân vuông trên người. Nhưng họ không tìm thấy bất cứ tang chứng phạm pháp nào khi lục soát.

Toán công an đã thi hành lệnh bắt một cách lịch sự. Chính ông Hoạt cũng đã tỏ ra lịch sự trong việc bắt giữ tôi. Tuy nhiên họ rất cương quyết và lộ vẻ rất căng thẳng. Tôi ý thức được rằng bất cứ một sự chống cự nhỏ nhất của tôi, sẽ tức khắc đem lại cái chết cho chính mình. Không khí tại hiện trường và sắc diện từng người thi hành lệnh bắt lúc đó đã cho tôi thấy rõ điều này.

Trong khoảng 15 phút thẩm cung tại chỗ, tôi luôn xác định rằng tôi là một khách du lịch. Nhưng lệnh bắt vẫn được ký ngay. Tôi yêu cầu được liên lạc với luật sư riêng thì họ cười cách mỉa mai và nói: “Ông đang đứng trên đất nước của chúng tôi!”

Một số kíp mìn và thuốc nổ TNT, một số biểu ngữ và cờ Quốc Gia (cờ vàng ba sọc đỏ) chứa trong khoảng 7, 8 chiếc túi cói, được xếp ngay ngắn trước mặt tôi. Gần đó hai thợ chụp hình cùng hai máy quay phim bận bịu làm công việc thu hình. Thật ra, đây chỉ là những “hàng hoá” của chính công an dàn dựng để vu khống và buộc tội tôi. Đương nhiên tôi không nhận rằng những món hàng này là của tôi. Dù vậy, biên bản vẫn được làm, trong đó ghi tội danh của tôi “Dùng chất nổ phá hoại những công trình an ninh quốc gia”. Dĩ nhiên, tôi không ký biên bản.

Ký hay không ký thì việc bắt giữ tôi vẫn được thi hành. Hai tay bị còng, súng kè hai bên hông, tôi được đưa ra xe và áp giải về trại giam B34. Đây là một trại giam của Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia trước tháng 4, 1975, nằm ngay trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, trên đường Nguyễn Văn Cừ.

Sau khoảng hai tiếng rưỡi bị thẩm cung, tôi bị lột hết thường phục cũng như đồng hồ đeo tay, nhẫn cưới. Với một bộ quần áo tù, tôi bị dẫn vào buồng giam số 5 tại tầng trệt. Tầng này gồm 9 buồng xà lim. Để vào được bên trong xà lim, từ phòng thẩm vấn phải qua 4 lần cửa sắt mới đến chỗ nằm. Tình trạng vệ sinh vô cùng tồi tệ. Muì xú uế luôn xông lên từ bồn cầu, và có thể nhìn thấy chuột cống chạy lông rông khắp phòng. Họ ném cho tôi một cái màn và một chiếc chiếu cũ. Màn và chiếu đều có nhiều rệp!!! Buồng số 5 có chiều ngang 3 mét và chiều dài 3 mét rưỡi. Giữa buồng có một bệ nằm xây bằng xi măng, dành cho hai người. Tôi bị giữ tại buồng này một mình, cho tới lúc gần ra toà.

Sự tra tấn trên thân xác không thấy diễn ra ở đây, nhưng việc khảo cung và tra tấn tâm lý thì liên tục bất kể giờ giấc, có ngày phải đến cả mười lần khảo cung, mỗi lần kéo dài ít nhất là một tiếng rưỡi. Hàng chục nhân viên khảo cung thay phiên nhau tra vấn một tù nhân. Mỗi lần bị gọi khảo cung là lại phải nghe những tiếng cửa sắt được cố ý dập mạnh để tù nhân phải nghe những âm thanh chát chúa như dùi đục vào tận màng óc! Một vài tháng như vậy là quá sức chịu đựng đối với một người bình thường, và kết qủa là: những người được gọi là “can phạm” sẽ ký nhận tất cả, kể cả những việc mà chính họ cũng chưa bao giờ nghĩ đến, miễn là tránh khỏi phải đi khảo cung, và được ngủ yên trong vài tiếng đồng hồ.

Tình trạng ăn uống và ô cửa thông hơi được “ban phát” tùy theo thái độ nhận tội, và mức độ “hợp tác” của tù nhân. Nếu không hợp tác theo như những lời buộc tội, thì chỉ có hai bữa ăn, mỗi bữa hai chén cơm nguội và một chút cá khô, một chút rau. (Tiêu chuẩn này thực ra còn cao hơn nhiều so với khi tù nhân phải đi lao động khổ sai ở các trại!) Ô cửa thông hơi được nới rộng hay thu hẹp cũng tùy thái độ của tù nhân. Riêng phần tôi, ô cửa thông hơi chỉ bằng bàn tay ấy, rất ít khi được mở ra. Buồng giam luôn luôn ngột ngạt mùi bồn cầu xông lên, trong khi chuột và gián chạy lổn ngổn, giành giựt với tôi chút không gian hạn hẹp của phòng giam.

Cuối tháng 6 năm 1993, sau khi bị thẩm tra liên tục suốt 4 tháng, Ban Điều Tra đã đưa giấy bút cho tôi và buộc tôi viết một bản cam đoan, nội dung như sau:

Cam đoan không tái phạm
Cam đoan hợp tác với nhà nước CHXHCNVN

Tôi đã làm giấy cam kết với nội dung duy nhất: Tôi cam kết sống và bảo vệ danh dự, quyền lợi của Tổ Quốc và người dân Việt Nam. Ban Điều Tra sau đó đã nói với tôi rằng: “Cơ hội được phóng thích anh đã để vuột mất! Chúng tôi buộc phải đưa anh ra toà.”

Ngày 22/8/1993, nhà cầm quyền CSVN đưa chúng tôi ra toà. Tôi không nhận luật sư được chỉ định vì xét thấy có luật sư cũng chỉ bằng thừa ở trong cái toà án kịch cỡm như trò hề đó.

Những lời nói của tôi trước toà, nếu có liên quan đến chính trị, đều bị làm nhiễu âm, hoặc bị chánh án nện búa bắt im lặng. Qua cung cách của chánh án, những người ngồi ghế quan toà và bồi thẩm đoàn, thì trình độ hiểu biết, đạo đức, ứng xử, kiến thức về luật pháp địa phương cũng như quốc tế, và về nhân quyền của họ xem ra cũng gần như con số không. Tính cách của một toà án như vậy, thật là một sự phỉ báng công lý không gì so sánh được. Nền luật pháp của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thực chất chỉ là một công cụ để đảng Cộng Sản Việt Nam kềm chế đời sống chính trị và xã hội của người dân. Vụ án của tôi đã diễn ra là một bằng chứng cụ thể.

“Toà Án Tối Cao” ấy đã tuyên án tôi 12 năm tù khổ sai! Lời luận tội và đề nghị mức án của “Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao” như sau: “Phạm Văn Thành, mặc dù chưa bắt được quả tang vậtchứng và hành vi phạm tội, nhưng xét vì tư tưởng cực kỳ nguy hiểm cho nền an ninh xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đề nghị giữ y án chiếu theo Khoản I điều 173 bộ luật hình sự nước CHXHCNVN”. Khoản I điều 173 quy định mức án từ 12 năm đến chung thân hoặc tử hình. Xét ra, như vậy là toà án này đã tuyên án tôi ở mức nhẹ nhất rồi đấy!

Ngày 14 tháng 9 năm 1993, trùng hợp với ngày Hoa-Kỳ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam, chúng tôi bị giải đi trại lao động khổ sai. Không ai trong chúng tôi biết mình sẽ bị giải đi đâu. Tay chân bị cùm xích, chúng tôi bị dồn trên hai chiếc xe. Xe đi theo hướng Bắc sau khi rời Thành Phố HCM. Khi tới trại K3 Xuân Lộc, họ tháo cùm cho bà Trần thị Nhạn. Bà Nhạn là một người nhỏ bé, rất nghèo, bị dính líu vào vụ án hoàn toàn là do sự tình cờ. Bà Nhạn cũng bị xử 12 năm. Họ đã để duy nhất bà Nhạn ở lại trại K3 Xuân Lộc, cách Sài Gòn khoảng 80 cây số. Mười một người đàn ông còn lại bị đưa ra trại A20, Phú Yên, cách thành phố HCM khoảng 600 cây số .



Còn tiếp