Việt Nam V Sự Ðổi MớiPhương Nam - Australia Phần I - Phải chăng công cuộc đổi mới l do Ðảng khởi xướng?1- Bức tranh đất nước sau đổi mới: Ðại hội 6 ÐCS Việt Nam được tiến h nh tại H Nội tháng 12.1986 đã thông qua đường lối đổi mới kinh tế. Mục đích của nó l nhằm tạo ra một cơ chế kinh tế mới, thay thế cho cơ chế chỉ huy tập trung, quan liêu, bao cấp cũ. Chỉ một thời gian ngắn sau khi đường lối mới đi v o cuộc sống thì ai cũng thấy rõ l đã có một sức sống mới bừng lên thật mạnh mẽ trên khắp mọi miền đất nước. Thậm chí nó còn gây ngỡ ng ng với chính những người đã từng biểu quyết thông qua nó. Nhìn chung dư luận cả trong, ngo i nước đều đánh giá cao v hết sức ca ngợi bước chuyển biến đầy tích cực n y của Việt Nam. Mọi tầng lớp nhân dân hết thảy đều vui mừng, vì kể từ nay tuy vẫn còn những khó khăn, r ng buộc của cơ chế cũ. Nhưng về cơ bản thì cơ chế mới đã xác lập được quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh của các đơn vị v cá nhân người lao động. Ðiều n y tạo nên một xung lực lớn, l m cho năng suất lao động trong tất cả các ng nh vốn bị tụt dốc thảm hại trước đó, nay đã được phục hồi v tăng dần lên. Nhiều ng nh nghề truyền thống của cha ông những tưởng rồi sẽ bị thất truyền theo năm tháng cũng đã được hồi sinh. Nhiều sản phẩm, dịch vụ mới ra đời, nhiều thị trường mới được khai mở, v.v. Ng nh lương thực có thể được coi l một ví dụ điển hình chứng minh cho bước chuyển biến n y: - Sản xuất lương thực: từ ch- lương thực bị thiếu thường xuyên, có khi l rất nghiêm trọng thì nay đã có đủ v bắt đầu có tích lũy. Chẳng những đồng bằng sông Cửu Long - khu vực thường sản xuất hơn 50% tổng sản lượng lương thực quốc gia có tích lũy, m cả miền Bắc v miền Trung cũng có tích lũy. Cuộc họp của bộ chính trị ÐCS Việt Nam tại th nh phố Hồ Chí Minh chiều ng y 7.5.1989 đã có một quyết định mang ý nghĩa chiến lược : cho phép Việt Nam xuất khẩu gạo, v ngay trong năm ấy cả nước đã xuất được 1,4 triệu tấn. - Kinh doanh lương thực: khi phần lớn những trạm kiểm soát h ng hóa được lệnh dẹp bỏ thì hạt gạo Việt Nam như được chắp cánh bay. Gạo đi về những bản l ng xa xôi, tới tận những hang cùng ngõ hẻm, gạo leo lên những tầng lầu cao v gạo ra nước ngo i. Tất cả những biến đổi kỳ diệu ấy l do sự vận động tự nhiên của các quy luật trong kinh tế như : quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, v.v... chứ không cần phải nh nước phong tặng danh hiệu anh hùng cho ai như đã l m trước đó. Ở trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội tình hình cũng rất đáng mừng: nhân dân đã được phép đi lại, cư trú, nói năng, h nh đạo,... tự do hơn trước. Nhiều sinh hoạt văn hóa mang đậm đ bản sắc dân tộc vốn không được khuyến khích trước đó cũng đã được phép xuất hiện trở lại. Chẳng hạn như hội Lim - H Bắc : năm 1987 đã có quyết định của Bộ Văn Hóa - Thông Tin cho phép được chính thức mở lại. Nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật ra đời trong thời kỳ n y được công chúng đón nhận nồng nhiệt, vì chúng đã bắt đầu nói lên được những tâm tư sâu lắng của thân phận con người, v.v... Với một bức tranh xã hội rõ r ng l đã sáng sủa hơn trước. Có rất nhiều b i viết, tổng kết, báo cáo của những người có trách nhiệm trong ÐCS Việt Nam, các nh nghiên cứu, v.v... được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong nước, phần lớn thường có chung một kết luận : "Công cuộc đổi mới l do Ðảng khởi xướng m công đầu thuộc về trí tuệ tập thể của Bộ chính trị v Ban chấp h nh trung ương ÐCS Việt Nam". Trong b i nhan đề: Ðôi Ðiều Suy Nghĩ Về Vận Mệnh Của Chủ Nghĩa Xã Hội, ra tháng 7 năm 2000, ủy viên Bộ chính trị ÐCS Việt Nam khoá 8, chủ tịch Hội đồng lý luận TƯ Nguyễn Ðức Bình cũng đã viết : "… Việc thực hiện NEP ở Nga, công cuộc đổi mới ở Việt Nam, công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc, đều do ÐCS khởi xướng v lãnh đạo, đều nhằm mục tiêu xây dựng CNXH…". (xem website www.nhandan.org.vn - mục Diễn Ð n) . Theo tôi, không ai có thể phủ nhận được vai trò của rất nhiều người trong Ðảng mang tinh thần đổi mới từ các cấp ủy ở cơ sở lên tới trung ương, trong đó kể cả vai trò quan trọng của hai cố tổng bí thư Trường Chinh (giai đoạn từ tháng 7 - 12.1986) thay cho cố tổng bí thư Lê Duẩn từ trần, v Nguyễn Văn Linh (từ 12.1986 - 1991) đã thúc đẩy cho đường lối mới được thông qua. Nhưng để có một cái nhìn khách quan v thực tiễn hơn, chúng ta cần quay lại với bối cảnh lịch sử lúc ấy. 2 - Bối cảnh lịch sử trước đổi mới : a) Bối cảnh quốc tế: Tháng 3 năm 1985, khi M.Goóc-ba-chốp (Mikhail Gorbachev) nhậm chức tổng bí thư ÐCS Liên Xô, thì một năm sau đó ông đã đề ra hai chính sách lớn l : Công Khai v Xây Dựng Lại (Glasnost v Perestroika). Chúng bao gồm cả những vấn đề đối nội v đối ngoại của Liên Xô. Một trong những thay đổi lớn trong chính sách đối ngoại ấy l : đã đến lúc Liên Xô không thể chịu đựng được mãi những gánh nặng quá sức cho các nước đ n em trong phe XHCN được nữa. Vì Liên Xô cũng có biết bao khó khăn nội bộ cần phải giải quyết, nhân dân Liên Xô cũng thiếu thốn trăm bề v cái chính l sự bao cấp kia quá ư vô lý, không biết đến bao giờ mới chấm dứt . Không cần phải trình b y d i dòng, chúng ta cũng thấy được ngay l Việt Nam đã bị hụt hẫng lớn như thế n o cả về vật chất lẫn tinh thần từ sự thay đổi n y. Kể cả mất ch- dựa duy nhất về mặt quân sự lúc bấy giờ. Trong khi sự cấm vận của Mỹ vẫn còn, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc vẫn tiếp tục căng thẳng, mãi đến năm 1991 mới bắt đầu có những cuộc đ m phán cấp chính phủ để bình thường hóa. Việc quan hệ buôn bán với các nước ngo i phe XHCN tuy đã có nhưng chưa đáng kể,... (những viện trợ theo các hiệp định cũ - coi việc hợp tác to n diện với Liên Xô l hòn đá tảng trong to n bộ chính sách đối ngoại của Ðảng thì vẫn còn hiệu lực thi h nh, nhưng những hiệp định mới thì giảm hẳn. V trong một thời gian d i trước đó 70-80% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam l đến từ Liên Xô v Ðông Âu - số liệu của nh báo Hữu Thọ, UVTƯ Ðảng khoá 8, trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa trung ương - Bản Lĩnh Việt Nam, NXB Ðại Học Quốc Gia H Nội 1997, Tr.193). b) Bối cảnh trong nước: Trong báo cáo chính trị của đại hội đảng 6 cũng đã thừa nhận một cách tóm lược như sau: "...Sai lầm về cuộc tổng điều chỉnh giá- lương - tiền cuối năm 1985 đã l m cho nền kinh tế - xã hội Việt Nam lún sâu v o khủng hoảng, phân phối c ng thêm rối ren căng thẳng, vật giá tăng nhanh, ngân sách thâm hụt lớn, lạm phát phi mã; hiệu quả sản xuất v đầu tư thấp, những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp, có mặt còn gay gắt hơn; ... ; chủ quan nóng vội, bảo thủ trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, trong cải tạo v quản lý. Những sai lầm nói trên l rất nghiêm trọng về chủ trương chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược v về tổ chức thực hiện, ...". Với những khó khăn to lớn ấy, nhất l sự thay đổi từ phía Liên Xô, đã buộc những người lãnh đạo cao nhất trong ÐCS Việt Nam đứng trước một trong hai sự lựa chọn : Ðổi mới hay l sụp đổ . V nghị quyết đại hội 6 đã ra đời trong bối cảnh lịch sử như vậy. Nó thực sự l giải pháp cho một tình thế nguy kịch, chứ không phải xuất phát từ một cái nhìn viễn kiến, có cơ sở khoa học. 3 - Ðộng lực n o đã thúc đẩy ÐCS Việt Nam chấp nhận đổi mới? Nhiều người trong Ðảng sau đó đã có ý kiến: " Thôi thì cứ cho rằng tình hình khó khăn đã buộc đảng ta phải đổi mới đi, nhưng nói gì thì nói công cuộc đổi mới vẫn cứ l do Ðảng khởi xướng. Ðiều đó thể hiện một tinh thần trách nhiệm cao của ÐCS Việt Nam trước nhân dân"! Theo tôi ý kiến trên l không có cơ sở để đứng vững. Bởi vì nếu nói về giai đoạn cuộc sống nhân dân chịu nhiều khó khăn nhất, thì phải l trước đó. Cụ thể l trong các năm từ 1976 đến 1981 - Ðó l những năm tháng của mì, khoai, sắn, nui, bo bo. Của cải tạo v kinh tế mới, của quốc hữu hóa, hợp tác hóa, tập đo n hóa, thủy lợi hóa, công tư hợp doanh hóa một cách tr n lan v của ngăn sông, cấm chợ gắt gao. Ðó cũng l những năm tháng m lợn, g , cá trê Phi, chim Cút, v.v "chung sống hòa bình" với người trong những căn hộ chật chội. Ở đó những người chủ gầy gò của chúng chẳng ai ra lệnh, nhưng đã phải tự hạ quyết tâm cho mình : chúng tao có thể bị đói nhưng chúng m y thì nhất định phải được ăn no! Trong b i Ðánh Thức Tiềm Lực, nh thơ Nguyễn Duy cũng đã có những đoạn viết về giai đoạn ấy như sau: …Lúc n y ta l m thơ cho nhau b i thơ d i gần 200 câu, được sáng tác trong các năm từ 1980 - 1982, nhưng bị cấm mãi đến năm 1987 mới được in trong tập Mẹ V Em). Tình hình nghiêm trọng đến mức m các cô gái đang tìm chọn người yêu cho mình đã phải tự động "hạ điểm chuẩn tuyển sinh" xuống chỉ còn: Một yêu anh có... may ô! M không hạ sao được khi "cánh thí sinh" cũng rất "ho n cảnh" : Bắt cởi trần phải cởi trần May sao nhờ sự linh hoạt trong việc xử lý tình huống ấy đã cứu vãn được tình hình, chứ nếu không thì cánh kia cũng đ nh chịu "thất học", còn các cô thì cũng không có "học trò"! Chẳng những l khó khăn về vật chất, m đời sống tinh thần của nhân dân cũng rất nghèo n n v bị o ép nặng nề. Người dân không được phép nói công khai về những n-i buồn của chiến tranh cũng như những n-i đau trong hòa bình. Bao năm trời đa số họ chỉ dám giữ kín ở trong đầu. Cố nh văn - đại tá quân đội Nguyễn Minh Châu trong b i viết Hãy Ðọc Lời Ai Ðiếu Cho Một Giai Ðoạn Văn Học Minh Họa đăng trên báo Văn Nghệ số ra ng y 5.12.1987, đã phần n o nói lên được n-i sợ hãi ấy của giới văn nghệ sỹ nói riêng v cũng l của nhân dân nói chung: " Rất thảm đối với nhân cách của một người văn nghệ sỹ l hễ cầm bút l phải nghĩ đến né tránh, che chắn, r o đón, đối phó..." v "văn chương gì m muốn viết một câu trung thì phải viết một câu nịnh? hèn, hèn chứ, nh văn nước mình tận trong tâm can ai m chẳng thấy mình hèn? cái sợ nó l m mình hèn.". Ðời sống của nhân dân bị khó khăn o ép l vậy, nhưng có lẽ lúc đó những người lãnh đạo cao nhất trong ÐCS Việt Nam đều cho rằng: phe XHCN đang mạnh, Liên Xô dưới thời của cố tổng bí thư Brêgiơnép (L.Brezhnev 1906 - 1982) l rất "h o hiệp". ÐCS Việt Nam chưa thấy có dấu hiệu n o của sự đe dọa mất quyền lực v do vậy nhu cầu đổi mới cũng… không có cơ sở để phát sinh! Mọi n- lực của đảng lúc ấy được dồn hết v o việc lãnh đạo đất nước thực hiện cho kỳ được đường lối do Ðại hội 4 đề ra năm 1976: "…Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền l m chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến h nh đồng thời 3 cuộc cách mạng...". Chỉ có điều l cứ c ng nắm vững chuyên chính vô sản bao nhiêu thì cuộc sống của nhân dân lại c ng khó khăn, điêu đứng bấy nhiêu. (tất nhiên việc nắm chắc tay súng bảo vệ bờ cõi l cần thiết, nhưng đó l chuyện ho n to n khác). Nhân dân miền Nam chỉ một thời gian ngắn sau ng y 30.4.1975 "được" chia lửa chuyên chính vô sản cùng với đồng b o miền Bắc của mình, đã chỉ còn biết ngửa mặt kêu trời : "Mấy ổng cái gì cũng muốn bắc (bắt), chỉ có cây cầu l hổng có thấy bắc."! (trong báo cáo chính trị của đại hội ÐCS Việt Nam lần thứ 5 họp tháng 3.1982 cũng vẫn nhấn mạnh: "Ðại hội khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối cách mạng XHCN v đường lối xây dựng nền kinh tế XHCN của đại hội 4..." - Xem website http://www.org.cpv.vn , mục ÐH ÐCS VN). Từ những trình b y trên ta có thể rút ra kết luận : chính nguy cơ đe dọa mất quyền lãnh đạo đất nước mới vừa l nguyên nhân sâu xa, vừa l động lực chính thúc đẩy những người nắm thực quyền trong ÐCS VN buộc phải chấp nhận đường lối đổi mới kinh tế v o năm 1986. Nó tuyệt đối không phải l do "tinh thần trách nhiệm cao của ÐCS VN trước nhân dân" như có người đã nêu ý kiến. 4 - Ai l người đã thực sự khởi xướng công cuộc đổi mới? Theo tôi đúng l có nhiều ÐVCS mang tinh thần đổi mới nhất l ở cơ sở, nhưng xét trên to n bộ Hệ thống đảng l chống đổi mới, c ng lên cao ở cấp trung ương c ng chống mạnh. Bởi vì chính chủ nghĩa Mác - Lê Nin đã mách bảo họ rằng : nếu từ bỏ cơ chế kinh tế chỉ huy tập trung, thì việc mất quyền duy nhất lãnh đạo đất nước của ÐCS Việt Nam chỉ còn l vấn đề thời gian. Chính nhân dân ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam mới l những người thực sự khởi xướng công cuộc đổi mới. Họ đã l m điều n y khi âm thầm, lúc công khai nhưng rất bền bỉ v quyết liệt từ nhiều năm trước đó. Bởi vì họ đã không thể chịu đựng được mãi cái đói, cái nghèo m lúc n y cũng đồng nghĩa với cái nhục nữa. V họ đã vùng lên, quyết "xé r o" để bung ra l m ăn sinh sống, bất chấp cái giá m họ có thể phải trả. Ai không tin điều n y xin hãy tìm hiểu thêm câu chuyện của những người nông dân Vĩnh Phú, m ngay từ năm 1966, khi còn chiến tranh đã đề xuất với ông Kim Ngọc - Bí thư tỉnh ủy lúc ấy một cách l m mới : cho phép khoán sản phẩm cuối cùng trong nông nghiệp tới từng hộ nông dân (gọi tắt l khoán hộ), nhằm thay thế cho lề lối đi l m theo tiếng kẻng của Hợp tác xã ho n to n thiếu sức sống trước đó. Nghị quyết hội nghị thường vụ tỉnh ủy Vĩnh Phú được ra đời sau đó đã phân tích rõ 8 điều lợi của khoán hộ. To n bộ hệ thống Ðảng khi biết chuyện đã la hoảng lên v cái "c- máy nghiền" kia lập tức vận h nh. Những quyết định kỷ luật được tung ra cho những người "dám cả gan" ấy, với các "tội danh" đại loại như : " Phủ định đường lối hợp tác hóa nông nghiệp, mưu toan phục hồi lại con đường tư hữu của người nông dân."! v.v…Thế nhưng chân lý cuối cùng lại thuộc về những người bị kỷ luật, chứ không thuộc về những người đã ra quyết định kỷ luật họ. (cũng cần lưu ý l cấp ra quyết định kỷ luật Bí thư tỉnh ủy tất nhiên phải l cấp trung ương) . Chính vì có những người nông dân bình thường v những ÐVCS can đảm ấy, cùng biết bao người khác trên khắp đất nước, dám đương đầu với c- máy nghiền kia, thì nhiều năm sau mới có chỉ thị 100 của ban bí thư T.Ư mùa xuân 1981 - cho phép khoán sản phẩm cuối cùng trong nông nghiệp đến nhóm v người lao động (nhưng vẫn duy trì hệ thống hợp tác xã). Nghị quyết 10 của bộ chính trị tháng 4.1988 - cho phép giao đất canh tác đã hợp tác hóa để xã viên được trực tiếp sử dụng, v.v… Kết quả l sản lượng thóc cả nước tăng từ 12 triệu tấn năm 1981 lên 15 triệu tấn năm 1987, rồi 32 triệu tấn năm 2000 v nông nghiệp Việt Nam 15 năm qua liên tiếp được mùa, dù có những năm đất nước gặp thiên tai rất nặng. Ở trong các ng nh v lĩnh vực khác, nhân dân cũng phải gánh chịu muôn v n khó khăn không kém. Nh viết kịch t i ba Lưu Quang Vũ nay đã mất, xuất phát từ thực tiễn cuộc sống đã viết nên vở kịch Tôi V Chúng Ta (đạo diễn Nguyễn Ðình Nghi - đo n kịch nói H Nội trình diễn), được công chúng cả nước đón nhận nồng nhiệt v o những năm giữa của thập niên 80. Năm tháng đã trôi qua, nhưng những ai đã từng xem nó đều như còn nghe văng vẳng đâu đây những lời của giám đốc một xí nghiệp công nghiệp - Ho ng Việt, chúng vừa uất ức nghẹn ng o, vừa như muốn thét v o mặt những đại diện của cơ chế cũ : "… Các anh quẳng chúng tôi xuống nước bảo chúng tôi bơi nhưng lại trói chân, trói tay chúng tôi lại thì l m sao chúng tôi bơi được?…" v "…Những nguyên tắc được sinh ra l để phục vụ cho cuộc sống, chứ không phải cuộc sống phục vụ cho những nguyên tắc!…". Thế nhưng c- máy ấy vẫn lạnh lùng quay, nhằm cố bảo vệ cho kỳ được "những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội."! Mọi biến đổi tích cực của đất nước những năm qua một mặt chứng tỏ rằng: sự cần cù, thông minh v khả năng hòa nhập của con người Việt Nam v o một thế giới đang biến đổi h ng ng y l rất đáng khâm phục v tự h o. Nhưng mặt khác nó cũng cho người ta thấy rõ sự kìm hãm v mức độ t n phá của cơ chế cũ đối với đất nước l khủng khiếp đến chừng n o. (nếu đem so sánh những thiên tai với những hậu quả m những "thiên t i" đã trút xuống cho đất nước bao năm trời thì quả vẫn l …chuyện nhỏ! ). Bằng chứng l chỉ cần khi ÐCS Việt Nam trả lại cho nhân dân một phần quyền tự do m họ đã bị tước đoạt trước đó thôi (thông qua cái gọi l :" Cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa"!), thì họ ho n to n có thể tự đứng vững trên đôi chân của mình. Cho dù nguồn viện trợ đến từ các nước XHCN đã giảm dần, rồi sau đó l gần như mất hẳn . Từ những trình b y trên ta cũng có thể rút ra kết luận : nếu nói ÐCS Việt Nam đã lãnh đạo công cuộc đổi mới thì đúng (vì có chịu buông ra đâu!). Nhưng nếu lại nói rằng ÐCS Việt Nam đã khởi xướng công cuộc đổi mới l ho n to n sai. 5 - Một vấn đề lớn cần l m rõ: Tuy nhiên trong thực tế lại nảy sinh một điều trớ trêu v rất phổ biến l : có nhiều người trong Ðảng hôm qua đã từng không từ một thủ đoạn n o để chống lại đổi mới, thì hôm nay đùng một cái lại nghiễm nhiên trở th nh "những chiến sỹ đi đầu trong công cuộc đổi mới"! Ðề cập đến "tính tiền phong" n y trong b i CHIA TAY Ý THỨC HỆ, anh H Sỹ Phu cũng đã viết : Một câu hỏi đặt ra l điều gì đã l m cho người ta có thể vơ v o cho mình một chiến công lớn của nhân dân như vậy? Theo tôi câu trả lời thật giản dị: chính thể chế chính trị chỉ có duy nhất một đảng lãnh đạo đất nước đã l ‘‘nhân tố chủ yếu quyết định cho thắng lợi ấy’’! Những chuyện tương tự nếu l ở các nước có nền dân chủ thực sự, thì dù họ thuộc những đảng đang ở vị trí đối lập hay đảng đang nắm quyền, dẫu có rất muốn cũng không thể l m được. Có lẽ chính vì thế m ở một đoạn khác trong b i trên, anh H Sỹ Phu cũng đã viết đại ý: "Người cộng sản rất thích chơi trò "đạo đức" nhưng không dám chơi trò "quân tử", dùng đạo đức con người có thể lừa cả mình, nhưng khi lòng đã cất lên tiếng quân tử thì con người phải đối diện với chính lương tâm mình không trốn v o đâu được, bởi nó cụ thể như thế nên đạo đức giả thì dễ nhưng quân tử giả thì không dễ chút n o, thiệt đến quyền lợi sát sườn ngay.". (xem tuyển tập H Sỹ Phu - website http://members.aol.com/vietnamgo/hasphu.htm ) . Nhưng tôi tin rằng lịch sử rồi sẽ rất công bằng: Thạch Sanh l Thạch Sanh m Lý Thông l Lý Thông, chứ không lẽ n o những gã Lý Thông hôm qua đã từng thả đá lấp hang hại người, lại hết loạt hóa th nh những ch ng Thạch Sanh v o hang cứu người hôm nay được. Bởi vì như thế thì quá bất công, những bất công đã kéo d i từ suốt nửa sau của thế kỷ 20, rồi nay sang luôn cả thế kỷ 21 n y dứt mãi chưa ra. Họ - những gã Lý Thông thời đại ấy đã nêu thêm một gương rất xấu cho dân tộc nói chung v nhất l cho thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay nói riêng. Phần II - Sự đổi mới hôm nay v một số vấn đề của nó.1- Về tính duy nhất của đảng cầm quyền : Có ý kiến cho rằng : hôm nay ÐCS Việt Nam đã quyết tâm đổi mới, mọi việc đều đang biến đổi h ng ng y h ng giờ. Rồi Ðảng sẽ mở rộng dân chủ trong nội bộ cũng như ra ngo i xã hội hơn nữa, sẽ cải cách h nh chính, trẻ hóa, trí thức hóa đội ngũ của mình v nghiêm túc tiếp thu ý kiến phê bình của mọi tầng lớp nhân dân. Xử lý nghiêm khắc mọi hiện tượng tiêu cực trong Ðảng, v.v... Ðất nước nhất định sẽ tiến lên ! Nhưng theo tôi tất cả những thay đổi đó nếu có, cho dù l thực tâm cũng không giải quyết được tận gốc của vấn đề. Bởi vì nguyên nhân sinh ra chúng, xuất phát từ thể chế chính trị l vẫn còn nguyên. (tức l chỉ có duy nhất một ÐCS Việt Nam lãnh đạo đất nước, được ghi rõ trong điều 4 hiến pháp hiện h nh). Vì vậy cái cơ chế do thể chế chính trị ấy sinh ra dứt khoát sẽ không chống được tham nhũng. Cũng chẳng chống được buôn lậu v tất nhiên nó cũng không xóa được những áp bức, bất công trong xã hội đã v đang c ng ng y c ng sâu sắc, kể cả những bất công trong nội bộ đảng. (cứ cộng cộng, trừ trừ một hồi thì ai cũng thấy rõ l chỉ có một thiểu số tìm được những thiên đường, mùa xuân cho họ v gia đình. Còn đại bộ phận dân tộc thì đã phải gánh chịu Những Thiên Ðường Mù, những Mùa Hè Ðỏ Lửa thịt nát xương tan .) . Tương tự đối với việc giải quyết những vấn đề lớn khác của đất nước như : xây dựng v thực hiện các quyền tự do căn bản của con người : tự do tư tưởng, báo chí, ngôn luận, tín ngưỡng, lập hội, hòa giải v hòa hợp dân tộc, v.v… nhưng lại phải luôn thỏa mãn nguyên tắc l :‘‘ Ðo n kết, thống nhất dưới sự lãnh đạo của ÐCS Việt Nam’’! Thì theo tôi chính điều n y mới l không tưởng. Vì vậy tất nhiên nó cũng không thể xây dựng được một xã hội dân chủ được đa số nhân dân Việt Nam chấp nhận . Ðiều n y chẳng những đúng với Việt Nam m còn đúng với to n hệ thống XHCN nói chung, hãy lấy trường hợp Cu Ba với vấn đề tuổi tác l m ví dụ: Năm 1959 - khi Phi Ðen (Phidel Castro) v các đồng chí của ông tiến h nh khởi nghĩa vũ trang, lật đổ được chế độ Batista v sau đó bắt đầu công cuộc xây dựng CNXH ở Cu Ba, thì tuổi đời của họ đều chỉ trên dưới 30, nghĩa l còn rất trẻ. Nhưng không phải vì thế m hôm nay sau hơn 40 năm, những người cộng sản của nước n y đã xây dựng được một nền dân chủ thực sự, nếu như không muốn nói l ngược lại: sự độc t i. Thậm chí chính những người trẻ tuổi một khi đã nắm được quyền lực rồi lại có nhiều cơ sở để "yêu tha thiết" chế độ độc đảng hơn cả, bởi vì l trẻ hơn nên thời gian nắm quyền lực của họ cũng sẽ lâu hơn . Ở Việt Nam, trước những quốc nạn tham nhũng v buôn lậu ng y c ng lan tr n như hiện nay, đã l m cho nhiều người dân cùng có chung một suy nghĩ : ông n o lên thì cũng vậy thôi. Có khi cứ để mấy ông gi l m lại còn đỡ hơn, vì các ông ấy… ăn đủ rồi nên biết đâu các ông ấy còn ... thương dân! Chứ bây giờ lại đưa mấy "bố trẻ" lên, các bố ấy ăn chưa đủ thì còn báo dân, hại nước nữa! Theo tôi bất cứ một hệ thống quyền lực n o từ cổ chí kim, nếu nó chỉ được xây dựng bởi một lực lượng chính trị duy nhất, lại không có khả năng thay thế, thì dẫu ban đầu lực lượng ấy được tập hợp bởi đa số những con người có tấm lòng trong sáng, sự dấn thân v cùng có chung một lý tưởng cao đẹp cũng không bao giờ trở nên tử tế lên được, chắc chắn cùng với thời gian nó sẽ dẫn tới sự thoái hóa, biến chất của to n bộ hệ thống. Bởi vì l duy nhất nên nó không thể tạo được một Cơ Chế Hãm thực sự hữu hiệu: một khi m anh luôn được nắm quyền lãnh đạo" trực tiếp, to n diện v tuyệt đối" đất nước; lại "cương quyết không chia xẻ với ai”! Thì dù "tam quyền" có "phân lập" theo kiểu gì rồi cũng nhập một m thôi. Ví dụ ở Việt Nam, dư luận cũng thường b n tán rằng: m-i lần có những vụ án lớn mang tầm cỡ quốc gia thì trước khi tòa nghị án, lại nghe Bộ chính trị… họp khẩn! Nền dân chủ hiện đại đã tìm ra những công cụ rất sắc bén để tạo ra một cơ chế hãm hữu hiệu lên đảng n o đang cầm quyền. Ðó l những lá phiếu của cử tri - những người đóng thuế. L sự kiểm tra, kiểm soát v chất vấn thường xuyên của các đảng đối lập. L vai trò quan trọng của giới truyền thông, v.v... để nếu đảng cầm quyền có l m sai điều gì, thì cũng sớm bị phát hiện v ngăn chặn kịp thời. Nhưng ở các nước XHCN thì tất cả những công cụ trên hoặc l không được phép xuất hiện, hoặc nếu có thì cũng thường chỉ l hình thức, mang nặng tính trình diễn . Do vậy đã nảy sinh một mâu thuẫn rất dễ nhận ra l : khi những nghị quyết của ÐCS ban h nh thì chúng tác động, ảnh hưởng lên to n xã hội, tức l rất mở. Nhưng khi đề cử v bầu nhân sự của Ðảng - những người sẽ l m v thông qua những nghị quyết kia, thì lại l "công việc nội bộ của đảng" - tức l rất đóng v tất nhiên l họp kín! 2- Kiên trì với tính định hướng XHCN - những mâu thuẫn giữa quan điểm v thực tiễn : Trong chương trình cầu truyền hình đón ch o năm 2000, khi điểm qua những sự kiện lớn trên thế giới của thế kỷ thứ 20 vừa qua, một nữ phát thanh viên của Ð i truyền hình trung ương đã đọc một đoạn văn sau đây: "…V o thập kỷ cuối của thế kỷ, những biến động xã hội dẫn đến sự tan rã của hệ thống XHCN ở Liên Xô v các nước Ðông Âu, tuy nhiên phải nói rằng đây chỉ l cuộc khủng hoảng của những mô hình phát triển, chứ không phải l thất bại của CNXH như một hình thái kinh kế - xã hội. Những mô hình phát triển trung th nh với ý tưởng của CNXH v mang bản sắc riêng vẫn đang phát triển th nh công ở Trung Quốc hay Việt Nam. Các nước TBCN cũng đang phải tự điều chỉnh mọi phương diện để tự tồn vong. Biểu hiện l con đường thứ 3 hay Chủ nghĩa tư bản mầu hồng đang lên ngôi ở một loạt nước Tây Âu..."! Hãy khoan nói đến cách lập luận luẩn quẩn theo kiểu "con kiến m leo cây đa" của đoạn văn trên, (có người còn nhận xét l nó tuy nghèo cơ sở thực tiễn, nhưng lại rất giầu "tinh thần"... c cuống!) m chỉ nói đến nội dung của nó: con đường thứ 3 n o, CNTB mầu hồng n o đang lên ngôi? V cái gọi l "bản sắc riêng" của Trung Quốc hay Việt Nam hôm nay l gì? Cũng lại thôi không nói đến chuyện đúng hay sai của‘‘ Chủ nghĩa xã hội khoa học’’ nữa. Nhưng thử hỏi xem, cả Trung Quốc lẫn Việt Nam hôm nay còn thực sự trung th nh được bao nhiêu phần trăm với những "Ý tưởng của CNXH" m những nh cộng sản tiền bối đã vạch ra, còn lại bao nhiêu phần trăm l của thứ " Tư bản lưu manh v bệnh hoạn "? (chữ của anh H Sỹ Phu) . Cũng cùng một quan điểm trên, trong dự thảo nghị quyết đại hội ÐCS Việt Nam lần thứ 9, đang được đưa ra cho nhân dân đóng góp ý kiến, thì quan điểm bao trùm có tác dụng quyết định đến phương hướng, nhiệm vụ của cả đất nước trong giai đoạn tới vẫn cứ l : "…Lịch sử thế giới đã, đang v sẽ còn trải qua những bước quanh co, xong lo i người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó l quy luật tiến hóa của lịch sử…"! Hay nói tương tự như Lê Nin hồi đầu thế kỷ trước: "Chủ nghĩa tư bản độc quyền nh nước l cái phòng chờ của chủ nghĩa xã hội"! Nhưng chúng ta hãy thử hình dung một chút : nếu đúng l quy luật tiến hóa của lịch sử diễn ra như vậy, thì một ng y n o đó nước ta sẽ từ một nước đang đi đằng đuôi sẽ nhảy phắt lên h ng đầu! (theo những số liệu điều tra gần đây thì Việt Nam xếp h ng thứ 8/13 nước nghèo nhất h nh tinh. Tức cũng thuộc 1 trong những nước thuộc khối ‘‘ G8 ’’, nhưng l sắp theo thứ tự từ dưới lên!) . Ðể một lần nữa, Việt Nam lại tiếp tục được gánh vác cái "sứ mệnh m lịch sử giao phó" l dẫn dắt nhân loại tới cái tương lai tươi sáng kia! cái tương lai m không hiểu vì sao nhân loại ‘‘chậm hiểu’’ n y ngồi mãi trong cái "phòng chờ" ấy nhưng vẫn không chịu nhận ra! Chỉ có điều trước khi được hưởng cái hạnh phúc "vui gì hơn l m người lính đi đầu" ấy, thì dân tộc ta vẫn phải trải qua "những bước quanh co", vẫn phải "đẩy mạnh hơn nữa nhiều mặt công tác". Trong đó có công tác xuất khẩu lao động sang các nước "Tư bản đang giẫy chết"! phải l m sao để những chiếc "vòi bạch tuộc" ở chính quốc kia "cơ bản ho n th nh" việc hút cạn kiệt sức lực dân ta thì lúc ấy "xét về thực chất" nhân loại đã có chủ nghĩa xã hội! Quả thật, vẫn biết l mình không phải, nhưng nhiều khi tôi vẫn cứ thầm trách hồn thiêng sông núi sao mãi không về để phù hộ cho dân tộc thoát ra khỏi cơn mê n y. (trong hội nghị về xuất khẩu lao động kéo d i 2 ng y 8 v 9.6.2000 tại H Nội. Thủ tướng Phan Văn Khải tuyên bố: "… Xuất khẩu lao động v chuyên gia l một chiến lược trước mắt v lâu d i...", v cũng theo nguồn tin từ báo chí trong nước thì năm 2000 Việt Nam đã xuất khẩu được 38.000 lao động. Dự kiến chỉ tiêu thực hiện năm 2001 sẽ l 50.000 người) . Dỹ nhiên nói như vậy không có nghĩa l tôi phản đối việc xuất khẩu lao động. Bởi vì có khi đây l cứu cánh cuối cùng của nhiều gia đình Việt Nam hôm qua v hôm nay. M chỉ muốn nói lên sự mâu thuẫn giữa quan điểm của những người bảo thủ trong ÐCS Việt Nam với thực tiễn cuộc sống. Chính môi trường chính trị đã v đang diễn ra trên đất nước ta mới l nguyên nhân sâu xa, khiến cho những người lao động Việt Nam phải chịu muôn v n đắng cay ở ngay trong nước cũng như khi ra nước ngo i. Ai không tin điều n y xin tìm hiểu thêm tình trạng của những người công nhân Việt Nam trên đảo Samoa thuộc Mỹ, m báo chí trong nước gần đây cũng có đăng tải, hoặc tìm hiểu thêm rất nhiều ví dụ khác đã phát sinh trong các xí nghiệp do người Nam H n, Ð i Loan, v.v… l m chủ ở Việt Nam hiện nay . Theo tôi hệ thống XHCN đã có một giai đoạn hội được những điều kiện tốt nhất để thực hiện những ý tưởng cộng sản của mình. Ðó l những năm từ đầu thập niên 50 đến cuối thập niên 70 của thế kỷ 20 vừa qua. Vì lúc ấy l còn cả một hệ thống với rất nhiều con người tin v o sự tất thắng cuối cùng của nó, một lòng một dạ đi theo. Nhất l lớp trẻ với tấm gương sáng ngời của ch ng thanh niên Nga - Paven Corsaghin cổ vũ (trong tiểu thuyết Thép Ðã Tôi Thế Ðấy) . Tất cả đều "hăng hái tiến lên dưới ngọn cờ của Ðảng tiền phong v của lãnh tụ tối cao."! (thậm chí ở Trung Quốc khi "Người cầm lái vĩ đại" bảo l m thép thì người người l m thép, nh nh l m thép. Bảo đi diệt chim sẻ thì cả nước ra quân đi săn lùng, tận diệt cho kỳ được đ n chim tội nghiệp kia. Ở Việt Nam cũng vậy, có những lúc, những nơi người ta đã từng đưa ra khẩu hiệu: "Bát cơm, quả c cộng với tinh thần cộng sản chủ nghĩa để xây dựng chủ nghĩa xã hội"!). Rất nhiều người lương thiện với nhiệt tình cách mạng đã không nề h gian khổ v quyết dấn thân . Tất cả những điều được cho l "phi XHCN" thuộc mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đều bị bao vây, ngăn chặn, thậm chí còn bị bức hại trên quy mô to n hệ thống. Tức l mọi điều kiện cho "cuộc thực nghiệm" những ý tưởng của CNCS đều đã được thỏa mãn với khả năng cao nhất có thể. Xong một khi đã "tận nhân lực" đến như vậy rồi m kết cục vẫn l sự sụp đổ của tất cả các nước Ðông Âu v Liên Xô, thì vấn đề l phải lật ngược những ‘‘ hòn đá tảng ’’ kia lên xem ở bên dưới nó l cái gì? (đấy l chưa kể đến cái gọi l nước Campuchia Dân Chủ dưới thời của bè lũ PolPot -Ieng Sary được chính quyền Bắc Kinh giật dây v nuôi dưỡng. Ởû đó nếu ai không chịu tuân theo lệnh họ thì cứ lấy cuốc m bổ v o đầu nhau, nhằm xây dựng một thứ " CNXH thuần khiết "! Khiến cho chỉ trong 4 năm từ 1975 - 1979 đã có khoảng 1.5 - 1.7 triệu người bị giết, chiếm 20% dân số nước n y.) Do vậy sẽ thật l nhẫn tâm v độc ác với những ai ở Việt Nam, đến hôm nay rồi m vẫn còn mưu toan đem cả dân tộc ra để thực nghiệm tiếp những ý tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê Nin. Bằng cách đó họ đã l m cái công việc giống như của tầng lớp vua quan phong kiến nh Nguyễn gần 2 thế kỷ trước : luôn trung th nh một cách mù quáng với Khổng Tử, Mạnh Tử. Một lòng một dạ hướng về " Thiên triều ", để rồi đất nước đã bỏ lỡ chuyến tầu văn minh công nghiệp xuất phát từ phương Tây, dân tộc tiếp tục chìm đắm trong đói nghèo lạc hậu, v sau đó l bị người Pháp đô hộ gần 100 năm. Có điều l những vua quan nh Nguyễn xưa thì thực sự tin rằng : " cái bọn Phú Lang Sa, bọn Tây Phương kia l man di mọi rợ ". Chứ không phải như nhiều người trong tầng lớp vua quan thời nay, dù chẳng còn mảy may tin gì v o các cụ Mác, Lê nữa, nhưng cứ vờ vờ vịt vịt để đánh lừa cả một dân tộc. Họ chính l những người luôn tìm cách chơi trò "đạo đức" với nhân dân : miệng thì nói rằng lấy dân l m gốc, nhưng thực chất l họ chỉ muốn lấy gốc l m thớt m thôi! Ðây mới l điểm khác nhau lớn giữa người xưa v người nay cần l m rõ. Dỹ nhiên tôi không có ý nói đến những người cộng sản chân chính m tôi luôn kính trọng. Thực tế thì đa số họ cũng đều đã thuộc tầng lớp bị trị rồi. Bởi vì cái hệ thống"s ng" kia rất tinh khôn v lão luyện trong việc "lọc" người. Chúng ta cũng nên khách quan m nhìn nhận rằng trong số bốn nước XHCN còn lại, thì chính hai nước Cu Ba v Bắc Triều Tiên (Bắc H n) mới thực sự l "chính chuyên" với những ý tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê Nin hơn cả. Nhưng hôm nay đời sống của nhân dân hai nước n y khó khăn như thế n o ai m không biết . Còn với Trung Quốc v Việt Nam thì động lực chính l m nên sự chuyển biến tích cực trong những năm qua, l do sự vận h nh của cơ chế thị trường, dựa trên căn bản sự tư hữu về tư liệu sản xuất. L sự tiếp nhận nguồn vốn v công nghệ, m chủ yếu l đến từ các nước TBCN, chứ đâu phải l xuất phát từ "quyền l m chủ tập thể XHCN của nhân dân lao động" ? (cái điều m cả hai dân tộc đã buộc phải lao v o xây xây, đắp đắp bao năm trời, tốn biết bao mồ hôi công sức, kể cả cơ man n o l máu v nước mắt. Nhưng rồi cuối cùng thất bại vẫn ho n thất bại.) . Những năm qua tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của cả 2 nước đều đạt khá cao (từ 5 đến 10% / năm), nhưng đây l điều bình thường đối với những nước mới bước v o giai đoạn phát triển. Ðiều n y 30 -40 năm về trước, các nước trong khu vực cũng đã trải qua khi họ được tiếp nhận nguồn vốn v công nghệ của Mỹ v các nước phương Tây, v.v... Nhưng cùng với thời gian, tỷ lệ trên sẽ giảm dần theo quy luật. Rất nhiều người đã bị nhầm lẫn về tính " ưu việt " n y. Một sự nhầm lẫn tương tự v cũng rất phổ biến l nếu lại đi so sánh mức sống chung của nhân dân hay của bản thân mình hôm nay với thời kỳ trước đổi mới. Thậm chí còn l trước...cách mạng tháng Tám năm 1945 (!) rồi lấy đó l m sự h i lòng . 3- Vấn đề nhận thức lại: Theo tôi vấn đề l phải l m sao thoát ra được phương pháp tư duy xưa, cùng những vùng miền của não trạng cũ. Một khi đã thoát ra được rồi thì chúng ta hãy thử đặt ra cho mình những câu hỏi sau : - Vì sao trước đây, năng suất lao động trong những mảnh ruộng 5% m các hộ xã viên được tùy ý sử dụng lại luôn cao hơn năng suất trên những cánh đồng hợp tác xã nông nghiệp Việt Nam, chiếm tới 95% qũy đất đai còn lại? (thường l ở miền Bắc.). - Ai đã tạo ra cái cơ chế cũ v duy trì nó bao năm trời? Ðể ng y nay m-i khi nhớ về nó ta vẫn thường chậc lưỡi: ôi cái "thời bao cấp" ấy m , nhắc lại l m gì! - Nếu anh bị người ta trói lại, rồi nay do tình thế họ buộc phải nới lỏng cho anh một chút, anh vội v ng cảm ơn họ như ơn cứu mạng thì điều đó có ổn không? - Nếu như trước kia, khi Việt Nam xây dựng CNXH còn cả một hệ thống XHCN h- trợ, kết cục ra sao đã quá rõ r ng. Còn nay trong cảnh "chợ chiều" n y - khi to n hệ thống đã tan đ n, xẻ nghé m vẫn cứ phải tiếp tục "định hướng" v o đấy thì rồi đất nước sẽ đi về đâu? (hay ta cứ l m theo lời dạy của Lê Nin l : "… Mượn tiền đề từ các nước tư bản phát triển. " để vừa được việc ta, vừa kết hợp "đ o mồ" chôn họ luôn? Vì đằng n o thì những mâu thuẫn vốn có của CNTB cũng có giải quyết được đâu. Ðằng n o thì lịch sử cũng sẽ tìm ra con đường đi cho mình, cuối cùng tương lai của nhân loại cũng sẽ thuộc về CNXH thôi!) . Riêng tôi thì không nghĩ rằng những nh tư bản từng d y dạn bao năm trời trên thương trường quốc tế, lại kém thông minh hơn những trò láu cá vặt của ta. - Tại sao hễ cứ c ng " định hướng XHCN " bao nhiêu thì tốc độ tích lũy t i sản của các nh tư bản đỏ thời nay lại c ng tăng vọt lên bấy nhiêu? Tại sao chống buôn lậu v tham nhũng không đạt hiệu quả ? Tại sao mọi chiến dịch " Xây dựng v chỉnh đốn đảng " đều đã bị đánh trống bỏ dùi, đầu voi đuôi chuột ? (theo một cuộc khảo sát gần đây của Tổ Chức Tư Vấn Về Các Rủi Ro Chính Trị V Kinh Tế (P.E.R.C) , có trụ sở đặt tại Hồng Công đã cho ra kết quả: Việt Nam đứng đầu trong bảng sắp hạng các nước có guồng máy h nh chính cồng kềnh, kém hiệu qủa v khó l m ăn nhất thuộc khu vực châu Á , với O điểm l không có khó khăn, 10 điểm l khó khăn tối đa, nước ta đạt 9. 5 điểm! - xem chi tiết trong website : www.lenduong.net ng y 27.2.2001.) Ở trong lĩnh vực văn hóa - thông tin cũng vậy : - Vì sao những chuyện rất nên kể cho nhân dân biết, ví dụ như Chuyện Kể Năm 2000 của nh văn Bùi Ngọc Tấn thì lại bị cấm? Còn chuyện "vơ v o" nói ở phần I, vốn bị ông b ta ng y xưa rất ghét, cho l điều cấm kỵ với con cháu thì lại cứ kể, m lại còn kể rất nhiều v rất dai? - Vì sao với những biến động lớn về tôn giáo, sắc tộc, đất đai, v.v… diễn ra gần đây ở Huế v một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên thì báo, đ i lại chỉ cho đăng những ý kiến phê phán những người đã tham gia v o đấy? Thế còn những ý kiến ủng hộ họ có hay không? Nếu có tại sao không cho đăng? Có phải họ l " Những phần tử lợi dụng quyền tự do dân chủ của nước CHXHCN Việt Nam’’ để chuyên gây rối . Rồi lại bị " Các thế lực thù địch từ bên ngo i kích động v giật dây," v.v… hay họ l những tầng lớp nhân dân bị áp bức, bóc lột quá lâu ng y, nay không thể chịu đựng được nữa v quyết vùng lên đấu tranh ? - Vấn đề cũng tương tự đối với loạt b i của nh báo Nguyễn Như Phong đăng trên tờ An Ninh Thế Giới hồi tháng 1 năm 2001 vừa qua, với những chỉ trích nhắm v o các ông H Sỹ Phu v Mai Thái Lĩnh. Theo tôi chưa nói đến chuyện đúng sai thuộc về ai, nhưng ít ra l sau đó, nếu không phải l tờ ANTG thì cũng nên l một tờ báo khác tạo cơ hội cho họ được tự bảo vệ, như vậy mới l phải lẽ . Chứ nếu lại đi "hướng dẫn dư luận" bằng cách anh thì được quyền viết, nói v đăng báo thoải mái, còn tôi thì bị trói tay, bịt miệng lại, thì lo gì m anh không "to n thắng"? Với điều kiện ‘‘ đấu tranh với địch ’’ thuận lợi như thế thì cũng sợ gì m không tạo ra những người cầm bút đã viết một câu nịnh rồi lại viết tiếp những câu nịnh nữa, chứ l m gì có nửa câu trung n o! Ai l Mặt Thật còn ai l Mặt Nạ đây? Thông tin như vậy l đa chiều, hai chiều hay chỉ có một chiều? v.v… ( xem thêm chi tiết trên các websites: www.thongluan.org v www.lmvntd.org ) . Nếu mở rộng tầm nhìn hơn nữa, ta có thể đặt tiếp những câu hỏi sau : - Vì sao nếu đem các cặp Ðông v Tây Ðức, Bắc v Nam Triều Tiên, Trung Quốc lục địa với Ð i Loan, Hồng Công, Ma Cao ra để so sánh, thì ưu thế rõ r ng l nghiêng hẳn về các vế sau? (xét cả về mức sống, quyền sống, quyền tự do v quyền mưu cầu hạnh phúc.) - " Ðó l những lẽ phải không ai có thể chối cãi được "! ( những lời trong Tuyên Ngôn Ðộc Lập ng y 2.9.1945) . - Vì sao chúng ta chỉ thấy những dòng người di cư từ những vùng đất " 1 triệu lần dân chủ hơn" sang những vùng đất đối nghịch phía bên kia, m không phải l ngược lại? - Vì sao người Mỹ lại chọn Việt Nam m không phải l một nước n o khác l m điểm nóng để nhảy v o can thiệp từ đầu thập niên 50 của thế kỷ thứ 20 vừa qua? Liệu có đúng l do nguyên nhân : " Ðế quốc Mỹ vì sinh sau đẻ muộn nên phải đi xâm chiếm thêm thuộc địa, nhằm thiết lập nên một thứ chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở Việt Nam" hay l do những nguyên nhân n o khác? v.v. V một khi đã giải đáp được cho mình những câu hỏi đó rồi, thì chúng ta cũng tự giải đáp được luôn sự mâu thuẫn giữa quan điểm:‘‘ Xây đựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ’’ với thực tiễn hôm nay . Nó vì dân tộc hay chỉ vì một thiểu số nắm đặc quyền, đặc lợi? ( chưa kể đến việc nó còn mâu thuẫn với bất cứ một luận điểm n o trong học thuyết của Mác. Ai còn không tin cứ mang bộ Tư Bản Luận của ông ra m đối chiếu.). Cũng cần nhắc lại rằng v o tháng 8 năm 1989, tức l chỉ 3 tháng trước khi bức tường Berlin ở Ðông Ðức sụp đổ, " Cuộc Cách Mạng Nhung " ở Tiệp Khắc gi nh được to n thắng (tháng 11.1989), v.v… thì tại hội nghị lần thứ 7 BCHTƯ ÐCS Việt Nam khóa 6, đã ra một nghị quyết có tên l Một Số Vấn Ðề Cấp Bách Về Công Tác Tư Tưởng Trước Tình Hình Trong Nước V Quốc Tế, trong đó ngay ở điều 1 ghi rõ: "…Khẳng định tính tất yếu lịch sử của CNXH v những th nh tựu vĩ đại của hệ thống XHCN thế giới…"! (xem website: http://www.cpv.org.vn , mục Ðại Hội ÐCS Việt Nam) . Ðiều n y khiến cho mọi người dân Việt Nam quan tâm đến vận mệnh đất nước lại c ng thấy lòng mình như có lửa đốt : một khi m trí tuệ của cả một BCHTƯ vốn được coi l đổi mới, thế m gần 3 năm sau còn đưa ra một nhận định lớn, có kết quả bị thực tiễn phủ nhận ngay như vậy, thì nội BCH ấy chỉ đại diện cho ÐCS Việt Nam không thôi cũng đã không xứng đáng rồi. Chứ nói gì đến chuyện lại còn đại diện cho trí tuệ v bản lĩnh của cả một dân tộc ? Nguy cơ ấy nay còn không? Với tất cả những gì đã v vẫn đang diễn ra v với phát biểu sau đây, tôi cho rằng chẳng những nó vẫn còn, m lại còn lớn hơn nữa: "Thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam đã đấu tranh gi nh độc lập, thống nhất ho n to n đất nước, quá độ đi lên CNXH. Thế kỷ 21, chúng tôi quyết tâm bảo vệ vững chắc nền độc lập, thống nhất của tổ quốc, mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, tiếp tục đi theo con đường đã chọn dù 50 năm, 100 năm hay lâu hơn nữa, chúng tôi cũng không bao giờ nao núng, CNXH nhất định th nh công."! (phát biểu của TBT Lê Khả Phiêu tại hội thảo quốc tế Việt Nam Trong Thế Kỷ 20 - tháng 9 năm 2000 - website: http://www.mofa.gov.vn , phần chính sách ngoại giao/ phát biểu v diễn văn.) Nghĩa l giả sử một đứa trẻ được sinh ra v o đầu thế kỷ 21 n y, thì đến cuối thế kỷ khi tròn 100 tuổi, có thể nó vẫn chưa nhìn thấy mặt mũi của CNXH ra sao cả! Biết đâu trước lúc lâm chung, nó lại vẫn "được" nghe một ông TBT ÐCS Việt Nam n o đó lúc ấy (của Ðại hội lần thứ 29 chẳng hạn!) tiếp tục thao thao: rằng "chúng tôi sẽ không bao giờ nao núng", "chúng tôi sẽ tiếp tục đi theo con đường đã chọn dù 50 năm, 100 năm hay lâu hơn nữa, CNXH nhất định th nh công."! Ði với tốc độ ấy l "…Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH…" hay l cứ nhẩn nha, đủng đỉnh m đi? Theo tôi, họ l những người đã mất hẳn mối liên hệ với nhân dân. Họ không còn biết, hoặc cố tình không biết nguyện vọng tha thiết của đại bộ phận dân tộc hôm nay l gì nữa rồi . 4 - Suy nghĩ thêm về một ý kiến đã đề xuất : Với mong muốn được góp sức mình cùng với nhân dân tìm lối ra cho đất nước, trong b i Việt Nam Ðất Nước Tôi viết tháng 6 năm 2000, tôi có nêu ý kiến đề nghị tổ chức một cuộc Trưng Cầu Dân Ý ở Việt Nam với câu hỏi: Việt Nam nên hay không nên theo chế độ đa đảng? Tôi cho rằng để giải quyết được tận gốc những quốc nạn của đất nước hôm nay v cũng để mở đường cho đất nước tiến lên, thì cách tốt nhất l hướng tới một nền dân chủ đa nguyên đích thực, trong đó yếu tố đa đảng l không thể thiếu được. Dỹ nhiên tôi cũng không chủ quan cho rằng sự đa đảng như một chiếc đũa thần m có nó l có tất cả, nhưng nó l điều kiện cần . Bởi vì chỉ khi dựa trên nền tảng ấy nó mới tạo được tiền đề cho những bước dân chủ tiếp theo. Từ đó mới có đủ điều kiện để lựa chọn được những con người, những lực lượng chính trị tốt nhất, tùy theo từng giai đoạn phát triển của đất nước. Bởi vì cuộc sống vốn đa dạng v biến đổi h ng ng y h ng giờ, chứ không phải l giáo điều v cứng nhắc như những gì m Mác đã nêu ra từ hơn một thế kỷ rưỡi qua. Nếu xét trên bình diện quốc gia để đánh giá, sự đa đảng khi nó có, nhất định sẽ l m cho đất nước tốt hơn. Dân tộc đo n kết hơn, chứ không thể xấu đi được. Còn một khi những giải pháp được đưa ra cứ theo kiểu chắp vá, nửa vời như hiện nay, (tức l chỉ chấp nhận đổi mới kinh tế nhưng cương quyết không chấp nhận đổi mới chính trị) do xuất phát từ việc luôn đặt quyền lợi của ÐCS Việt Nam lên trên hết, thì nó không thể chống, cũng chẳng thể xây được cái gì cho đến đầu, đến đũa. Chính nó l nguyên nhân lớn nhất, sâu xa nhất đã v đang từng ng y, từng giờ triệt phá biết bao sức lực, tiền bạc của nhân dân cùng t i nguyên, vốn vay mượn,… của đất nước. Thậm chí có khi phải chịu nhượng bộ cả những vùng lãnh thổ hoặc lãnh hải thiêng liêng m tổ tiên ta để lại cho con cháu hôm nay, như nó đã từng diễn ra trong quá khứ. Tóm lại nó chỉ l m cho đất nước c ng ng y c ng tụt hậu thêm so với thế giới, mất dần những khả năng cạnh tranh vốn đã rất yếu kém trong điều kiện to n cầu hoá. Ðể rồi có thể sẽ mãi mãi không ngóc đầu lên được như nhiều nước ở châu Phi hôm nay. (theo tiến sỹ Lê Ðăng Doanh - viện trưởng Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương : trong một cuộc nghiên cứu gần đây về khả năng cạnh tranh kinh tế, thì Việt Nam đứng thứ 53/ 59 nước được điều tra, tức l tụt đi 5 bậc so với năm 1999 - xem website: www.vnn.vn ng y 1.4.2001). Ở trong nước những năm qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng đã có nhiều b i viết, nói chuyện của các nh lãnh đạo trong ÐCS Việt Nam hoặc của các nh lý luận thường cho rằng: Sự đa đảng l chỉ phù hợp với những xã hội đã phát triển như ở các nước Bắc Mỹ, phương Tây, Úc, v.v... thôi, chứ dứt khoát nó chưa thể đem áp dụng v o Việt Nam được, do những khác biệt về lịch sử, văn hóa, con người,... v cảnh báo rằng nếu không khéo rồi lại xảy ra mất ổn định chính trị, đi kèm với nó l những xung đột v h-n loạn, đói nghèo v bệnh tật như nhiều nước châu Phi v một số nước khác . Từ đó đi tới kết luận: Ðảng ta cương quyết không chấp nhận đa nguyên, đa đảng! Theo tôi đây l một vấn đề lớn cần được nhiều người phân tích kỹ hơn, xong cũng chỉ xin lưu ý với những ai có ý kiến n y l : nguyên nhân sâu xa của những xung đột, đói nghèo,... ở các nước trên đã có quá trình lịch sử lâu d i từ nhiều trăm năm, thậm chí h ng ng n năm trước, nhưng khi ấy thì nền dân chủ đa nguyên, cũng như sự đa đảng l chưa hề ló dạng ở bất cứ nơi n o trên thế gian n y. Hơn nữa với một vấn đề quan trọng liên quan tới sự thịnh - suy của đất nước, thì không thể chỉ căn cứ v o duy nhất một ý kiến như trên được. Nếu đã nói l "không phù hợp" thì tại sao không để cho chính lịch sử ấy, nền văn hóa v dân tộc ấy khẳng định rằng chúng quả l như vậy đi thông qua một cuộc Trưng Cầu Dân Ý? Nói cách khác, nó l một cuộc Tổng điều tra xã hội học, một Hội Nghị Diên Hồng mang tầm vóc to n dân tộc . Nó không đòi ai một cái gì ngay lập tức, m chỉ đề nghị một cách l m l : ÐCS Việt Nam với vị trí chính trị đang có của mình, hãy tạo điều kiện để nhân dân được hỏi xem ý chí v nguyện vọng của họ hôm nay l gì ? (dù l với câu hỏi trên hay bất cứ một câu hỏi tương đương n o khác.). Còn nếu không thì ý kiến trên chỉ l rất chủ quan v phiến diện . Thực chất l sự ngụy biện, để hoặc vô tình hoặc cố ý tiếp tay cho những điều giả dối, ác độc tiếp tục ho nh h nh trên khắp đất nước . V do vậy, những điều m dân tộc đã bị nghe mãi bao năm trời đại loại như " Ðảng ta l của dân, do dân v vì dân . Mọi hy sinh phấn đấu cũng đều l vì hạnh phúc của nhân dân, v.v…"! Chỉ l nói lấy được, nếu như không muốn nói l trơ trẽn v dối trá. 5 - Hai điểm cần l m rõ thêm : - Có người cho rằng: thế nếu cụ Hồ không tìm đến được với Lê Nin v o năm 1920, để rồi 10 năm sau sáng lập v rèn luyện ÐCS Việt Nam, thì lấy lực lượng n o m tổ chức v lãnh đạo dân tộc ta chiến thắng được hai cuộc chiến tranh với Pháp v Mỹ, gi nh lại được độc lập tự do, thống nhất được đất nước, trên cơ sở vũ khí lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin ? Ở đây tôi không có ý trình b y về những nguyên nhân v tính chất của hai cuộc chiến ấy, v liệu đất nước có thể tránh được chúng hay không ( nhất l cuộc chiến tranh sau với người Mỹ), nếu như CT Hồ Chí Minh không mang con đường của chủ nghĩa Mác - Lê Nin về Việt Nam, m chỉ xin lưu ý tới vấn đề "Vũ khí lý luận" nói ở trên : Ðối với lịch sử giữ nước của dân tộc ta thì việc chiến đấu v chiến thắng giặc ngoại xâm, kể cả nhiều lần phải đương đầu với những thế lực rất hùng mạnh, không phải l chuyện mới mẻ chưa từng xảy ra. Bằng chứng rõ r ng nhất l việc chiến thắng giặc Nguyên v o thế kỷ thứ 13 đời nh Trần, gắn liền với tên tuổi của vị tướng lừng danh thế giới Trần Hưng Ðạo: vó ngựa của quân Nguyên đã từng chinh phục nhiều dân tộc từ châu Á sang châu Âu, nhưng khi đến Việt Nam thì chúng đã gặp thất bại. Chẳng những thất bại 1 lần m thất bại tới 3 lần . Chỉ có điều l ông cha ta thuở ấy n o đã biết đến các ông Mác, Lê Nin l ai? Bởi một lẽ giản đơn l phải đến 6 thế kỷ sau thì các ông kia mới ra đời. Một điểm quan trọng nữa l trong cả 3 lần chiến thắng ấy, tổ tiên ta không hề phải nhờ đến sự giúp đỡ n o từ bên ngo i. Bởi vì chính họ cũng bị quân Nguyên đô hộ, kể cả các nước lớn như Nga, Trung Hoa. Những chiến thắng trước v sau đó như Bạch Ðằng, Chi Lăng, Ðống Ða,... gắn với tên tuổi của những vị anh hùng dân tộc khác như : Ngô Quyền, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, v.v… c ng khẳng định thêm cho điều n y. Tất cả đều diễn ra trước khi các ông kia sinh ra . - Sau sự sụp đổ của Liên Xô v Ðông Âu, nhiều nước trên thế giới lo ngại về một trung tâm sức mạnh tuyệt đối, không có đối trọng xuất phát từ nước Mỹ. Những nh lãnh đạo trong ÐCS Việt Nam cũng đã nhiều lần lên tiếng về điều n y v ủng hộ cho một thế giới đa cực, có đối trọng. Nhưng nếu đã như vậy thì nên công bằng v nhất quán . Chứ không thể về mặt quốc tế thì chống sự đơn cực quyết liệt, còn ở trong nước thì lại "sắt son" tới cùng với sự đơn đảng được ! Như trong b i Việt Nam Ðất Nước Tôi đã có dịp trình b y, v nay tôi vẫn giữ nguyên quan điểm của mình rằng : Trong suốt 56 năm qua kể từ ng y 2.9.1945 đến nay, trước dân tộc ÐCS Việt Nam vẫn luôn l tự xướng danh, chứ không chính danh . Nếu muốn chính danh ÐCS Việt Nam cần phải gi nh được chiến thắng trong một cuộc Bầu cử tự do . Còn nếu thua thì phải nhường quyền lãnh đạo đất nước lại cho các đảng khác đã thắng, rồi chờ đến kỳ bầu cử sau . Như vậy mới l công bằng v phù hợp với nền dân chủ của thời đại mới . Tức l phải chấp nhận một sự đua tranh trên chính trường như tất cả các ÐCS ở các nước Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Úc,... h ng trăm năm qua, hoặc như ở các nước cộng hòa cũ thuộc Liên Xô, Ðông Âu hơn 10 năm qua. Xét ở một góc độ n o đó, nó cũng giống như trong một giải bóng đá tranh chức vô địch quốc gia m ở đó, những điều luật đem ra áp dụng phải tạo được sự bình đẳng thực sự cho những đội tham gia . Còn cơ hội có chiếm được vị trí số 1 hay không thì lại tùy thuộc v o khả năng của m-i đội : Nếu th nh tích thi đấu của anh l cao nhất anh sẽ l đội vô địch, nếu không thì phải chịu đứng thứ hạng thấp hơn, còn nếu kém quá thì có khi phải xuống hạng. Thậm chí phải chấp nhận cả chuyện giải thể hay sát nhập (nếu như có đội n o đó đồng ý sát nhập cùng anh) . Nhưng những cầu thủ giỏi v có phong cách thi đấu tốt thì vẫn luôn được khán giả tin yêu v ủng hộ . Họ không có lý do gì để lo ngại thất nghiệp cả. Một số sẽ nghỉ thi đấu v chuyển sang l m các công việc khác thích hợp hơn Còn những ai vẫn quyết tâm ở lại để xây dựng v củng cố đội mình thì cũng l điều tốt . Nếu chỉ xét riêng về tính quân tử v lòng trung thực, họ xứng đáng được mọi người vị nể. Một nền bóng đá quốc gia nếu muốn phát triển thì không thể chấp nhận tình trạng chỉ có một đội bóng n o đó, do muốn chiếm mãi ngôi "vô địch" bằng cách cứ nói khơi khơi rằng : " Trong điều kiện hiện nay cũng như trong tương lai, không có sự cần thiết khách quan n o để tạo dựng nên những đội bóng khác! Mọi ý kiến đòi sự "đa đội" đều l lạc lõng v xa lạ với thực tiễn, l dối trá v lừa bịp . Vì "đơn đội" đã l sự lựa chọn của khán giả rồi! Lịch sử thời đại cũng đã chứng minh như vậy.”! Nhưng theo tôi có lẽ không có khán giả n o bỏ tiền v o sân m chỉ để xem có m-i một đội bóng cứ xắn quần xắn áo, tất tả chạy ngược chạy xuôi, rồi sau đó l xăm xăm lên nhận Cup bao giờ. 6 - Những lời thay cho kết luận : Ng y nay dân tộc ta ho n to n có đủ điều kiện để chọn lại đường đi cho dân tộc mình. Chắc chắn cả dân tộc cùng chọn sẽ tốt hơn một người hoặc một lực lượng chính trị n o đó chọn . Nếu những ai đang nắm thực quyền trong ÐCS Việt Nam vẫn tìm đủ mọi cách để cố bám víu đến cùng v o sự duy nhất nói ở trên, thì chính họ đang chống lại cả một dân tộc v tr o lưu dân chủ mới trên thế giới . Kể cả việc phản bội lại chính những đồng chí cũ của mình hiện còn sống, cùng biết bao người đã ngã xuống trên khắp các nẻo đường mặt trận . Họ cũng chẳng thực sự tôn kính gì chủ tịch Hồ Chí Minh qua việc cứ đem tư tưởng của ông ra l m chiếc bình phong, nhằm che đậy cho những việc l m khuất khúc của mình. Bởi vì khi còn sống chính CT Hồ Chí Minh đã hơn một lần khẳng định rằng ông không hề có tư tưởng gì đặc biệt cả, m chỉ có năng lực hoạt động thực tiễn thôi. C ng "đeo râu đội mũ" cho ông họ c ng l m khổ ông. Chính họ đã v đang l những người vừa trực tiếp, vừa gián tiếp quấy rối giấc ngủ của ông, chứ không phải l "giữ yên giấc ngủ của Người" như họ vẫn thường nói. Ngay với Mác v Ăng Ghen họ cũng chẳng trung th nh gì, bởi vì cả hai ông lúc sinh thời, ít ra cũng đã đều thừa nhận sự tồn tại của những đảng công nhân khác bên cạnh đảng cộng sản : "…Những người cộng sản ở mọi nơi đều phấn đấu cho sự đo n kết v sự liên hiệp của các đảng dân chủ ở tất cả các nước..." v "…Những người cộng sản không phải l một đảng riêng biệt, đối lập với các đảng công nhân khác…". (trích Tuyên Ngôn Ðảng Cộng Sản 1848 - phần I I ) . Trong thực tiễn, tất cả các ÐCS ở các nước XHCN đều đã cố tình nhập nó lại l m một, v mọi người Việt Nam hôm nay đang cùng với thế giới tiến bộ bền bỉ đấu tranh tách cho được nó ra. Ðể sao cho trong tương lai gần, trên chính trường của một nước Việt Nam mới, chẳng những chỉ có các đảng công nhân m còn có các đảng khác nữa, theo sự đòi hỏi của cuộc sống sinh động . Tôi cũng viết b i n y như những lời trần tình cùng với những độc giả nếu có của mình . Chúng ho n to n không phải l để đả phá hay công kích bất cứ một cá nhân n o, dù l trong những b i viết có thể tôi đã nhắc đến họ. Tôi nghĩ rằng mong muốn của tôi cũng giống như của biết bao người Việt Nam khác l được góp một phần công sức dù nhỏ, nhằm chuyển biến được căn bản tình hình đất nước trong một diễn biến hòa bình, đưa nước ta hòa nhập tốt v o thế giới đang biến đổi mạnh mẽ. Sự hòa nhập về kinh tế tự bản thân nó đã chứa đựng những điều kiện tự nhiên cho sự hòa nhập về chính trị v ngược lại; giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ v biện chứng để thúc đẩy hoặc kìm hãm lẫn nhau. Ðiều đó tùy thuộc v o khả năng tận dụng hay bỏ lỡ của m-i quốc gia. Nếu đất nước vẫn phải tiếp tục chịu đựng tình cảnh như hiện nay l : run rẩy chấp nhận sự hòa nhập của vế trước v phủ nhận ho n to n vế sau, thì nguy cơ lớn nhất chính l sự gặm nhấm, ăn mòn do đủ các loại "axít" gây ra. Nó không phải l sự hòa nhập m dân tộc đang thiết tha mong đợi. Nó chính l sự hòa tan trong đau đớn, tủi nhục. V do vậy cơ hội m thời đại mới đang mở ra cho dân tộc ta có thể rút ngắn được phần n o khoảng cách đã bị tụt hậu quá xa so với thế giới. Với các nước trong khu vực Ðông Nam Á (ASEAN) - những nước m phần lớn trước Cách Mạng Tháng 8.1945 đều có ho n cảnh tương tự như Việt Nam, cũng sẽ bị tiêu tan . Nếu tình hình diễn ra đúng như vậy thì trách nhiệm ấy, những người bảo thủ hiện đang nắm thực quyền trong ÐCS Việt Nam hôm nay, sẽ phải trả lời trước dân tộc v lịch sử trong nay mai khi dân tộc ấy chuyển mình. Chính họ chứ không phải ai khác lại một lần nữa cố tình bỏ lỡ chuyến tầu văn minh trí tuệ m lẽ ra dân tộc đã được hưởng sớm hơn . Với lịch sử v dân tộc họ l tội phạm chứ không phải l nạn nhân! Nền dân chủ thực sự cho Việt Nam dẫu phải trải qua những gian nan thử thách, nhưng nhất định cuối cùng dân tộc cũng sẽ gi nh được nó . Bởi vì quy luật muôn đời của con người l : cùng tắc biến, biến tắc thông - Không có điều gì bị dồn nén đến cùng cực m không biến v một khi đã biến thì ắt sẽ thông ! Phương nam - Australia. |