|
Bản Phúc Trình Về tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam PHẦN II: Tại các trại tù A. Trại A20 Phú Yên Trại A20 Phú Yên là trại tù được xây dựng từ những năm 1975-1976 do những người Việt Nam trở về từ Hoa-Kỳ trên con tàu mang tên “Việt Nam Thương Tín.” Con tàu này trong biến cố 1975 đã đưa khoảng 2000 người trốn chạy khỏi Việt Nam và đã cập bến Hoa-Kỳ. Sau ít ngày, nhiều người trên chiếc tàu đã quyết định theo tàu trở lại Việt Nam. Thật chua chát và phũ phàng, tất cả đều đã bị bắt giữ và phải tận lực đổ mồ hôi xây dựng nên nơi giam hãm, đày ải chính mình. Đa số đã bị giam giữ mãi đến những năm 1980. Nhiều người đã chết tại trại vì khí hậu nghiệt ngã và chế độ ngược đãi của nhà Cầm Quyền Cộng Sản Việt Nam. Trại tù A20 Xuân Phước là trại tù “kỷ luật” của hệ thống các trại tù Cộng Sản Miền Nam Việt Nam. Những thành phần được coi là “nguy hiểm cho nền an ninh quốc gia” đều bị đày đọa ở đây. Từ ngày được dựng lên đến năm 1984, trại gồm 4 phân trại (gọi là bốn K). Đến năm 1993 chỉ còn lại ba phân trại nhưng trong đó phân trại C không còn giữ tù. Phân trại B giữ tù giam lỏng và được ra ngoài lao động. Còn lại khoảng 600 tù nhân bị tập trung hết tại trại trung tâm (phân trại A). Trong số những tù nhân này, hơn 200 người có án danh liên quan đến những lý do chính trị, như “Gián điệp xâm nhập” (ám chỉ những lực lượng kháng chiến về từ Thái Lan); “Tuyên truyền chống chế độ” (ám chỉ những người đấu tranh cho tự do tôn giáo và có những hành vi, lời nói bài xích chế độ); “Âm mưu lật đổ chính quyền” (ám chỉ những tổ chức hoạt động chống đối, vũ trang hoặc không vũ trang.) Sau năm 1995, tội danh vừa kể được đổi thành “Hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân” và “Dùng chất nổ phá hoại các công trình an ninh quốc gia”. Đời sống tù nhân vô cùng cơ cực. Họ phải lao động rất nặng nhọc, như làm gạch, làm ruộng, đào ao, phá hoang, xẻ gỗ, làm mộc... để làm giàu cho Cán Bộ Quản Tù, trong khi lương thực, và những nhu cầu căn bản chỉ đủ giữ cho họ sống lây lất qua ngày. Tính cho đến năm 1993, tôi đã tận mắt nhìn được trên sổ mộ chí, đã có ít nhất 2000 (hai ngàn) ngôi mộ của tù nhân. Tất cả những ngôi mộ này đều đã bị sập, hoặc sắp sửa bị mất hết vết tích. Những tù nhân có tư tưởng đối lập kiên định đều bị tra tấn rất dã man. Tôi sẽ nêu ra ở đây một số trường hợp điển hình. 1. Trường hợp thứ nhất: ông Nguyễn Văn Bảo: Ông Nguyễn Văn Bảo, nguyên là giáo sư Sử Địa, dạy trung học thời Việt Nam Cộng Hoà, bị bắt khoảng năm 1978 với tội danh “Âm mưu lật đổ chính quyền”. Năm 1984, ông bị bắt quả tang đang luân lưu một tài liệu tư tưởng do ông viết. Tài liệu này là một triết thuyết của nhóm Nhân-Bản-Việt. Ông bị cùm giam liên tục sau vụ này; bị bỏ đói và đánh đập dã man. Nhiều lần ông đã bị treo ngược đầu dọc theo thân cây dừa và bị tù thường phạm, do sĩ quan an ninh trực tiếp chỉ thị, đánh ông bằng gậy. Sĩ quan an ninh này hiện nay là thiếu tá, tên là Lâm, một “hung thần” của trại A20 trong những năm 1984-1993.Bây giờ (tháng 11 năm 1998) ông Nguyễn Văn Bảo trở thành nửa điên nửa tỉnh và mang bệnh phổi rất nặng. Tuổi ông đã ngoài 60, gia đình nghèo khó không thăm nuôi được, hiện Ông đang bị giam giữ tại trại Trung Ương Số 5, Thanh Hoá, thuộc Đội 12, phòng giam số 7. 2. Trường hợp thứ hai: các Linh Mục Nguyễn Luân, Linh Mục Vinh-Sơn Minh và Linh Mục Nguyễn Văn Vàng: Tất cả các vị linh mục này đều đã chết thảm trong buồng cùm biệt giam. Linh mục Nguyễn Văn Vàng chết trong khi hai chân vẫn còn bị cùm dính xuống nền đá xi-măng. Nguyên nhân đưa đến việc ngài bị cùm liên tục gần hai năm là do tư tưởng cương quyết không chịu khuất phục chế độ Cộng Sản của ngài. Ngài đã xây dựng nhân lực cách mạng ngay trong nhà tù để chuẩn bị cho một chính phủ thay thế, ngay khi chế độ Cộng Sản xụp đổ. Ý chí cương quyết của ngài đã phải trả giá bằng chính sinh mạng của ngài. Ngài bị cùm và bỏ đói liên tục, đến độ mỗi lần phải đi khảo cung, ngài chỉ như một xác chết di động, lê từng bước cách khó khăn. Mỗi khi đến gần được các hàng rào cây dại, lần nào ngài cũng quơ vội tay, giật lấy những lá “dâm bụt”, hoặc bất cứ thứ lá gì để nhai ngấu nghiến! Cộng Sản đã chôn ngài ngay bìa trại và không hề báo tin cho gia đình ngài. Khi gia đình của ngài được tin (theo đường dây riêng của tù nhân) liền đến trại để xin đưa thi hài về chôn cất. Nhưng Ban Giám Thị trại đã cương quyết từ chối, viện cớ: “Bộ Nội Vụ không cho phép.” Linh mục Nguyễn Văn Vàng qua đời ngày 03 tháng 6 năm 1985 tại xà lim cùm biệt giam, thuộc phân trại B, trại A20, Xuân Phước. Cuối năm 1993, vào ngày 01 tháng 11, tôi đã vận động tài chánh từ gia đình, và nhờ những người tù đã hết án, lén quật mộ ngài, mục đích để đưa hài cốt ngài về Sài Gòn (Dòng Chúa Cứu Thế). Nhưng chúng tôi bị bất ngờ, vì không hề tìm thấy xương cốt của ngài, huyệt mộ trống rỗng! Cho đến nay chúng tôi không trả lời được lý do tại sao. Linh mục Nguyễn Luân bị cùm biệt giam đến chết, vì tội “gieo rắc mê tín dị đoan” khi ngài tổ chức lén đem Bánh Thánh vào trại tù để cử hành thánh lễ đêm Noel 1985. Ngài bị tố cáo đã cử hành thánh lễ trong đêm và trao Bánh Thánh cho một số tù nhân. Bọn công an đã khảo tra để cố tìm ra những người đã được trao Bánh Thánh. Linh Mục Nguyễn Luân trước sau chỉ im lặng, chịu tra tấn và cùm kẹp cho đến chết. Linh mục Vinh Sơn Minh đã bị cùm đến chết, chỉ vì một lý do rất đơn giản, nhất là đối với người Tây phương, đó là ngài đã không bao giờ chịu viết hàng chữ “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc” trên bất cứ văn bản tự khai nào. Ngài đã giữ lòng ngay thẳng cho đến hơi thở cuối cùng. Trước khi cho chôn ngài, Cộng Sản đã ra lệnh nhồi đầy bụng và họng ngài một dải vải xô rất dài. Các tù nhân thường phạm đã phải rất khó khăn mới dồn hết số vải ấy, được luồn sâu vào họng vị linh mục. Tù nhân, cho tới bây giờ, không ai giải thích được lý do tại sao Cộng Sản đã làm điều này cho ngài sau khi ngài đã chết. Cả ba vị linh mục đều đã chết trong buồng cùm biệt giam vào khoảng thời gian những năm 1985 và 1986. Chúng tôi sẽ cung cấp đầy đủ nhân chứng sống về những sự việc này nếu có sự yêu cầu của các cơ quan Nhân Quyền quốc tế. Tuy nhiên, đây là việc an nguy liên quan đến nhiều người, đòi hỏi sự thận trọng của các cơ quan trách nhiệm, vì tất cả những nhân chứng đều đang sống tại Việt Nam, nhiều người trong đó vẫn còn đang bị Cộng Sản giam cầm. 3. Trường hợp thứ ba: ông Vũ Đình Thụy: Ông Vũ Đình Thụy tên thật là Võ Lâm Tể, nguyên sĩ quan Quân Lực VNCH. Ông bị bắt tại chiến trường năm 1975 đang khi cố thủ một cứ điểm phòng thủ tại Pleiku. Ông bị giam cầm và trả tự do vào năm 1979. Sau khi rời nhà tù, ông tiếp tục hoạt động, thành lập những tổ chức kháng cự chống chính quyền tại các tỉnh Miền Trung Việt Nam. Ông bị bắt lại và bị kết án 20 năm tù. Năm 1984, ông bị bắt quả tang khi đang làm một tập thơ trong tù. Ông bị xử “chồng án” thành chung thân. Ông đã bị đánh đập dã man và hiện đã hư một bên mắt. Ông hiện bị giam tại đội 12, trại Trung Ương 5, Thanh Hoá Việt Nam. Tình trạng sức khoẻ của ông rất tồi tệ. 4. Trường hợp thứ tư: ông Võ Đằng Phương: Ông Võ Đằng Phương, nguyên trung tá Thủy Quân Lục Chiến (QLVNCH). Ông bị giam giữ từ năm 1975, bị xử ”chồng án” trong tù vì đã đưa ra lý thuyết “Cộng Hoà Đệ Tam Cho Việt Nam”. Ông bị đối xử nghiệt ngã suốt 18 năm trời. Tháng 8 năm 1993 ông được trả tự do. Từ ngoài nhà tù A20, ông tiếp tục tham gia vào chiến dịch phổ biến những tư liệu nhân quyền liên quan đến nhà tù A20 ra thế giới. Chỉ vài tháng sau, chúng tôi được biết ông đã chết trong một bệnh viện tại thành phố HCM. Cái chết của ông gây nghi ngờ cho tất cả những người liên quan đến sự việc đã xảy ra tại trại A20 vào ngày 28 tháng 10 năm 1994 (một số chi tiết liên quan đến sự việc này đã được trình bày trong cuốn “Cuộc Nổi Dậy Ở Trại A20” do nhà xuất bản Quê Mẹ tại Pháp ấn hành năm 1997). Lý do khiến chúng tôi nghi ngờ về cái chết của ông vì ông Võ Đằng Phương vốn là một người có bộ não rất tốt và có một sức khoẻ rất bền bỉ. Trong bản phúc trình này, tôi trân trọng nêu lên nghi vấn về cái chết của ông Phương. Chúng tôi có những dữ kiện để nghi ngờ rằng ông đã bị thủ tiêu trong bệnh viện bằng phương tiện y tế. Xin công luận quan tâm đặc biệt đến trường hợp này. 5. Trường hợp thứ năm: ông Phạm Mạnh Long (tức Lê Phạm Long): Tương tự như trường hợp ông Võ Đằng Phương. Ông Phạm Mạnh Long là một trong những người đã trực tiếp tham gia trong cuộc nổi dậy của tù nhân ngày 28 tháng 10/ 1994. Ông Long đã tham gia cố vấn cho Ban Hành Động Bảo Vệ Danh Dự Tù Nhân Chính Trị. Ông đã chết, cũng tại bệnh viện, chỉ vài tháng sau khi rời khỏi trại giam. Chúng tôi biết chắc chắn ông có một sức khoẻ rất tốt và luôn có những hoạt động cũng như sinh hoạt cách mẫu mực. 6. Trường hợp thứ sáu: Bác Sĩ Nguyễn Kim Long: Sau hơn 10 năm bị giam tại trại A20 Xuân Phước vì lý do hoạt động trong “Cao Trào Nhân Bản” (do Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế lãnh đạo). Năm 1995 ông bị đưa ra Trại Trung Ương 5 Thanh Hoá. Hơn 1 năm sau ông đã chết vì bệnh lao. Ông chết vì không có thuốc chữa trị. Gia đình quá nghèo nên không thể chữa chạy được cho ông, trong khi nhà tù Cộng Sản không hề lo lắng thuốc thang cho trường hợp bệnh lao nặng trầm kha này. Phải chăng Cộng Sản đã cố ý giết ông Nguyễn Kim Long? 7. Trường hợp thứ bảy: Tu Sĩ Mai Đắc Chương: Ông là một tu sĩ Công Giáo thuộc dòng Đồng Công (Thủ Đức), bị bắt và giam tù vì đã ngăn cản việc Công An ngang nhiên tịch thu đất đai và Nhà Nguyện của Dòng Đồng Công tại Thủ Đức năm 1985. Ông cũng đã rao giảng Kinh Thánh và kêu gọi giáo dân đừng khiếp nhược trước các thế lực tàn bạo của con người Cộng Sản; nhưng phải biết hy sinh, đấu tranh cho công bằng và công lý. Ông bị gán tội “Tuyên truyền chống phá chế độ XHCN” với án tù 17 năm. Ông bị giam giữ nghiệt ngã mặc dù đã gần 70 tuổi, sức khoẻ đã rất yếu kém. Hiện ông đang bị giam giữ tại trại Trung Ương 5, Thanh Hoá, Việt Nam. 8. Trường hợp thứ tám: ông Nguyễn Thành: Hiện ông Thành đã ra khỏi tù sau 19 năm bị giam giữ. Thời gian ở tù ông bị tra tấn đến đứt gân nhượng của cả hai chân. Hiện ông sinh sống tại Huế, tàn tật và lao phổi nhưng vẫn bị Cộng Sản quản chế rất chặt chẽ. 9. Trường hợp thứ chín: ông Lầu Sĩ Phúc: Ông Lầu Sĩ Phúc sinh khoảng 1965. Cha ông là một cựu chiến binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Mẹ ông mất sớm từ khi ông còn nhỏ nên một người Công Giáo đã nhận nuôi ông đến khôn lớn. Ông bị bắt trong vụ án “Dòng Đồng Công” năm 1985 và bị kết án 18 năm tù. Màu da đen và thân hình to lớn của ông đã là một yếu tố gây thêm động lực tra tấn cho những người công an Việt Nam trong suốt thời gian ông bị bắt cũng như giam cầm. Hiện ông vẫn bị giam giữ tại trại Nam Hà, bắc Việt Nam. Cha mẹ nuôi của ông đã rất già, không còn đủ khả năng nuôi ông trong tù. Còn tiếp |