165 VỊ SƯ VN TỪ HUẾ GỬI THƯ CHO CLINTON XIN GIÚP TỰ DO TÔN GIÁO

Ðòi Hà Nội để Hòa Thượng Nhất Hạnh tự do về nước giảng dạy, đòi CSVN trả tài sản của GHPGVNTN, đòi phụ cấp cho cựu quân cán chính VNCH...

HUẾ (VB) - Gần 200 vị sư quốc nội đã gửi Thỉnh Nguyện Thư tới Tổng Thống Clinton để xin can thiệp về quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam.

Bản văn dài 6 trang, được scan thành hồ sơ điện toán và gửi qua email tới Việt Báo, có ghi tên và chữ ký củ a 165 Tăng Sĩ - với người ký đầu tiên là TT Thích Thiện Hạnh và người thứ 165 là TT Thích Giác Tịnh.

Bản văn ghi là thực hiện tại Huế ngày 7/11/2000. Thứ tự sắp xếp chữ ký không theo trật tự ABC và cũng không ghi vị trí hay chức vụ trong Giaó Hộị Hình như danh sách từ 1 tới 165 là sắp theo thứ tự ký tên trước hay sau; thêm nữa tất cả đều là các vị Tăng Ni tại Thừa Thiên - Huế. Toàn văn như sau.

Thỉnh Nguyện Thư

Kính gởi: Ngài Bill Clinton, Tổng Thống Hoa Kỳ và Phái Ðoàn,

Thưa Ngài Tổng Thống và Phái Ðoàn,

Nhân chuyến viếng thăm lịch sử của Ngài và phái đoàn Hoa Kỳ đến Việt Nam, chúng tôi ký tên dưới đây là các thành viên Tăng Ðoàn Phật giáo Thừa Thiên-Huế, trướchết, trân trọng gởi tới Ngài và phái đoàn lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Ðồng thời, chúng tôi xin gởi thư này đến Tổng Thống và Phái Ðoàn, trình bày những suy nghĩ và thỉnh nghuyện một số vấn đề liên quan đếnViệt Nam như sau:

1- Vào thập niên 70, chính phủ Hoa Kỳ thay đổi chiến lược tại Châu Á và rút quân có kế hoạch tại Miền NamViệt Nam. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính phủ Hà Nội nắm toàn quyền đất nước Việt Nam. Quân nhân, cán chính tại Miền Nam Việt Nam đều bị học tập cải tạo, đất đai nhàcửa của họ đều bị chính quyền Hà Nội trưng dụng. Một số sĩ quan, công chức của chính quyền Miền Nam, sau khi đã học tập trong chế độ Cộng Sản Việt Nam, họ lại được chính phủ Hoa Kỳ đưa sang Hoa Kỳ định cư theo diện HO. Số quân nhân, cán chính còn lại đã bị chính quyền cộng sản Hà Nội phân biệt đối xử. Không chỉ bản thân của các quân nhân cán chính, mà còn con cháu của họ nữạHai mươi lăm năm qua, hàng triệu quân nhân cán chính của chính phủ Miền Nam Việt Nam, sống bị nghi ngờ, bạc đãi, nghèo nàn và tủi nhục.

2- Sau năm 1975, các Tôn giáo tại Miền Nam Việt Nam, chính phủ Hà Nội đối xử hết sức tồi tệ, các cơ sở Tôn giáo phần lớn bị Chính phủ Hà Nội tịch thu, nhất là các cơ sở Văn hóa, Giáo dục và Xã hội, ngay cả một số cơ sở thờ tự tín ngưỡng cũng bị trưng dụng. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN), là Giáo hội bị Chính phủ Hà Nội đàn áp có kế hoạch va ợkhông dung mỵ Các vị lãnh đạo GHPGVNTN, như Hòa Thượng Thích Thiện Minh, Cố Vấn Chỉ Ðạo Viện Hóa Ðạo, bị bắt giam vô cớ, không xét xử và bị bức tử trong nhà tù. HòaThượng Thích Huyền Quang, Phó Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo, bị bắt giam và lưu đày vô cớ gần 20 năm tại tỉnh Quảng Ngãị Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, Tổng Thư Ký Viện Hóa Ðạo, bị bắt giam và lưu đày tại tỉnh Thái Bình. Hòa Thượng Thích Ðức Nhuận, Nguyên Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống GHPGVNTN, bị bắt giam ở trại tù Xuân Lộc và Hàm Tân. Một số vị khác phải tìm cách đi ra nước ngoài tỵ nạn. Còn một số vị khác nữa thì bị khống chế buộc phải nằm yên. Và bao nhiêu cơ sở Văn hóa, Giáo dục,Xã hội, đất đai của các tự viện... đều bị Chính phủ Hà Nội tịch thu hoặc "mượn". Rồi năm 1981, Chính phủ Hà Nội lại cho dựng lên một Phật giáo Nhà Nước, mệnh danh là Giao Hội Phật GiáoViệt Nam, một Giáo hội không có tính Dân chủ, không chuyên chở được nội dung của Phật giáo mà chỉ để phục vụ cho Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Ðây là một niềm đau thương mà Tăng Ni Phật tử Việt Nam phải chịu đựng suốt 25 năm qua, kể từ khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt.

3- Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một vị Thiền sư Việt Nam,hết lòng phụng sự hòa bình và đã đưa ra nhiều phương pháp thiền tập có hiệu quả, đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho đời sống tâm linh của hàng triệu thiền sinh khắp thế giớị Năm 1966, Thiền sư đã được Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN ủy cử, đi ra các nước để vận động hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Thiền sư cũng đã nhiều lần yêu cầu Chính phủ Việt Nam hiện nay cho về nước để thăm quê hương, hướng dẫn Tăng Ni Phật tử tu tập và giảng dạy Phật Pháp tại các tự viện, cũng như các nơi công cộng. Nhưng Thiền sư đã bị Chính phủ Cộng Sản Việt Nam từ chối.

Trong lúc đó, phần lớn các vị nguyên thủ quốc gia trên thế giới và ngay cả nước Cộng Sản Trung Hoa, cũng đã mời Thiền sư đến hướng dẫn Thiền tập cho nhân dân nơi xứ sở của họ.

Vào ngày 11 tháng 7 năm 2000, Tăng Ðoàn Thừa Thiên- Huế có gởi một Kiến Nghị Thư đến Tỉnh Ủy và Chính quyền Tỉnh Thừa Thiên-Huế. Ngày 12 tháng 9 năm 2000, Tăng Ðoàn Thừa Thiên-Huế cũng đã gởi Kiến Nghị Thư đến các vị lãnh đạo Ðảng và Chính quyền Trung Ương Việt Nam, xin cứu xét một số vấn đề liên quan đến Phật Giáo Thừa Thiên-Huế, nhưng đến nay vẫn chưa được cứu xét.

Thưa Ngài Tổng Thống và Phái Ðoàn,

Từ những vấn đề trên, chúng tôi xin yêu cầu Ngài Tổ ng Thống và Phái Ðoàn, khi đến thăm Việt Nam, quan tâm và can thiệp với Chính phủ Hà Nội, cũng như yêu cầu Tổng Thống và Quốc Hội Hoa Kỳ quan tâm về những thỉnh nguyện của chúng tôi sau đây:

1 - Yêu cầu với Chính phủ Cộng Sản Việt Nam để GHPGVNTN được tự do hoạt động như trước năm 1975.

2 - Yêu cầu với Chính phủ Cộng Sản Việt Nam làm sáng tỏ cái chết cũa Hòa Thượng Thích Thiện Minh ở trong nhà tù Việt Nam cuối thập niên 70. Can thiệp để chính phủ ViệtNam trả tự do cho Hòa Thượng Thích Huyền Quang, hiện naylà xử lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN, đang bị giam cầm ơ Ưtỉnh Quảng Ngãị Can thiệp để Hòa Thượng Thích QuảngÐộ, hiện là Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN,Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ, Phó Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo kiêm Tổng Thư Ký GHPGVNTN, được tự do hoạt động Tôn giáo theo lý tưởng của GHPGVNTN. Ðồng thời, yêu cầu Chính phủ Việt Nam trả lại toàn bộ động sản và bất động sản của GHPGVNTN cho GHPGVNTN.

3 - Yêu cầu với Chính phủ Việt Nam để Thiền sư Thích Nhất Hạnh được về nước và được tự do giảng dạy Phật Pháp cho Tăng Ni Phật tử Việt Nam.

4 - Yêu cầu với Chính phủ Việt Nam giải quyết những nguyện vọng của Tăng Ðoàn Thừa Thiên-Huế, đã ghi trong Thư Nhận Ðịnh và Kiến Nghị đề ngày 11 tháng 7 năm 2000,đã gởi đến chính quyền địa phương và Trung Ương.

5 - Yêu cầu Tổng Thống và Quốc Hội Hoa Kỳ có chính sách phụ cấp đặc biệt cho các gia đình quân nhân cán chính, thương binh của chính quyền Miền Nam Việt Nam trước đây hiện còn ở Việt Nam, để xoa dịu phần nào nỗi đau của họ, đã bị phân biệt đối xử suốt 25 năm qua, bởi chính quyền Hà Nội.

Thưa Ngài Tổng Thống và Phái Ðoàn,

Vì tôn trọng sự thật mà chúng tôi phải trình bày đến Ngài và Phái Ðoàn, một số hiện trạng đáng buồn của đất nước chúng tôi. Những điều này, chúng tôi đa ờtrình bày với Chính phủ Việt Nam, nhưng Chính phủ Việt Nam đã không chịu lắng nghe và không quan tâm giải quyết. Do đó, chúng tôi mới phiền đến Ngài và Phái Ðoàn, làmột điều bất đắc dĩ. Với uy tín của Ngài và Chính phủ Hoa Kỳ đối với Chín hphủ Việt Nam, chúng tôi hy vọng những yêu cầu của chúng tôi trên đây sẽ trở thành hiện thực trong chuyến viếng thăm Việt Nam lịch sử này, của Ngài và Phái Ðoàn đối với hai đất nước, sau 25 năm chiến tranh Việt Nam chấm dứt.

Chúng tôi trân trọng kính chào Ngài Tổng Thống và Phái Ðoàn.

Làm tại Huế, ngày 07 tháng 11 năm 2000.

Ðồng ký tên :

01. Thích Thiên Hạnh; 02. Thích Diệu Tánh; 03. Thích Minh Nhật; 04. Thích Minh Toàn; 05. Thích Minh Phước; 06. Thích Lệ Ðạt; 07. Thích Lương Phương; 08. Thích Chí Thắng; 09. Thích Thái Hòa; 10. Thích Thiện Tánh; 11. Thích Như Ðạt; 12. Thích Minh Thiện; 13. Thích Minh Ý; 14. Tâm Trung; 15. Thích Minh Tâm; 16. Thích Minh Phương; 17. Thích Minh Như; 18. Thích Minh Bình; 19. Thích Minh Tín; 20. Thích Minh Quan; 21. Thích Minh Chánh; 22. Tỳ Kheo Thích Hải Bình; 23. Thích Minh Thuần; 24. Thích Thái Tâm; 25. Thích Nhật Quang; 26. Thích Hồng Quang; 27. Thích Quảng Hồng; 28. Thích Chí Mậu; 29. Thích Trí Tựu; 30. Thích Hải Chánh; 31. Thính Hải Thịnh; 32. Thích Hải Viên; 33. Thích Hải An; 34. Thích Hải Ðàm; 35. Thích Hải Quang; 36. Thích Hải Lạc; 37. Thích Thái Hưng; 38. Thích Minh Tâm ; 39. Thích Phước Vân; 40. Thích Từ Ðạo; 41. Thích Từ Nguyện ; 42. Thích Từ Hiếu; 43. Thích Từ Tánh; 44. Thích Thái Tuệ; 45. Thích Từ Minh; 46. Thích Pháp Lượng; 47. Thích Tâm Hiền; 48. Thích Minh Pháp; 49. Thích Từ Niệm; 50. Thích Huyền Tâm; 51. Thích Từ Tâm; 52. Thích Hải Liên; 53. Thích Hải Thịnh; 54. Thích Vân Pháp; 55. Thích Từ Chơn ; 56. Thích Pháp Bình; 57. Thích Huyền Thọ ; 58. Thích Từ Hải; 59. Thích Công Minh; 60. Thích Thanh Hương; 61. Thích Thanh Tâm; 62. Thích Thanh Nguyên; 63. Thích Tín Tâm; 64. Thích Tín Giải; 65. Thích Từ Chiếu ; 66. Thích Từ Trí ; 67. Thích Từ Thông; 68. Thích Minh Tấn; 69. Thích Từ Phước; 70. Thích Quảng Hạnh; 71. Thích Minh Luân; 72. Thích Từ Sơn; 73. Thích Minh Nhơn; 74. Thích Thái Tịnh ; 75. Thích Từ Dung; 76. Thích Thiện Tấn; 77. Thích Chơn Phương; 78. Thích Chơn Trí; 79. Thích Pháp Lạc; 80. Thích Pháp Hiền; 81. Thích Pháp Ngộ; 82. Thích Pháp Mẫn ; 83. Thích Pháp Không ; 84. Thích Pháp Thông ; 85. Thích Pháp Hướng; 86. Thích Pháp Mân; 87. Thích Pháp Hoa; 88. Nguyên Thành; 89. Pháp Quang; 90. Pháp Thượng; 91. Nguyên Hậu ; 92. Nguyên Hiếu; 93. Thích Pháp Ðạo; 94. Thích Minh Thường; 95. Tâm Ngộ; 96. Nguyên Nguyện; 97. Thích Vân Ðức ; 98. Thích Thiện Ý; 99. Vân Từ; 100. Thích Thiện Chơn; 101. Thích Khế Viên ; 102. Thích Toàn Lạc; 103. Thích Tâm Không; 104. Thích Thái Nguyện; 105. Thích Tâm Phước; 106. Thích Tánh Nhơn; 107. Thích Chơn Niệm; 108. Thích Phước An; 109. Thích Phước Quang; 110. Thích Lưu Thanh; 111. Thích Ðạo Chánh; 112. Thích Huệ Thông; 113. Thích Vân Từ ; 114. Quảng Chánh; 115. Quảng Hối; 116. Quảng Tính ; 117. Tín Trí ; 118. Tín Ðạo; 119. Tín Hội; 120. Tín Giới; 121. Tín Pháp; 122. Tâm Trực; 123. Tâm Tín ; 124. Sanh Cường; 125. Ðình Ðại; 126. Tâm Quý; 127. Chơn Phú; 128. T. Quang Dụ; 129. Thích Phước Cần; 130. Thích Phước Khai; 131. Thích Minh Ðộ; 132. Thích Minh Chuyển ; 133. Thích Minh Tín; 134. Thích Minh Trì; 135. Thích Minh Không; 136. Thích Minh Thư ; 137. Thích Minh Tổng; 138. Thích Minh Ðẳng; 139. Thích Minh Diệu; 140. Thích Minh Lăng ; 141. Thích Minh Lương; 142. Thích Minh Hữu; 143. Thích Minh Hy; 144. Thích Minh Trí; 145. Thích Tâm Bình; 146. Thích Tâm Bi; 147. Thích Tâm Hỷ; 148. Thích Minh Huệ; 149. T. Tâm Dũng; 150. Thích Minh Nghiêm; 151. Thích Minh Ðức; 152. Thích Minh Cẩn; 153. Thích Minh Thế ; 154. Thích Minh Trạm ; 155. Thích Tánh Ðạt; 156. Thích Từ Giám; 157. Thích Giác Nghiêm; 158. Quảng Ðộ; 159. Tâm Hoa; 160. Thích Từ Ngộ ; 161. Thích Từ Giác ; 162. Thích Khải Ngộ; 163. Tâm Nhật; 164. Quảng Bình; 165. Thích Giác Tịnh.

THỈNH NGUYỆN THƯ này gồm có 6 trang và 165 chữ ký của cácTăng sĩ tại Thừa Thiên Huế. Bản sao kính gởi:

- HòaThượng Thích Huyền Quang - Xử Lý Viện Tăng ThốngGHPGVNTN - Hòa Thượng Thích Ðức Nhuận - Cố Vấn Chỉ ÐạoViện Hóa Ðạo GHPGVNTN - Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ - Viện Trưởng Viện HóaÐạo GHPGVNTN - Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ - Phó Viện Trưởng kiêm Tổ ngThư Ký Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN - Hội Ðồng Lãnh Ðạo Tăng Ðoàn Lang Mai tại Pháp Quốc - Văn Phòng GHPGVNTN ở các Châu - Trú trì các Tự Viện để kính tường.