Bảnđiều trần về tình trạng tự do tôn giáo tại Việt Nam
gởi vàđọc trước Ủy hội Tự do Tôn giáo Thế giới
của chính phủ Hoa Kỳ ngày 13.2.2001

Bhikkhu Thích Thái Hòa
Cố Ðô Huế, ngày 30 tháng 01 năm 2001.

Kính gởi: Ngài Elliott Abrams
Chủ Tịch ủy hội Tự do Tôn giáo Thế giới Chính phủ Hoa Kỳ.

Kính thưa Ngài,

Tôi đã nhận được thư mời của Ngài gởi cho tôi đề ngày 10 - 01 - 2001, qua Email ngày 13 - 01 - 2001, Ngài đã thỉnh cầu tôi viết Bản điều trần về tình trạng tự do tôn giáo trên quê hương tôi, với những hoàn cảnh đương đầu chủ yếu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Ðặc biệt hơn, Ngài muốn tôi chú ý trình bày đến các vấn đề, trong chứng cứ của tôi như:

- Hậu quả của những khó khăn và trở ngại từ chính sách của chính quyền Việt Nam mà tôi đã gặp phải trong khi làm một Tăng Sĩ Phật giáo Việt Nam của tôi.

- Hậu quả do những trở ngại từ chính sách của Chính phủ Việt Nam mà toàn thể cộng đồng Phật giáo đang gặp phải.

- Yêu cầu tôi đưa ra nhận định, việc phê chuẩn "Hiệp ước Thương mại Song phương Mỹ Việt", có đưa đến việc thực hiện nhân quyền của Chính phủ Việt Nam và có thể đưa chính sách của Chính phủ Việt Nam hướng về tự do Tôn giáo hay không?

- Và chúng ta có thể làm gì để giúp đỡ cải thiện Tự do Tôn giáo ở Việt Nam trong thời gian trước mắt và lâu dài?

Ðể đáp ứng lời thỉnh cầu của Ngài, tôi viết và gởi Bản điều trần đến Ngài như là một chứng cứ, không chỉ bằng tư liệu mà còn bằng cả những gì tôi thấy và biết qua những hành xử của chính quyền Cộng Sản Việt Nam đối với tôi và Giáo hội tôi, để Ngài có dịp trình bày trước Hội Nghị vào ngày 13 - 02 - 2001 của Quốc Hội Hoa Kỳ, qua những điểm chính như sau:

I. Hoàn cảnh và sự khó khăn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Phải nói rằng: Người có thẩm quyền trình bày vấn đề này với Hội Nghị không phải là tôi, mà chính là Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ. Hai Ngài là những vị trực tiếp lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và trực tiếp đương đầu với chính quyền Cọng Sản Việt Nam không những bằng sách lược mà còn ngay cả sinh mệnh để duy trì và bảo tồn Pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất suốt hai mươi sáu năm qua.

Hoà Thượng Thích Huyền Quang trước năm 1975 là Phó Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN. Năm 1977, Ngài đã bị chính quyền Cọng Sản bắt giam tù ở Trại Tù Phan Ðăng Lưu - Sài Gòn, vì tội "Không chịu thỏa hiệp với chính quyền Cọng Sản" và đã được thả ngày 12 - 12 - 1978.

Năm 1981, sau khi chính quyền Cọng Sản Việt Nam cưỡng bức Hòa Thượng Thích Trí Thủ và những vị Tăng Sĩ thành lập Giáo hội Phật giáo Nhà Nước của Cọng Sản Việt Nam, đến ngày 25 - 02 - 1982, Ngài đã bị chính quyền Cọng Sản cưỡng bức lưu đày từ chùa ‰nên Quang, 243 Sư Vạn Hạnh - Chợ Lớn - Sài Gòn đến chùa Hội Phước - Thị Xã Quảng Ngãi, và bấy giờ chính quyền Cọng Sản đã biến chùa Hội Phước trở thành nhà tù, có công an ngày đêm canh gác và nghiêm cấm hoặc kiểm soát gắt gao những người vào ra chùa. Năm 1993, Ngài lại bị di chuyển đến một nhà tù do chính quyền Cộng Sản Việt Nam mới xây cho Ngài, trong khuôn viên chùa Quang Phước ở huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

Như vậy, từ năm 1982 đến 2001, Hòa Thượng Thích Huyền Quang, vị Lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, bị chính quyền Cọng Sản lưu đày gần 20 năm, không có can án, không có xét xử, mặc dù Ngài đã nhiều lần lên tiếng yêu cầu chính quyền Cộng Sản Việt Nam xét xử Ngài, vì tội gì mà phải bị lưu đày như thế này, nhưng chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã cố tình không giải quyết.

Năm 1992, Hòa Thượng Thích Huyền Quang khâm thừa Di Chúc của Cố Ðại Lão Hòa Thượng Thích Ðôn Hậu - Chánh Thư ký Xử lý Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, nhân danh Quyền Viện trưởng Viện Hóa Ðạo để củng cố lại cơ sở Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, nhưng cũng đã bị chính quyền Cộng Sản đàn áp khốc liệt và tinh vi hơn.

Năm 1999, Ðại Hội Kỳ VIII của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Hoa Kỳ, Ngài đã được Ðại Hội cung thỉnh giữ chức Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống GHPGVNTN.

Và Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, Tổng Thư Ký Viện Hóa Ðạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã bị chính quyền Cọng Sản Việt Nam bắt giam từ ngày 06 - 04 - 1977, tại nhà tù Phan Ðăng Lưu với tội "Làm Tôn giáo cũng là làm Chính Trị", và đã được thả vào ngày 12 - 12 - 1978.

Năm 1981, Nhà Nước Cọng Sản Việt Nam đã cưỡng bức thành lập GHPG Nhà Nước, thì ngày 25 - 02 - 1982, Hoà Thượng đã bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam cưỡng bức lưu đày từ Thanh Minh Thiền Viện ở Thành phố Hồ Chí Minh, đến xã Vũ Ðoài, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình để quản chế không có lý do, không có xét xử, trải qua 10 năm đày ải không xét xử, nên Hòa Thượng đã phản đối chính quyền Cọng Sản Việt Nam bằng cách tự động trở về cư trú tại chỗ cũ tức là Thanh Minh Thiền Viện ở Thành phố Hồ Chí Minh. Và vào ngày 25 - 03 - 1992, Sở Công An Thành phố Hồ Chí Minh đến tại Thanh Minh Thiền Viện đọc lệnh trục xuất, nhưng Ngài không thi hành lệnh, vì lệnh sai với luật pháp Quốc gia quy định.

Ngày 04 - 01 - 1995, Ngài lại bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam bắt bỏ tù tại trại giam Nam Hà chỉ vì nhân danh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đi cứu trợ đồng bào lũ lụt Miền Tây, và Ngài đã được phóng thích vào ngày 30.8.1998.

Năm 1999, Ngài đích thân ra thăm Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại Quảng Ngãi, nhưng Ngài đã bị chính quyền Cộng Sản cưỡng bức đưa về lại Sài Gòn. Và cũng chính năm này, Ngài đã được Ðại Hội VIII, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tổ chức tại Hoa Kỳ cung thỉnh giữ chức vụ Viện trưởng Viện Hóa Ðạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Năm 2000, trận lũ tàn phá gây thiệt hại nặng nề cho nhân dân Miền Tây Việt Nam, Ngài đã trực tiếp dẫn phái đoàn nhân danh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đi cứu trợ, nhưng khi đến địa điểm cứu trợ, Ngài và phái đoàn đã bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam gây khó khăn, không cho phép cứu trợ với nhân danh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Tôi chỉ nêu lên một vài sự kiện chính yếu về sự đương đầu và khó khăn của Quý vị Lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Việt Nam mà sau khi chính quyền Cộng Sản Việt Nam đánh chiếm Miền Nam Việt Nam và có những kế hoạch triệt tiêu Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất như sau:

1. Hạn chế và không cho bất cứ ai đi tu nhập hộ khẩu ở trong chùa.

2. Triệt tiêu hệ thống giáo dục, văn hóa và từ thiện xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

3. Triệt tiêu, phân hóa và cô lập các vị Lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Cố Hòa Thượng Thích Thiện Minh, Cố Vấn Chỉ Ðạo Viện Hóa Ðạo bị bắt tù không xét xử và bị bức tử ở trong tù năm 1978. Hòa Thượng Thích Ðức Nhuận, Nguyên Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và các Thượng Tọa Tuệ Sĩ, Trí Siêu, Nguyên Giác, Phước Viên, Không Tánh, Trí Tựu, Hải Tạng, Hải Chánh, Hải Thịnh, Nhật Ban, Hạnh Ðức, Ni Sư Trí Hải, Nhật Khương và nhiều vị Tăng Ni Phật Tử khác đã bị đi ở tù vào những thập niên 80 và 90.

4. Triệt hạ các cơ sở tín ngưỡng Phật giáo, khiến tháng 11 năm 1975, 12 vị Tăng Ni tại Thiền Viện Dược Sư ở Rạch Giá, Cần Thơ đã tự thiêu để phản đối. Và họ cũng đã triệt hạ Tượng đài Quán Thế êm tại Biển Hồ Pleiku, và sau đó tiến hành triệt hạ các Tượng đài Bồ Tát Quán Thế êm lộ thiên ở Công viên Phan Bội Châu - Huế. Và những năm đầu của thập niên 80, các đình làng miếu vũ, chùa ở Việt Nam, một số bị đập phá, một số được sử dụng để làm kho lẫm, hoặc sử dụng làm cơ quan Nhà Nước. Ðiều này rõ ràng nhất là quyết định thượng khẩn Số 525 QÐUB do ông Nguyễn Văn Ðài Phó Chủ Tịch UBND Tỉnh Bình Trị Thiên ký ngày 7 tháng 8 năm 1980, Ðiều 1: "Di chuyển chùa Nam Sơn ở Thôn Thanh Thủy Thượng, xã Thủy Dương, huyện Hương Phú đi nơi khác để giao đất cho xây dựng Nhà máy sợi Liên Hợp Dệt Huế theo Quyết định của Chính phủ".

Ðiều 2: "UBND Huyện Hương Phú chỉ đạo UBND xã Thủy Dương và các thành viên nhà chùa tìm biện pháp thích hợp, khẩn trương di chuyển chùa và giao đất xây dựng cho Nhà Máy Sợi đến ngày 15 tháng 08 năm 1980 phải hoàn thành dứt điểm."

Ðứng trước tình trạng bị đàn áp có kế hoạch và lâu dài ấy của chính quyền Cộng Sản Việt Nam, nên các Tăng Sĩ thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất như: Hòa Thượng Thích Mãn Giác, Hoà Thượng Thích Hộ Giác và các vị Tăng Sĩ trẻ cũng như nhiều Cư sĩ Phật giáo đã tìm cách đi ra nước ngoài để được sống tự do và có cơ hội để bảo vệ Giáo hội, bảo vệ Phật giáo Việt Nam. Nhưng chính quyền Cọng Sản Việt Nam không những đã tìm đủ mọi cách để triệt hạ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bằng mọi hình thức và mọi sách lược ở trong nước, như chỉ thị mật Số 125/TBDV do ông Phan Minh Tánh - Trưởng Ban Dân Vận Trung ương ký ngày 17 tháng 08 năm 1992 để chỉ thị cho các cấp Tỉnh, Huyện thực hiện những điểm chủ yếu đối với Hòa Thượng Thích Huyền Quang như sau:

1. Không cho Hòa Thượng Thích Huyền Quang sử dụng chùa làm cái gọi là "Trụ Sở Viện Hóa Ðạo".

2. Không cho Hòa Thượng Thích Huyền Quang sử dụng khuôn dấu Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất mà buộc phải giao khuôn dấu cho Giáo hội Phật giáo Nhà Nước hoặc Chính quyền Tỉnh.

3. Không cho sử dụng chức vụ Viện trưởng Viện Hóa Ðạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
4. Hòa Thượng đi đâu là phải được Chính quyền nơi đến đồng ý.

Cũng từ chỉ thị mật này, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất lại bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam các cấp tiếp tục đàn áp một cách khốc liệt và có kế hoạch, nên Hòa Thượng Thích Huyền Quang - Quyền Viện trưởng Viện Hóa Ðạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã đưa ra Tuyên Cáo số 024 VPLV - VHÐ, ngày 7.11.1992, có 9 điểm. Vậy, tôi xin trích dẫn Ðiểm 6 và Ðiểm 8 làm chứng cứ để ủy Hội thấy rõ tình trạng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã phải đương đầu với chính quyền Cộng Sản Việt Nam suốt 26 năm qua là như thế nào.

Ðiểm 6: Ðảng Cộng Sản Việt Nam không có quyền phủ nhận sự hiện diện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, nhưng rất có quyền đàn áp, bắt bớ, giam cầm... như đã làm trong 17 năm qua. Trước bạo lực đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chỉ biết lấy sức mạnh vô úy, tinh thần ôn hòa và chủ trương bất bạo động để đương đầu chịu đựng, như đã từng chịu đựng trong Pháp nạn năm 1963, dù Pháp NẠN LẦN THỨ HAI này lâu dài hơn, nguy hiểm hơn và khổ đau tang tóc cũng nhiều hơn.

Ðiểm 8: Nếu trong những ngày sắp tới, công cuộc vận động phục hồi sinh hoạt của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam dẹp tan bằng bạo lực, thì coi như Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã chết, và đương nhiên tất cả những thứ nhân quyền, dân chủ, tự do... trên đất nước này cũng sẽ không còn. Vì Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là một Giáo hội có truyền thống, có chính nghĩa, có thành tích nhất định với lịch sử Dân tộc mà không còn tồn tại được, thì thử hỏi các quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng... làm sao có thể có được dưới một chế độ độc Ðảng cầm quyền, như Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam.

Không những ở trong nước chính quyền Cộng Sản Việt Nam đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất một cách thâm độc như vậy, mà còn tìm đủ mọi hình thức để triệt hạ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở hải ngoại, cụ thể là qua văn thư Mật số 023/HV của ông Nguyễn Ðình Túy, Trưởng phòng P18, ký ngày 24.6.1999, với nội dung là tìm đủ mọi cách để triệt hạ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở Hải ngoại.

Thưa quý vị!

Quý vị chỉ cần nhìn vào các sự kiện chính yếu mà tôi đã nêu lên sự khó khăn của hai nhà lãnh đạo và các văn kiện triệt hạ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở trên, cũng đủ để chứng minh cho Hội Nghị biết rằng: Trên quê hương tôi, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã, đang và sẽ bị đàn áp một cách tinh vi và có kế hoạch lâu dài của chính quyền Cộng Sản Việt Nam suốt 26 năm qua.

Thưa quý vị,

Những gì tôi trình bày về sự khó khăn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Việt Nam, qua hai nhà lãnh đạo Giáo hội tại quê hương chúng tôi là bằng chứng hết sức chính xác. Xin quý vị có thể cử phái đoàn trực tiếp đến gặp hai Ngài để xác chứng lại những gì tôi đã trình bày. Quý vị hãy biết cho rằng, Hòa Thượng Thích Huyền Quang năm nay đã 83 tuổi, già và bệnh. Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ năm nay 74 tuổi bị bệnh tiểu đường và áp huyết cao, tình trạng sức khỏe của các Ngài không cho phép ai có lương tâm với vấn đề Tự do Tôn giáo tại Việt Nam mà nhất là quan tâm đến sự khó khăn và đương đầu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đối với chính quyền Cộng Sản Việt Nam suốt 26 năm qua thì không thể chần chờ, mà hãy tức khắc tìm cách hỗ trợ và gặp các Ngài ngay. Vì chính các Ngài là chứng nhân hơn bất cứ sự chứng nhân nào khác. Do đó, tôi đề nghi, Quốc Hội Hoa Kỳ mà nhất là ủy Hội Tự do Tôn giáo Thế Giới của Chính phủ Hoa Kỳ cử phái đoàn đến gặp hai Ngài để quý vị có thêm nhiều sự kiện về Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị đàn áp khốc liệt và kéo dài suốt hơn một phần tư thế kỷ qua.

Thưa quý vị.

Nếu quý vị hỏi tình trạng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất với chính quyền Cộng Sản Việt Nam, thì họ sẽ trả lời như sau:

1. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là vấn đề của nội bộ Phật giáo, chính quyền không can dự.

2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã hoà nhập vào Giáo hội Phật giáo Nhà Nước năm 1981, nên không còn danh xưng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất nào tại Việt Nam nữa.

Nếu quý vị hỏi về tình trạng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất với chính quyền Cộng Sản Việt Nam, mà chính quyền Cộng Sản Việt Nam trả lời như trên mà quý vị tin là quý vị đã bị họ đánh lừa sự thật. Chứ sự thật của vấn đề Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thì không phải như vậy.

Sự thật của hai câu trả lời này, tôi xin trình bày để quý vị rõ như sau:

1. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam đánh phá tơi bời qua nhiều hình thức. Hình thức thứ nhất là phân hóa nội bộ. Hình thức thứ hai là chiêu dụ những người nhẹ dạ. Hình thức thứ ba là khủng bố những người nhát gan. Hình thức thứ tư là nâng đỡ những vị thiếu phẩm chất trong Phật giáo và đưa họ vào cương vị lãnh đạo để đánh mất niềm tin của Tăng Ni và Phật Tử. Và thứ năm là triệt hạ uy tín và cô lập những người cứng rắn có lập trường kiên định đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Do đó, việc nội bộ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là do sự can dự của chính quyền Cộng Sản Việt Nam. Bởi vậy, chính quyền Cộng Sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm về sự phân hóa này.

2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã hòa nhập vào Giáo hội Phật giáo Nhà Nước năm 1981, đây là một câu trả lời thiếu chính xác, chính bản thân tôi và vô số Tăng Ni Phật tử Việt Nam cũng đã bị đánh lừa bởi câu trả lời này. Ðiều này, chính tôi đã thưa hỏi Cố Hòa Thượng Thích Ðôn Hậu, Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Ngài cho biết Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không có tham gia Giáo hội Phật giáo Nhà Nước. Nếu có ai tham gia thì chỉ là cá nhân mà không phải đại diện Giáo hội. Và Hòa Thượng Thích Ðôn Hậu khăng định Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vẫn tiếp tục hoạt động do Ngài lãnh đạo.

Và sau khi đọc bản Nhận Ðịnh của Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, Tổng Thư Ký Viện Hóa Ðạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, viết tháng 01 năm 1992, chúng tôi lại biết thêm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không cử một vị Tăng Sĩ nào đại diện Giáo hội tham gia Ðại Hội hình thành Giáo hội Phật giáo Nhà Nước năm 1981 tại chùa Quán Sứ Hà Nội cả. Những vị Tăng sĩ trước đó là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tham gia vào Giáo hội Phật giáo Nhà Nước là với tư cách cá nhân mà không phải là đại diện Giáo hội.

Thưa quý vị,

Như vậy, để chứng tỏ rằng, câu trả lời Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là đã hòa nhập vào Giáo hội Phật giáo Nhà Nước là không đúng sự thật.

Do đó, tôi yêu cầu quý vị hết sức quan tâm và hỗ trợ để Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Việt Nam tiếp tục tồn tại và tiếp tục hoạt động để đóng góp những gì hữu ích cho dân tộc và nhân loại.

Nhân đây, chúng tôi cũng trình bày quý vị rõ một vài điểm chính của tình trạng Giáo hội Phật giáo Nhà Nước là Giáo hội do Ðảng Cộng Sản Việt Nam thành lập.

Trong lời mở đầu của Hiến Chương Giáo hội này đã tự xác nhận Giáo hội là thành viên đáng tin cậy của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Như vậy, Họ là của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam là họ. Chỉ chừng đó thôi, quý vị biết rằng, Giáo hội Phật giáo Nhà Nước không phải là đại diện cho toàn thể Tăng Ni Phật Tử Việt Nam, vì bản thân của Giáo hội này là do Ðảng lập mà không phải dân lập.

Và mục đích Ðảng Cộng Sản Việt Nam thành lập Giáo hội Phật giáo Nhà Nước là để làm gì thì ông Ðỗ Trung Hiếu với tư cách là Cán bộ tham mưu của Ðảng Cộng Sản Việt Nam nói rõ trong bản tư liệu của ông đã công bố vào năm 1991 như sau:

"Cuộc thống nhất Phật giáo lần này (1981), bên ngoài do các Hòa Thượng gánh vác, nhưng bên trong bàn tay Ðảng Cộng Sản Việt Nam xuyên suốt quá trình, thống nhất để nắm và biến Phật giáo Việt Nam trở thành một tổ chức bù nhìn của Ðảng".

Và năm 1979, ông Xuân Thủy - Bí Thư Trung ương Ðảng Cọng Sản Việt Nam, Trưởng Ban Dân Vận đã chỉ đạo cho ông Ðỗ Trung Hiếu về việc thành lập Giáo hội Phật giáo Nhà Nước sắp tới phải chú ý đến các điểm sau đây:

1. "Hệ thống tổ chức Phật giáo sắp tới theo hình tháp lật ngược và ở trong Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

2. Ðạo Phật gắn liền với Dân Tộc. Nhưng thời đại ngày nay là thời đại Xã Hội Chủ Nghĩa, nên phải gắn liền với Chủ Nghĩa Xã Hội.

3. Nhân sự tiêu biểu là của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất khối Ấn Quang, nhân sự hành động phải là các "nhà sư" của ta".

Và chủ trương này lại được nhắc lại trong bức thư mật số 23/MV của ông Nguyễn Ðình Túy, Trưởng phòng P18, ký ngày 24.6.1999 đã chỉ thị cho thuộc cấp phải chặt sạch tay chân của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở Hải ngoại, để cho Giáo hội Phật giáo Nhà Nước mới có cơ hội sống còn, mới có chính nghĩa, mới rảnh tay phục vụ Ðảng và Nhà Nước.

Do đó, quý vị hãy biết cho rằng, năm 1981, Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam đã lập nên một Giáo hội Nhà Nước theo cấu trúc hình tháp đảo ngược, nghĩa là cấu trúc chỉ có thượng tầng mà không có hạ tầng; một cấu trúc không thể đứng vững để tồn tại, và đó là một cấu trúc quái vật không phải để phục vụ cho Phật giáo mà là để phục vụ cho Ðảng Cộng Sản Việt Nam.

Cũng chính vì lý do đó, mà các vị lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất hoàn toàn bất hợp tác, nên đã có nhiều hệ lụy cho đến ngày nay và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã bị khó khăn và trở ngại nhiều mặt trải dài suốt hơn một phần tư thế kỷ qua do chính quyền Cộng Sản Việt Nam gây ra.

II. Hậu quả của những khó khăn và trở ngại từ chính sách của chính quyền Cộng Sản Việt Nam mà bản thân tôi đã gặp phải trong khi làm một vị Tăng Sĩ Phật giáo Việt Nam.

Tôi đi tu năm 12 tuổi tại chùa Phước Duyên - Thành phố Huế. Năm 1973, tôi được Hội Ðồng Thập Sư của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trao giới Bhikkhu tại Phật Học Viện Cao Ðăng Hải Ðức - Nha Trang, tức là năm tôi 20 tuổi. Năm 1975, đất nước Việt Nam rơi vào tay chính quyền Cộng Sản lãnh đạo, lúc bấy giờ là tôi 22 tuổi, bản thân tôi cũng đã gặp nhiều khó khăn và trở ngại cho sự tu tập. Chúng tôi bị chính quyền Cọng Sản gọi đi khám sức khỏe và đăng ký nghĩa vụ quân sự, chúng tôi phải lao động bằng chân tay để tự sinh sống và luôn luôn ở trong tình trạng bị kiểm tra hộ khẩu. Sự giảng đạo của chúng tôi lúc bấy giờ bị hạn chế gần như 100%.

Năm 1981, tôi được Hòa Thượng Thích Trí Thủ đưa vào tu học tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam - Sài Gòn, nhưng suốt cả thời gian học tại đây, chúng tôi luôn luôn ở trong tình trạng báo động là bị Công an kiểm tra hộ khẩu, có nhiều khi chúng tôi đã bị Công an quận Gò Vấp gọi lên lập biên bản và trục xuất về quê, vì không có hộ khẩu tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam. Năm 1984, tôi học xong khóa Cao Ðăng Phật Học Chuyên Khoa thì Thượng Tọa Tuệ Sĩ và Thượng Tọa Trí Siêu bị chính quyền Cộng Sản bắt tù, Hòa Thượng Thích Trí Thủ bị chết, Tu Viện Quảng Hương Già Lam tan tác mỗi người một ngã. Tôi phải về Huế năm 1985, và sau đó nhiều năm bị bị công an tỉnh Bình Trị Thiên theo dõi và mời thẩm tra bởi lý do có liên quan đến vụ việc Hòa Thượng Thích Trí Thủ, Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ và Thượng Tọa Thích Trí Siêu. Công an đã hỏi tôi suốt thời gian vào tu học tại Quảng Hương Già Lam là làm gì? Ai dạy? Dạy gì? Yêu cầu tôi viết tường thuật và từ đó tôi đi đâu cũng khó khăn, không những vậy mà trước năm 1985 tôi cũng đã bị khó khăn bởi chính quyền Cộng Sản, thậm chí năm 1984, mẹ tôi qua đời ở quê nhà, tôi về cư tang lođám cho mẹ cũng bị công an gọi làm việc và hhạch sáchnhiều lần, với lý do là không có hộ khẩu tại quê nhà.
Như vậy, quý vị hãy biết cho rằng, chính sách kiểm soát hộ khẩu là một chính sách để gây khó khăn những ai mà chính quyền cọng sản cần gây khó khăn.

Vào thời chính quyền Cộng Sản bao cấp, việc đi lại của một vị Tăng Sĩ vô cùng khó khăn, muốn có một giấy đi lại phải trải qua chính quyền ba cấp mà trong đó phải đi qua nhiều ban ngành. Và sau thời gian bao cấp, thì việc đi lại của các Tăng Sĩ tương đối dễ dãi. Và bây giờ thì chính quyền Cộng Sản Việt Nam chỉ theo dõi những ai cần theo dõi mà thôi.

Riêng bản thân tôi, năm 1999, khi vào dự húy nhật Hòa Thượng Thích Trí Thủ tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam, công an Thanh Phố Hồ Chí Minh đã đến kiểm tra hộ khẩu tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam và buộc tôi phải đăng ký tạm trú, mặc dù tại Tu Viện đã làm thủ tục đăng ký chung. Và khi tôi mua vé máy bay trở về Huế, đến phi trường, công an tại phi trường Tân Sơn Nhất đã kiểm soát xách tay và kiểm tra trong người của tôi nhiều lần, khi máy bay đến phi trường Phú Bài của Thành phố Huế, tôi lại bị công an Thừa Thiên Huế đón ngay ở cửa máy bay mời vào phòng riêng để làm việc, tôi đã soạn hành lý cho họ kiểm soát. Và ngày 24.5.2000, tôi vào dự Lễ Húy Nhật tại chùa Pháp Vân - Sài Gòn, có đăng ký tạm trú, nhưng cũng bị công an vào kiểm tra hộ khẩu vào 23 giờ đêm, đòi tịch thu thẻ chứng minh nhân dân và buộc tôi ngày mai phải đến cơ quan an ninh của phường để làm việc, nhưng họ đã bị quý Thầy ở chùa Pháp Vân phản đối, buộc công an phải trả thẻ chứng minh nhân dân lại cho tôi.

Riêng bản thân tôi, hiện nay có thể đi lại, nhưng không thuận tiện cho lắm, bằng chứng vào tháng 7 năm 2000, tôi đã được Phật tử và Thượng Tọa Thích Thông Chánh trú trì chùa Phú Sơn ở Quảng Nam mời vào hướng dẫn tu tập cho họ, nhưng khi chúng tôi vào hướng dẫn thì chính quyền ba cấp của tỉnh Quảng Nam, có công an mặc sắc phục vào quay phim và buộc Thượng Tọa trú trì của chùa Phú Sơn phải giải tán đạo tràng tu tập. Tuy rằng, Hiến Pháp và Luật Pháp của Nhà Nước quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tự do không tín ngưỡng; và các tu sĩ có thể giảng đạo ở nơi thờ tự khỏi phải xin phép.

Tuy nhiên, những khó khăn này ở trong nước tôi cũng có thể khắc phục được, nhưng việc đi ra nước ngoài thì thật khó khăn cho tôi, mặc dù Hiến Pháp và Luật Pháp của Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam nói: "Mọi công dân đều bình đăng trước Pháp Luật" và "Nghiêm cấm phân biệt đối xử", "Mọi công dân có quyền theo hoặc không theo một Tôn giáo nào". Nhưng trên thực tế, tôi đã bị Nhà Nước Cộng Sản phân biệt đối xử.

- Năm 1998 Phật tử Việt Nam tại Lào đã có thư mời tôi sang đất nước Lào để hướng dẫn cho họ tu học nhưng cũng đã bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam cản trở.

- Và rõ rệt hơn hết, cuối tháng 8 năm 2000, Liên Hiệp Quốc tổ chức Hội Nghị Thượng Ðỉnh Hòa Bình Thế Giới Thiên Niên Kỷ đã có thư mời tôi tham dự Hội Nghị và đọc tham luận, nhưng chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã cản trở và họ đã tạo ra một phái đoàn Tôn giáo do Ðảng Cọng Sản Việt Nam chỉ đạo đi dự Hội Nghị, và khi đến Hội Nghị phái đoàn Tôn giáo này đã bị Ban Tổ chức từ chối với lý do là Ban Tổ chức không có thư mời.

Rõ ràng, chính sách của Cọng Sản Việt Nam có quy định trong Hiến Pháp và Luật Pháp về tự do đi lại, tự do cư trú, tự do Tôn giáo... Nhưng tất cả những thứ tự do đó, tôi đều đã bị chính quyền Cộng Sản gây khó khăn và bị cản trở dưới nhiều hình thức.

Tuy nhiên, bản thân tôi từ nhỏ đến nay chưa hề bị vi phạm Luật Pháp Quốc Gia, chưa hề bị can án bởi bất cứ bản án nào.

III. Hậu quả của những sự trở ngại từ chính sách của Chính phủ Việt Nam mà toàn thể cộng đồng Phật giáo đang gặp phải.

Ðiều 70, Hiến Pháp Nhà Nước Việt Nam và Nghị Ðịnh 26 có ghi: "Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bảo đảm quyền Tự do Tín ngưỡng, Tôn giáo và quyền Tự do không Tín ngưỡng, Tôn giáo".

"Nghiêm cấm phân biệtđối xử vì lý do Tín ngưỡng, Tôn giáo".
"Công dân theo Tôn giáo hoặc không Tôn giáo đều bình đăng trước Pháp Luật,được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm hưởng mọi nghĩa vụ công dân".
Ðây là những "mỹ từ" được chính quyền Cọng Sản Việt Nam chọn lọc để đưa vào Hiến Pháp và nó chỉ có giá trị ở trên giấy, mà không có giá trị ở trên thực tế.

Tại sao? Ðể trả lời vấn đề này, tôi chỉ nêu ra bốn bằng chứng cụ thể để chứng minh:

1. Chính quyền Cộng Sản không công nhận hai ngày lễ lớn của hai Tôn giáo. Phật giáo là ngày Lễ Phật Ðản tức là ngày 15 - 04 êm Lịch, Thiên Chúa Giáo là ngày Thiên Chúa Giáng Sinh, tức là ngày 25 - 12 Tây Lịch.

Hai ngày lễ lớn này, trước năm 1975, Chính phủ Việt Nam Cọng Hòa của Miền Nam Việt Nam biết tôn trọng và đã ghi vào những ngày lễ lớn của quốc gia, nên quân dân cán chính công chức, tư chức đều nghỉ để thực hiện quyền tự do Tôn giáo của mình, nhưng vẫn được chính phủ trả lương. Suốt một phần tư thế kỷ qua, hai ngày lễ lớn của hai Tôn giáo tại Việt Nam không những có tính quốc gia mà còn có tính quốc tế đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam không có tôn trọng, công nhân viên cán chính vẫn đi làm việc Nhà Nước; sinh viên, học sinh vẫn đi học, lắm lúc còn bị tổ chức thi cử vào những ngày đó, họ còn đâu thì giờ để thực hiện tự do tín ngưỡng của họ một cách công khai trong những lễ ấy.

Nếu Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự do Tôn giáo thực sự, thì tại sao hai ngày lễ lớn của hai Tôn giáo đó, Nhà Nước Cộng sản không ghi rõ vào Nghị Ðịnh, Nghị Quyết của mình, để cho các cấp Chính quyền, các cơ quan ban ngành thực hiện cho những người có Tôn giáo được nghỉ việc một cách công khai để họ thực hiện tinh thần Tôn giáo trong tự do Tín ngưỡng mà Nhà Nướcđã tôn trọng?
Ðối với ngày lễ lớn của 2 vị giáo chủ của 2 Tôn giáo lớn tại Việt Nam và thế giới như vậy mà chính quyền Cộng Sản Việt Nam không tôn trọng, thì làm gì chính quyền Cộng Sản Việt Nam tôn trọng tự do tín ngưỡng thật sự của các công dân Việt Nam có tín ngưỡng đối với 2 tôn giáo ấy.

Do đó, tôi nói hiện nay tại Việt Nam chưa có nội dung tự do Tôn giáo mà chỉ có hình thức tự do Tôn giáo thôi.

2. Trong chứng minh nhân dân và các bản kê khai lý lịch, chính quyền Cộng Sản Việt Nam đều ghi mục Tôn giáo, nghĩa là ai theo Tôn giáo nào phải ghi rõ Tôn giáo ấy vào đó.

Chính điều này, Nhà Nước Cộng Sản Việt nam đã vi phạm Hiến Pháp và Luật Pháp do họ đặt ra. Vì sao? Vì trong Hiến Pháp và Luật Pháp họ có ghi: "Công dân theo Tôn giáo hoặc không theo Tôn giáo đều bình đăng trước Pháp Luật, được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện mọi nghĩa vụ công dân" (Ðiều 2 Chương I NÐ 26). Và điều 1 Chương I Nghị Ðịnh 26 là : "Nghiêm cấm phân biệt đối xử vì lý do Tín ngưỡng, Tôn giáo".

Nếu chính quyền Cộng Sản Việt Nam thi hành đúng những điều quy định này, thì mục Tôn giáo nơi CMND và các bản lý lịch, kê khai học hành, xin việc, xuất ngoại đều phải bỏ.

Vì theo Luật định, người có Tôn giáo hay không có Tôn giáo đều bình đăng như nhau, như vậy người có Tôn giáo thì Nhà Nước Cọng Sản có đặc ân gì thêm, chăng tôn trọng gì thêm cả mà ghi vào các mục đó để làm gì?

Như vậy, rõ ràng Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam có tôn trọng Tôn giáo gì đâu? Ðã không tôn trọng Tôn giáo mà buộc công dân phải ghi rõ Tôn giáo của mình vào CMND hoặc vào các lý lịch với mục đích là để cho họ biết rõ người ấy đang theo Tôn giáo nào nhằm "phân biệt đối xử", chứ không phải là "không phân biệt đối xử".

3. Nhân dân Việt Nam hơn 95% là có Tôn giáo, thế nhưng trong bộ máy Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam, từ ông chủ tịch phường, xã đến chủ tịch Nhà Nước, và các bộ trưởng, các trưởng ban ngành không một vị nào có Tôn giáo cả. Ðây là một bằng chứng có thật. Quý vị là công dân nước Mỹ, là Ðảng viên Ðảng Dân chủ hoặc Ðảng Cọng Hòa, nếu quý vị có Tôn giáo thì quý vị đâu có bỏ Tôn giáo của quý vị để vào Ðảng. Trái lại, ở nước Việt Nam chúng tôi, người nào muốn vào Ðảng Cộng Sản thì phải từ bỏ Tôn giáo. Ðiều đó, lại thêm bằng chứng cho thấy rằng, Tôn giáo tại Việt Nam đã bị chính quyền Cọng Sản phân biệt đối xử và kỳ thị một cách trầm trọng và hết sức sâu sắc, trong khi ở Hiến Pháp họ vẫn ghi "Nghiêm cấm phân biệt đối xử". Ai là người nghiêm cấm? Ai là người phân biệt đối xử? chính quyền Cọng Sản nghiêm cấm và chính quyền Cộng Sản phân biệt đối xử.

4. ở Việt Nam, Tôn giáo không xen vào nội bộ chính quyền Cộng Sản, nhưng chính quyền Cộng Sản xen vào nội bộ Tôn giáo.

Ðiều 20/ Chương 2 /NÐ Số 26/1999 NÐ-CP lại nói rõ: "Việc phong giáo phẩm Hòa Thượng trong Ðạo Phật; Hồng Y, Giám Mục, chức vụ giám quản trong Ðạo Thiên Chúa và các giáo phẩm, chức vụ tương đương trong các Tôn giáo phải được sự chấp thuận của Thủ Tướng Chính phủ. Việc phong chức cho các nhà tu hành Tôn giáo phải được sự chấp nhận của Chủ Tịch ủy Ban Nhân Dân Cấp Tỉnh. Ðiều này chứng tỏ Nhà Nước Cộng Sản vi phạm tự do Tôn giáo một cách trắng trợn.

Tuy nhiên, ở đây quý vị có thể hỏi tôi là Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam không tôn trọng tự do Tôn giáo, thì tại sao ở Việt Nam các Giáo hội của các Tôn giáo đang sinh hoạt.

Tôi trả lời thăng đến quý vị như sau:

1. Giáo hội của các Tôn giáo đang được sinh hoạt tại Việt Nam là sinh hoạt theo nguyên tắc tổ chức lập hội của Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam đặt ra theo điều 3, Luật 102/SL, ngày 20 tháng 5 năm 1957 của Nước Việt Nam Dân chủ Cọng Hòa và điều 1 của Chỉ thị Số 1 đề ngày 05-1-1989 của Hội Ðồng Bộ Trưởng. Do đó, giá trị của các Giáo hội này chỉ ngang hàng với các Hội Phụ Nữ, Hội Nuôi Chim, Hội Ðá Bóng, Hội Người Mù... hoặc có khi còn thấp kém hơn nữa. Vì các hội kia đối với chính quyền Cộng Sản Việt Nam không phải là thuốc phiện, chính các hội Tôn giáođối với chính quyền Cộng Sản mới là thuốc phiện.
Do đó, giá trị của các Giáo hội Tôn giáo đang sinh hoạt tại Việt Nam đối với chính quyền Cộng Sản là rất thấp vì nó là thuốc phiện, nên trước sau gì các Giáo hội này cũng bị chính quyền Cộng Sản loại trừ, hoặc bị cai nghiện khi làm xong nhiệm vụ, do đó các Giáo hội ấy chăng có giá trị gì đối với chính quyền Cộng Sản Việt Nam cả. Ðã không có giá trị thì họ tôn trọng làm gì?

2. Sự có mặt của các Giáo hội ấy, chăng qua chỉ là có mặt của hình thức Tôn giáo, còn nội dung và quyền hạn của Tôn giáo hoàn toàn không nằm nơi các vị lãnh đạo của Giáo hội ấy mà nằm ở nơi Ban Tôn giáo Chính phủ và Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

Tuy nhiên, chúng tôi không nói thì quý vị cũng đã biết. Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam là ai, là một tên gọi khác của Ðảng Cộng Sản Việt Nam, do ông Phạm Thế Duyệt làm chủ tịch là ủy Viên Trung ương Ðảng Cộng Sản, từng là Bí Thư Thành Uùy Hà Nội, ủy Viên Trung ương Ðảng Cộng Sản và Ban Tôn giáo Chính phủ là ai là một tên gọi khác của đảng Cộng Sản Việt Nam. Ban Tôn giáo Chính phủ do ai điều khiển, do ông Thủ Tướng Phan Văn Khải và Chủ Tịch Trần Ðức Lương. ông Phan Văn Khải và ông Trần Ðức Lương là ai, là ủy Viên Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung ương của Ðảng Cộng Sản Việt Nam.

Do đó, không có Hội nào được thành lập trên đất nước Việt Nam này là không do Ðảng Cộng Sản Việt Nam chỉ đạo và điều khiển.

Vậy, Giáo hội của các Tôn giáo đang sinh hoạt tại Việt Nam thực sự không thể hiện được quyền tự do Tôn giáo của mình, mà tất cả đều do Ðảng Cộng Sản chỉ đạo mà thôi.

Và năm 1993, ông Phạm Bá Diễn - Chủ Tịch UBND Tỉnh Thừa Thiên ký thông báo số 1108 TB/UBNDđề ngày 15-12-1993, có nội dung buộc phải giải tán Tăng Ðoàn Thừa Thiên Huế không cho sinh hoạt.
Gia Ðình Phật Tử Việt Nam là một tổ chức giáo dục thanh thiếu niên trong tinh thần Phật giáo thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, cũng đã bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam triệt tiêu năm 1981, nhưng tổ chức này vẫn nỗ lực để tồn tại do anh Nguyễn Châu làm Trưởng Ban Hướng Dẫn GÐPT Việt Nam. Và hiện nay, Tổ chức này cũng đã bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam phân hóa thành hai, qua bàn tay Giáo hội Phật giáo Nhà Nước.

Do đó, thực chất tự do Tôn giáo Việt Nam chỉ là giả hiệu và hình thức mà thôi.

Sự tự do Tôn giáo có hình thức như vậy đã làm nản lòng những Tăng Ni Phật Tử hay những Linh Mục và giáo dân có thực tâm đối với Tôn giáo của họ.

Trong bản chất của lý thuyết Cộng Sản không có Tôn giáo, thì mọi chính quyền Cộng Sản làm thế nào họ có thể tôn trọng Tự do Tôn giáo thực sự được, điều đó không cần tôi phải điều trần mà quý vị phải tự hiểu lấy. Và nhất là chính quyền Cộng Sản Việt Nam đang xây dựng kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Chính bản chất Cộng Sản và định hướng này là sự cản trở lớn lao cho sự phát triển không những cho Phật giáo mà cho tất cả các Tôn giáo khác tại Việt Nam.

Và cũng chính do bản chất này mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh sau 35 năm xa quê hương, cũng không thể tự do trở về quê hương để thăm viếng và chia xẻ những kinh nghiệm tu học của Ngài cho Tăng Ni và Phật Tử Việt Nam, mặc dù Ngài đã có thư mời của các vị ở trong Môn Phái Tổ Ðình Từ Hiếu nơi xuất thân của Ngài.

IV. Nhận định về sự phê chuẩn Hiệp ướcThương Mại Song Phương Mỹ Việt.

Tôi hết sức nghi ngờ về khả năng thực hiện Bản Hiệp uớc Thương Mại này, sau khi được phê chuẩn bởi hai chính phủ Mỹ Việt.

Lịch sử và bằng chứng Hiệp Ðịnh Paris đã được 4 phe phái tham chiến tại Việt Nam lúc bấy giờ gồm Chính phủ Hoa Kỳ, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, Chính phủ Cộng Hòa Lâm Thời Miền Nam Việt Nam và Chính phủ Hà Nội, ký vào năm 1973, cho chúng ta thấy rằng, Hiệp uớc ấy đã không được thi hành bởi chính quyền Cộng Sản Hà Nội. Sau khi ký vào Hiệp uớc, chính quyền Cộng Sản Hà Nội đã gia tăng áp lực quân sự lên chiến trường Miền Nam Việt Nam, và năm 1975 họ đã áp đặt Chính phủ Cộng Sản lên toàn dân Miền Nam Việt Nam, điều đó cũng đủ để chứng minh rằng, tôi có quyền nghi ngờ sự thực hiện không nghiêm túc đối với Hiệp Ðịnh của chính quyền Cọng Sản Việt Nam khi đã được 2 quốc gia thông qua trong mùa xuân này.

Lại nữa, các điều tự do căn bản của con người như quyền tự do Tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do đi lại ... đã được ghi trong điều 18, 19 của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc ngày 10 - 12 - 1948. chính quyền Cọng Sản Việt Nam đã xin gia nhập năm 1977, họ là thành viên của LHQ mà họ đâu có thi hành Bản Tuyên Ngôn ấy. Vào tháng 8 năm 2000, bản thân tôi đã được LHQ mời đích danh đi tham dự Hội Nghị Thượng Ðỉnh Hòa Bình Thế Giới Thiên Niên Kỷ và đọc tham luận tại Hội Nghị, tôi đã chấp hành làm đúng mọi thủ tục căn bản theo pháp định, mà Nhà Nước Cọng Sản Việt Nam đâu có cho phép tôi đi tham dự. Ðiều đó để chứng tỏ rằng, chính quyền Cộng Sản có tôn trọng quyền tự do đi lại của công dân hay không? Và tôn trọng bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền mà họ đã ký vào hay không? Và chính quyền Cộng Sản Việt Nam là thành viên của Liên Hiệp Quốc và họ đã có tôn trọng tổ chức này không?

Lại nữa, chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã ký tên gia nhập công ước Quốc tế nhân quyền vào ngày 24 - 09 - 1982, là tôn trọng công ước quốc tế, tôn trọng thư tín, tôn trọng không nghe lénđiện thoại...
Nhưng, trên thực tế thư của Liên Hiệp Quốc gởi cho tôi đề ngày 19 - 07 - 2000 mà đến tay tôi một cách chậm trễ ngày 16 - 08 - 2000, và mất dấu dán nguyên thủy. Lại nữa, điện thoại của tôi luôn bị trở ngại khi có các Ðài ở ngoại quốc gọi về như đài á Châu Tự do , Ðài Tiếng Nói Nước Tôi, Tiếng Nói Hoa Kỳ, đường dây điện thoại bị cúp, hoặc bị phá hỏng hoặc bị phá sóng.

Những chứng cứ trên cho phép tôi có quyền nghi ngờ thiện chí thi hành Bản Hiệp uớc Thương Mại Song Phương Mỹ Việt của chính quyền Cộng Sản Việt Nam.

Lại nữa, quý vị nên biết cho rằng, tại quốc gia chúng tôi, chính phủ Việt Nam không phải giữ vai trò lãnh đạo đất nước, mà chỉ giữ vai trò "quản lý", còn vai trò lãnh đạo đất nước là vai trò của Ðảng Cộng Sản.

Như vậy, Chính phủ Hoa Kỳ ký một bản Hiệp uớc Thương Mại với Chính phủ Việt Nam là chỉ ký với người giúp việc của Ðảng Cộng Sản Việt Nam mà thôi. Và nếu quý vị ký bản Hiệp uớc Thương Mại với người giúp việc thì hiệu năng của sự thực hiện Bản Hiệp uớc chắc chắn như thế nào thì quý vị cũng đã hiểu rõ.

Lại nữa, chính quyền Cộng Sản Việt Nam 12 năm đổi mới kinh tế là để cho các Cơ quan Nhà Nước Cộng Sản đứng ra kinh doanh theo phương pháp kinh tế thị trường chứ không phải là để cho nhân dân Việt Nam kinh doanh theo phương pháp này, do đó việc đổi mới kinh tế vẫn không giúp được gì thật sự cho nhân dân Việt Nam mà chỉ đem lại lợi nhuận cho cán bộ Ðảng viên Cộng Sản, còn chính sách trói buộc Tôn giáo của Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam đến nay vẫn không có gì thay đổi.

Từ những bằng chứng trên, nên tôi không nghĩ rằng, sau khi hai chính phủ Mỹ Việt đã thông qua Hiệp uớc Thương Mại Song Phương, thì tình trạng nhân quyền và tự do Tôn giáo thực sự tại Việt Nam có thay đổi.

V. Chúng ta có thể làm gì để giúp đỡ cải thiện tự do Tôn giáo tại Việt Nam trước mắt và lâu dài.

Muốn giúp đỡ cải thiện tự do Tôn giáo tại Việt Nam trước mắt cũng như lâu dài, tôi có mấy đề nghị như sau.

* Trước mắt, về mặt đối ngoại có 2 điều:

1. Yêu cầu chính quyền Cộng Sản Việt Nam phải thực thi nghiêm túc những gì mà họ đã ký kết với các tổ chức quốc tế.

2. Yêu cầu chính quyền Cộng Sản Việt Nam thực hiện đúng tinh thần tự do Tín ngưỡng và nghiêm cấm phân biệt đối xử Tôn giáo mà Hiến Pháp đã quy định.

* Mặt lâu dài:

Mặt này tôi đề nghị 3 điểm sau đây:

1. Quý vị muốn giúp cho Việt Nam có tự do Tôn giáo là phải giúp cho Việt Nam có tự do dân chủ thực sự, vì không có tự do dân chủ thì không bao giờ có tự do Tôn giáo và các tự do khác tại Việt Nam.

2. Quý vị muốn giúp cho Việt Nam có tự do Tôn giáo thì trong sự quan hệ, các Chính phủ không phải chỉ thiết lập ngoại giao để trao đổi thương mại, mà phải trao đổi toàn diện.

Hiệp ước Thương Mại chỉ được hai nước phê chuẩn, sau khi hai nước đã có Hiệp ước Tự do Dân chủ, Hiệp ướcTự do Tôn giáo, Hiệp ướcTự do Nhân Quyền.

3. Quý vị hãy giúp cho Việt Nam có một thể chế dân chủ dựa trên nguyên tắc "Tam quyền phân lập".

Thưa quý vị,

Tôi nghĩ rằng, Tự do Tôn giáo tại Việt Nam chỉ thực sự được cải thiện, khi mà chính quyền Việt Nam đã làm những gì mà họ nói về Tự do đối với nhân dân trong nước và đối với các Chính phủ cũng như các tổ chức quốc tế.

Và quý vị có thể giúp cải thiện Tự do Tôn giáo tại Việt Nam là cải thiện thể chế Cộng Sản Việt Nam trở thành thể chế Tự do Dân chủ, quý vị có thể giúp nhân dân Việt Nam thực hiện được điều này không?

Thưa quý vị, tôi viết bản điều trần này là không phải để đả kích ai và cũng không phải để ca ngợi ai mà chỉ với mục đích nói lên sự thật để giúp đỡ cho những ai dối trá hãy dừng ngay lại những gì không thật tâm của mình, và giúp cho những ai muốn thấy rõ phần nào thực chất tự do Tôn giáo trên quê hương tôi, suốt hơn một phần tư thế kỷ đã qua. Và khi cầm bút viết bài điều trần này là chúng tôi thực hành chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh niệm và chánh kiến ở trong giáo lý Phật giáo của tôi.

Trước khi dứt lời, chúng tôi xin cám ơn ông Elliott Abrams, Quốc Hội và Chính phủ Hoa Kỳ, cũng như quý vị Ðại Biểu, đã có mặt và lắng nghe trong hội nghị này.

Chúc quý vị thành công.

Trân trọng kính chào.

Chánh Thư ký Tăng Ðoàn Thừa Thiên Huế
Bhikkhu Thích Thái Hòa