From:
knguyen@nrn1.NRCan.gc.ca
Theo Hứa Hoành PNDD 152, 1996
Trong lịch sử chống ngoại xâm,
chưa có cuộc chiến tranh vệ quốc nào kỳ cục như cuộc kháng chiến
chống Pháp vào năm 1945 mà CS gọi là "Cách mạng tháng 8".
Dùng thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ, lừa bịp, gây chia rẽ, khủng bố, tàn
sát để chiếm cho được chính quyền trong tay người quốc gia, Việt Minh
lãnh đạo cuộc kháng chiến đi lòng vòng, phí biết bao nhiêu nhân lực,
vật lực, tài lực, đến khi chiến thắng thì đất nước đã khánh tận.
Kéo dài cuộc kháng chiến để họ có đủ thời giờ "hy sinh những
người anh em" ngoài đảng. Nhờ những người này, đảng CS mới hưởng
được vinh quang.
Bài này kể lại những điều tai
nghe mắt thấy của người trong cuộc. Có người theo suốt cuộc kháng
chiến tới ngày thành công, có người bỏ cuộc vì thấy rõ dã tâm của
người CS, có người là nạn nhân của những vụ ám sát hụt, có kẻ
bàng quang. Dù ở cương vị nào, hoàn cảnh nào, ai cũng thấy rõ 1 điểm
chung : tính chất lừa bịp của CS, sư lừa bịp vĩ đại hào nhoáng nhứt
trong lịch sử của dân tộc VN. Chúng ta cũng nên nghiêng mình trước
các anh hùng liệt sĩ đã xả thân chiến đấu và bị lợi dụng, không
chết trước họng súng kẻ thù thực dân Pháp mà lại chết vì sự khủng
bố tàn nhẫn của người CS.
Lâm Ủy Hành Chánh của Trần
Văn Giàu được thành lập vào ngày 24/8/45, thì hôm sau "Quốc Gia
Tư Vệ Cuộc" ra đời. Trái ngược với tên gọi, Quốc Gia Tư Vệ Cuộc
không phải là lực lượng kháng chiến chống quân thù, mà lại có
nhiệm vụ đi lùng sục, bắt bớ, thủ tiêu đồng bào bằng hình thức
chặt đầu, mổ bụng, cho "mò tôm", móc mắt, cắt lưỡi, và
nhiệm vụ khác là...bảo vệ sinh mạng của những kẻ đã ra lịnh tàn
sát đồng bào, tức là lãnh đạo Việt Minh ở Nam Bộ. Quốc Gia Tư Vệ
Cuộc vào buổi đầu thâu dụng những thành phần sống ngoài vòng pháp
luật, những tên dao búa, những tên trôi sông lạc chợ, đầu trộm
đuôi cướp như Tô Ký, Ba Nhỏ, Ðào Công Tâm, Kiều Ðắc Thắng, Bửu
Vinh, Hoàng Thọ... Sẵn hận thù chất chứa, nay có quyền sinh sát, lại
quen nghề chém giết, nhóm Quốc Gia Tư Vệ Cuộc giết người tàn bạo
còn hơn đối với thực dân Pháp. Lúc đó Lâm Ủy Hành Chánh đóng vai
trò như 1 chính phủ của miền Nam, 1 chính phủ giành giựt của người
khác, nhưng không có quân đội thì làm sao kháng chiến ? 4 sư đoàn dân
quân được Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất (các hội đoàn chính trị và
tôn giáo của Nam Bộ) thành lập hôm 17/8/45, trong khi đó thì Việt Minh
không có sư đoàn nào. Vì thế CS phải tìm cách giải tán, tìm cách phá
nát. Lựa trong "đám mặt rằng", Lâm Ủy Hành Chánh phong chức
:
- Kiều Ðắc Thắng nắm toàn
quyền sinh sát với chức "Giám đốc Công an miền Ðông".
- Dương Bạch Mai (8/1929, đã
từng qua Liên-xô học trường Stalin cùng lượt với Trần Văn Giàu, có
bí danh là Bourov). Thanh tra chính trị miền Ðông, cũng là 1 hung thần
nhưng không có quân hành động trực tiếp.
- Ba Nhỏ, Trưởng bọn ám sát,
bắt cóc, thủ tiêu theo mật linh. Phạm vi của Ba Nhỏ là Saigon, Chợ
Lớn.
- Lý Huê Vinh, công an, cánh
tay đắc lực của Trần Văn Giàu, chuyên hạ sát các lãnh tụ quốc giạ
- Ðào Công Tâm, trước là lính
trong toán của Ba Nhỏ. Thấy Tâm giết người không gớm tay, Việt Minh
nâng đỡ, cho làm Chính trị viên Tiểu đoàn 66 của Long Xuyên...
Với những tay giết người
chuyên nghiệp, say máu, mệnh danh là "Quốc Gia Tư Vệ Cuộc" do
Nguyễn Văn Trấn (tác giả "Viết cho mẹ và quốc hội") chỉ
huy, trong những năm kháng chiến, Việt Minh đã gieo kinh hoàng cho tất
cả mọi người ở Nam Bộ.
* Ai giết Ðức Thầy Huỳnh Phú
Sổ ? :
Cuộc kháng chiến của toàn dân
khởi đi trong bầu không khí sôi nổi, phấn khởi vô cùng. Tháng 9/45,
hầu như tất cả dân chúng miền Nam đều ủng hộ Việt Minh. Nhưng chỉ
vài tháng sau đó, với chính sách sắt máu như bắt cóc, cho "mò
tôm", chặt đầu, móc mắt, cắt lưỡi, mổ bụng, những nạn nhân bị
chụp mũ "Việt gian", "phản động", "phản cách
mạng", đã tạo ra 1 làn sóng căm phẫn bao trùm đất nước. Cuộc kháng
chiến do đó mà bị xẹp lép như trái banh xì hơị Những người còn sống
sót, con cháu của các nạn nhân đi tìm chỗ tyï nạn, họ buộc lòng
phải "về thành" để tránh bị Việt Minh tàn sát lần nữa. Họ
đành chịu mang tiếng là "hợp tác với giặc Pháp". Sinh lực
kháng chiến tiêu tan ngay, tạo đà cho quân Pháp chiếm lại các tỉnh
miền Nam 1 cách dễ dàng chỉ trong vòng...4 tháng !
Chỉ trong vòng có 2 tháng trời,
giành quyền đại diện dân chúng miền Nam, Việt Minh đã biến tình đoàn
kết thành nội thù. Các vụ giết người mờ ám, các vụ khủng bố đẫm
máu...đã làm cho dân miền Nam thức tỉnh. Phi nghĩa và làm mất thế
đoàn kết ngay khi Việt Minh ra lịnh đàn áp đẫm máu cuộc biểu tình của
Phật Giáo Hòa Hảo tại Cần Thợ Theo lịnh Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ để
chống lại tình trạng độc tài của Việt Minh, tín đồ Phật Giáo Hòa
Hảo các vùng lân cận tỉnh Cần Thơ và 1 số thị dân kéo về biểu tình
rầm rộ với tay không và biểu ngữ. Cuộc biểu tình có xin phép Chủ
tịch Ủy ban Hành chánh là ông Trần Văn Khéo. Sáng sớm ngày 8/9/45,
khi đoàn biểu tình với 1 số "bảo an" với tầm vông vạt nhọn
thì làm sao chống lại với súng đạn ! Trước đó, Việt Minh đã mời đại
diện của Phật Giáo Hòa Hảo ở Cần Thơ là các ông Huỳnh Thạnh Mậu
(bào đệ Ðức Thầy), Nguyễn Xuân Thiếp (anh họ nhà văn Nguyễn Hiến
Lê) và Trần Văn Hoành (con trai ông Năm Lửa) đến thương thuyết nhưng
thất bại. Nhiều người tham dự cuộc biểu tình này chỉ có tay không
với bình nước uống, vừa từ dưới ghe cặp bến, đã bị Tự Vệ của Việt
Minh bắn chết ngay tại bờ sông. Trong vụ thảm sát này, ông Hoàng
Quốc Kỳ, 1 người kháng chiến tập kết về Bắc, gặp lại bạn cũ, là
ngươi đã xả súng bắn vào nhóm biểu tình ấy, kể lại như sau :
"Nguyễn Văn Nghệ, 1 tay
súng tiểu liên đầu đàn của Vệ quốc đoàn miền Tây Nam Bộ (CS), kể
lại trận "tắm máu đó" : Tụi Hòa Hảo gan cùng mình ! Lớp
này ngả xuống, lớp khác tiến lên, cả đàn bà con nít cũng vậy. Bóp
cò đến rung cả tay, máu loang đỏ hết cả mặt đường mà chúng nó vẫn
nhào vô họng súng. Chiến sĩ ta đã tản thần nhưng lịnh bắt phải bắn
tiếp".
Ðàn áp xong, Việt Minh dùng xe
có loa phóng thanh chạy khắp đường phố loan tin : Hòa Hảo dùng ghe
vượt sông Cần Thơ, đổ bộ vào châu thành, bị "Vệ quốc đoàn"
đẩy luị
Rồi Việt Minh kết án : Hòa
Hảo âm mưu cướp chính quyền ở Cần Thơ !
Mới 2 hôm trước, vì bị chỉ trích
độc tài, Lâm Ủy Hành Chánh xin cải tổ, đề Phạm Văn Bạch thay thế
chức chủ tịch (hư vị), Trần Văn Giàu vẫn nắm quân sự. Ủy ban Hành
chánh cố khẩn khoản mời Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ làm cố vấn đặc
biệt. Trở mặt như chong chóng, đêm 9/9/45, Trần Văn Giàu mật lệnh cho
Tự vệ, Thanh Niên Tiền Phong tới bao vây trụ sở Phật Giáo Hòa Hảo
tại góc đường Miche và Sohier (Phùng Khắc Khoan) để bắt Ðức Thầy
Huỳnh Phú Sổ, nhưng chỉ bắt được mấy trăm tín đồ. Liên tục những
ngày kế tiếp, Việt Minh mở chiến dịch khủng bố Phật Giáo Hòa Hảo.
Họ ra lịnh truy lùng, bắt cóc, thủ tiêu các nhân sĩ có uy tín của
Phật Giáo Hòa Hảo như Chung Bá Khánh, Lâm Thành Nguyên, Võ Văn
Thời, Trương Ðại Lượng, Lý Công Quận, Nguyễn Hữu Trinh... Cũng cần
nhắc lại thêm rằng, hôm 5/9/45, Nguyễn Thành Sơn, Thanh tra chính trị
miền Tây, có mời ông Chung Bá Khánh với tư cách đại diện cho Phật
Giáo Hòa Hảo đi thuyết trình ở Sóc Trăng mà Dương Kỳ Hiệp (thân
Cộng) làm chủ tịch và Tạ Bá Tòng (CS) làm phó. 1 số lớn người bị
bắt ở Cần Thơ như Chung Bá Khánh, Lâm Thành Nguyên, Võ Văn Thời, Ðỗ
Hữu Thiều bị đem giam ở Trà Vinh. Sau đó, Việt Minh đem họ xuống Ba
Ðộng, 1 làng ven biển, để trấn nước chết. Riêng ông Lâm Thành
Nguyên, nhờ biết lội, bình tỉnh cởi trói, bơi vào bụi rậm ẩn núp,
trốn thoát được. 1 tháng sau cuộc biểu tình ở Cần Thơ, Việt Minh đem
các ông Huỳnh Thạnh Mậu (bào đệ Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ), Nguyễn
Xuân Thiếp, Trần Văn Hoành ra xử bắn tại sân banh Cần Thợ
Vì đại nghĩa quên thù nhà (em
ruột là Huỳnh Thạnh Mậu bị Việt Minh xử bắn), lại mới thoát nạn
đột kích của Việt Minh, nhưng Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ, cũng lòng từ bi
hỉ xả, 1 lần nữa lại chủ trương đoàn kết dân tộc, thành lập Mặt Trận
Liên Hiệp Quốc Gia Kháng Chiến, cho phép thành phần CS tham giạ Chính
ông cũng nhiều lần kêu gọi mọi người hãy bỏ qua hiềm khích để bảo
vệ tổ quốc lâm nguyï
Mặt Trận Liên Hiệp Quốc Gia
Kháng Chiến ra đời vào ngày 20/4/46, gồm đại diện các đảng phái
chính trị, tôn giáo, Bình Xuyên và CS nữa. Thành phần lãnh đạo gồm :
- Chủ tịch : Hoàng Anh (bí danh
của Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ).
- Phó chủ tịch : Vũ Tam Anh.
- Thư ký : Mai Thọ Trân.
- Tuyên truyền : Lê Trung Nghĩa
(ký giả).
- Ủy viên quân sự : Huỳnh Văn
Trí (Mười Trí).
Phía CS tham gia mặt trận này
gồm có : Phạm Thiều, Mai Thọ Trân (chính trị), Phan Ðình Công, Huỳnh
Tấn Chùa (quân sự).
Thâm tâm của CS khi gia nhập
Mặt trận chỉ là để xâm nhập, lủng đoạn, phá hoại và lôi kéo Mặt
trận ngả về phía CS. Âm mưu này thất bại, Tướng Nguyễn Bình (CS) tung
ra 1 tổ chức khác, có tên gọi na ná giống nhau, tức Hội Liên Hiệp
Quốc VN, gọi tắt là Hội Liên Việt. Từ đó, các phần tử CS trong Mặt
Trận Liên Hiệp Quốc Gia Kháng Chiến được lịnh rút khỏi mặt trận
này.
Cho tới nay, dư luận và nhiều
sách báo xuất bản tại miền Nam, đều quy tội cho Bửu Vinh chính là kẻ
sát nhân. Ông Nguyễn Long Thành Nam, được coi như người phát ngôn
chính thức của Phật Giáo Hòa Hảo đã viết trong Phật Giáo Hòa Hảo
Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc, trang 430 :
"...Hôm sau, Ðức Thầy nhận
được 2 văn thơ, 1 của Trần Văn Nguyên, đặc phái viên, kiêm Thanh tra
Chính trị Miền Ðông Nam Bộ, và 1 của Bửu Vinh, mời Ngài đến dự hội
nghị, họp tại làng Tân Phú, để định liệu kế hoạch hòa giải Việt
Minh và Hòa Hảo Dân Xã (sau ngày Hồ Chí Minh và Moutet ký Tạm ước
14/9/46 tại Paris, vào 21/9/46, Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ thành lập Việt
Nam Dân Chủ Xã Hội Ðảng tức Dân Xã; lúc đầu đảng này có khuynh
hướng hòa giải với Việt Minh).
"Vào 7g sáng ngày 15/4/47
(24 tháng 2 nhuần), Ðức Thầy xuống ghe đi với 3 người chèo, 4 tự vệ
quân, ông Ðại đội trưởng Ðại đội 2 và người thơ ký văn phòng là
ông Huỳnh Hữu Thiện. Lối 8g sáng, ghe tới chợ Ba Răng, có Trần văn
Nguyên xuống đón Ngài lên chợ. Ngài đi diễn giảng trước đám dông
người, kêu gọi đoàn kết chống xâm lăng, và gạt bỏ hận thù giữa
Việt Minh và Dân Xã. Trưa lại, Ngài dùng cơm với Trần Văn Nguyên và
1 thơ ký xuống đi chung ghe với Ngài đến Ðốc Vàng hạ, thuộc thôn Tân
Phú. Ðến đây, 1 bản hiệu triệu được công bố cho biết các cấp chỉ
huy 2 bên bắt tay nhau lo việc hòa giải, và kêu gọi 2 bên đừng xô
sát nhaụ
"Sau khi dùng cơm chiều,
Ðức Thầy lại nghỉ ở nhà 1 tín đồ gần đó. Hôm sau, ngày 16/4/47, lối
7g sáng, Ðức Thầy trở lại hội đàm với Trần Văn Nguyên, rồi phái
ông Ngô Trung Hưng cùng 1 nhân viên của Trần Văn Nguyên đi các thôn
hòa giải.
"Sau khi dùng bữa cơm trưa,
Ðức Thầy xuống ghe nghỉ, thì Bửu Vinh báo cáo rằng "Dân Xã giết
Việt Minh ở Lấp Vò", và buộc Ðức Thầy phải đi, nhưng Ngài tỏ ra
cương quyết biện bác và đòi Bửu Vinh cùng đị Bửu Vinh khước từ và
đòi phải có bộ đội võ trang theo phòng vệ thì mới dị Ngài trả lời 1
cách cứng cõi :
- Tại sao tôi có 1 ít người,
không có bộ đội ủng hộ, mà lại dám vào sào huyệt của các ông ?
Như thế quí ông không thành thật.
"Bửu Vinh không trả lời
được, nên buộc lòng phải đi và yêu cầu Ðức Thầy đến văn phòng của
y để cùng đị Liền lúc đó, Trần Văn Nguyên đến trao cho Ngài 1 mảnh
giấy nói rằng :"Có điện tín từ Ủy ban Hành Chánh Nam Bộ mời
Ðức Thầy trở vê miền Ðông lập tức để dự phiên họp bất
thường".
"Ðức Thầy trả lời
"Không thể trở về dự phiên họp được, vì còn lo việc hòa
giải". Chiều hôm ấy, Trần Văn Nguyên từ giả Ngài vào lúc nhá
nhem tối.
"Y hẹn, Ðức Thầy xuống
ghe, đến văn phòng Bửu Vinh, có 1 liên lạc viên dẫn dường. Trời tối
đen như mực, bỗng có tiếng kêu :
- Ghe ai đó ? Sao giờ này đã
thiết quân lực mà còn dám đi ?
Người liên lạc viên trả lời :
- Ði lại văn phòng ông Bửu
Vinh !
"Liền đó, có lịnh biểu ghe
ghé lại. Rồi đèn chói rọi xuống, khi biết là ghe của Ðức Thầy,
chúng nói :
- Ông Bửu Vinh mời Ðức Thầy
lên văn phòng.
"Ðức Thầy cùng 4 tự vệ
lên 1 ngôi nhà ngói. Ngài vào ngồi bàn giữa, nói chuyện với Bửu
Vinh, còn 4 tự vệ quân cầm súng đứng 2 bên, gần cửa. 10 phút sau,
lối 7g30, có 8 người từ bên ngoài đi vào, chia làm 4 cặp, tràn tới
đâm 4 tự vệ quân. 3 người bị đâm chết, chỉ còn người thứ tư là Phan
Văn Tỷ lanh trí nên tránh kip., liền thoát ra ngoài, bắn 1 loạt tiểu
liên. Trng lúc anh Tỷ né, thì 1 trong 2 tên Việt Minh bị đồng bọn của
mình đâm chết.
"Thấy chuyện chẳng lành,
Ðức Thầy lanh lẹ thổi tắt ngọn đèn, văn phòng tở nên tối đen,
không ai nhận ra Ðức Thầy đâu cả..."
Chúng tôi may mắn được hầu
chuyện cùng ông Lâm Quang Phòng, 1 nhân vật tên tuổi của miền Tây
thời kháng chiến. Năm nay ông đã 81 tuổi, tinh thần vẫn còn khang
kiện. Ông từ tốn, không muốn kể lại thành tích của bộ đội mình,
nhưng chúng tôi tìm hiểu thêm trong các tài liệu thì bộ đội Lâm Quang
Phòng ra đời trong hoàn cảnh mièn Nam vùng lên chống Pháp vào cuối
năm 1945. Bộ đội Lâm Quang Phòng tự tuyển mộ, trang bị võ khí và lập
nhiều chiến công vang dậy khắp miền Tâyï Thành tích lớn nhất là
cướp được chiến xa của Pháp từ biên giới Miên tràn qua Hà Tiên, đem
về triển lãm cho dân chúng Hà Tiên xem. Chiến lợi phẩm ấy còn vẻ
vang hơn 2 cây súng đại bác 105 ly lấy được trong trận chiến thắng
Tầm Vu (Cần Thơ) năm 1948, do Huỳnh Phan Hộ chỉ huyï Thành tích này
không bao giờ được CS nhắc tới trong các tài liệu, sử sách của họ,
chỉ vì ông Lâm Quang Phòng không phải là đảng viên CS.
Khi bác sĩ Việt Minh là Nguyễn
Công Trung than rằng "Thiếu dụng cụ y kho để mỗ xẻ cứu các
thương binh" thì bộ đội Lâm Quang Phòng tình nguyện đánh vào Bạc
Liêu, chiếm bịnh xá, tịch thu hết dụng cụ y khoa và thuốc men về cho
họ. Năm 1947, ông Lâm Quang Phòng là Ðại đội trưởng Ðại đội 64 Hà
Tiên, còn Bửu Vinh là Ðại đội trưởng Ðại đội 66 Long Xuyên.
Ông Lâm Quang Phòng quả quyết
rằng : "Chính Ðào Công Tâm, Chính trị viên của Ðại dội 66 (Việt
Minh) chủ động hạ sát Ðức Thầy vào họp, rồi ùa ra đâm loạn đã vào
mọi ngươi (tự vệ quân của Ðức Thầy) khi đèn tắt. Ðào Công Tâm đã
hạ sát Ðức Thầy chớ không phải Bửu Vinh. Nói như vậy không phải
Bửu Vinh là kẻ vô tội. Hắn đồng lõa, sắp đặt âm mưu như Trần Văn
Nguyên. Chính Ðào Công Tâm còn lấy được 1 cây súng nhỏ (6.65) của
Ðức chế tạo (?) do Ủy ban Hành chánh Nam Bộ tặng Ðức Thầy khi ông
nhậm chức cố vấn đặc biệt trước đâyï Cây súng ấy, bá súng có nạm
vàng, và Ðào Công Tâm đã trao cây súng lại cho Phan Trọng Tuệ, lúc
đó là Chính ủy Khu 9".
Theo ông Lâm Quang Phòng thì
Bửu Vinh là người thuộc hoàng phái, trước làm thơ ký kho bạc tại 1
tỉnh miền Trung, thụt két, bỏ trốn vào Nam. Vinh làm đủ mọi nghề lao
động chân tay, trốn tránh ngoài vòng pháp luật. Có lúc Vinh trôi
dạt tới Phú Quốc, gia nhập bộ đội Lâm Quang Phòng của ông. Vinh
đánh giặc gan lì, hiếu sát, nên được cử là Tiểu đội trưởng. Ít
tháng sau, Vinh ngả theo Việt Minh. Với khả năng giết người chuyên
nghiệp, Vinh như người tìm được vận hội mới. Ðầu năm 1947, Vinh làm
Ðại đội trưởng Ðại đội 66 Long Xuyên của Việt Minh.
Còn Ðào Công Tâm là người
Hải Phòng vào Nam sinh sống khá lâụ Từ chỗ làm phu đồn điền ở Hớn
Quản (như Lê Ðức Anh), Tâm bỏ trốn xuống Saigon làm phu khuân vác và
đủ các nghề chân tay để sống. Khi Việt Minh cướp chính quyền, dung
nạp các thành phần bất hảo, Tâm liền gia nhập "Quốc Gia Tự Vệ
Cuộc", tức công an. Vốn hận thù những người may mắn, giàu có
hơn, nên Tâm say máu giết người. Từ chức Tiểu đội trưởng Tự Vệ,
Tâm tiến lên Trung đội trưởng và được đề bạc làm Chính trị viên Ðại
đội 66 của Bửu Vinh. Ðầu trộm đuôi cướp gặp nhau, họ làm việc rất
tương đắc. Ðại đội này đánh Pháp thì ít, mà chận đánh các bộ đội
của người quốc gia thì nhiều. Tâm có vóc người ốm, dong dỏng cao,
lưng hơi khom, mắt ti hí, người Nam gọi mắt lươn, môi chì, mặt mét.
Nghề rình rập, truy lùng, ám sát, thủ tiêu rất hợp với khả năng
của Tâm.
Nhưng ai đã từng ở trong kháng
chiến thời đó tại Miền Tây Nam Bộ chắc đều biết vụ Việt Minh ngụy
tạo vụ án "Hòa Hảo ăn thịt người" để tuyên truyền lừa bịp.
Sau vụ đàn áp cuộc biểu tình của Hòa Hảo đẫm máu tại Cần Thơ, dân
chúng, tín đồ Miền Tây xa lánh họ. Việt Minh lại trình diễn luôn 2
màn lừa bịp mới. Thứ nhứt, để lợi dụng các tôn giáo, năm 1949, theo
chỉ thị của Lê Duẩn, tổ chức "Ðại Hội Liên Tôn Quốc Doanh"
ở xã Tân Duyệt, Bạc Liêụ Tôn giáo nào cũng có đại diện, trừ Hòa
Hảo. Ông Hoàng Quốc Kỳ kể lại vụ lừa bịp không tiền khoáng hậu ấy
như sau :
"...Sau Ðại Hội Liên Tôn,
hắn (Duẩn) sai những tên đảng viên CS ác ôn, thân tín nhất, chọc
tiết cả chục tù nhân rồi chặt đầu, xẻ thịt y như người ta ra thịt
heo, bày bán giữa ban ngày trên bờ sông Vịnh Chèo, thuộc tỉnh Cần
Thợ Ghe xuồng nào đi ngang qua cũng bị chặn lại, dí súng, dao găm vào
cổ, bắt phải mua thịt...người. Ðến khúc sông vắng, người ta vội vàng
vứt xuống sông để khỏi ói mữa. Rồi các ty tuyên truyền khắp Nam Bộ
đem triển lãm hàng trăm tấm ảnh cở 18-24 chụp thớt thịt trên sông
Vịnh Chèo, với những chiếc đầu lâu, những cánh tay còn nguyên ngón,
kèm lời "thuyết minh" : "Bọn Hòa Hảo man rợ ở Cần Thơ
đã giết cán bộ và thường dân không chịu theo chúng, rồi xẻ thịt bày
bán trên sông Vịnh Chèo, bắt dân chúng mua về ăn. Ai không chịu bỏ
tiền ra mua, chúng liền giết ngay tại chỗ, rồi xẻ thịt người ấy bày
lên thớt..."
Tuy xảo quyệt và gian trá như
thế, nhưng Việt Minh không lừa bịp được aị Người dân địa phương đã
vạch mặt nhóm giết người dã man ấy, nếu nói Hòa Hảo thì cả quận
này người ta đều quen biết nhau hết, và họ đâu có thấy dân địa
phương đứng bán thịt...người. Nhưng đó là những người có giọng nặng
trịch, khó nghẹ.. Với chiến dịch tuyên truyền lừa bịp này vừa tung ra,
tự nó đã xẹp ngay vì nó lộ liễu quá...." ("Ma Ðầu Hồ Chí
Minh, Hoàng Quốc Kỳ, trang 128).
Trong thời kháng chiến, Việt
Minh giết người, mổ bụng, trói thúc ké xuống cho "mò tôm".
Mấy hôm sau, thây ma sình thúi, trôi lều bều. Việt Minh lại đi rỉ tai
dân chúng :"Hòa Hảo giết người đấy !".
* Việt Minh phá nát sư đoàn
Việt Nam Quốc Dân Ðảng :
Nguyễn Hòa Hiệp xuất thân
trong 1 gia đình điền chủ tại Phú Long, tỉnh Thủ Dầu Một (tức Sông
Bé). Sau khi đậu Diplome (Trung học Ðệ nhất cấp), ông làm Tham tá Bưu
điện. Năm 1929, Nguyễn Hòa Hiệp cùng Nguyễn Phương Thảo, tức Nguyễn
Bình sau này, cũng gia nhập Việt Nam Quốc Dân Ðảng, hệ phái miền Nam.
Giữa tháng 8/1945, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất ra đời, tập họp toàn
dân kháng Pháp, quyết định lập 4 sư đoàn dân quân. Nguyễn Hòa Hiệp
được cử làm Chỉ huy trưởng Ðệ tam sư đoàn, Lý Hồng Chương làm phó.
Thấy tình hình Nam Bộ còn nhiều
đơn vị kháng chiến không chịu nhận mệnh lệnh CS, Hồ Chí Minh cử Ngyễn
Bình vào "thống nhứt các lực lượng quân sự" ấy. Những ai
đầu phục, họ thu nhận, rồi tìm cách ám sát.. Những đơn vị nào không
hợp tác, Bình tìm cách phá nát. Ăn không được thì phá cho hôi chính
là chủ trương của Việt Minh. Ðệ Tam sư đoàn có lực lượng "Dân
Quốc Quân" làm nồng cốt, nên có kinh nghiệm chiến đấu. Nhiều
lần Việt Minh chiêu dụ, mua chuộc không được, họ tìm cách tiêu diệt.
Nguyễn Bình ra lịnh : Khi các sư đoàn dân quân di chuyển tới đâu, các
Ủy ban Hành chánh địa phương cấm giúp đỡ. Dân địa phương bị cấm liên
lạc, tiếp xúc với họ. Ðệ Tam sư đoàn lâm vào tình trạng bị phong
tỏa, cô lập. Ðể tránh tan rã, Nguyễn Hòa Hiệp quyết định cùng 1 số
đơn vị chiến đấu khác, phải bỏ Khu 7 (các tỉnh miền Ðông), rút về
Hậu Giang. Trên đường di chuyển, đơn vị này đụng độ với 2 đại đội
của Việt Minh : Chi đội 18 của Nguyễn Văn Xuyến và Chi đội 12 của
Nguyễn Tấn Chùa chận đánh... Do sự chỉ điểm của Nguyễn Bình, Pháp
oanh tạc nhiều lần, binh sĩ của Ðệ Tam sư đoàn tử thương rất nhiều,
trong số đó có thi sĩ Khổng Dương (Trương Văn Hai) tử nạn ở Xẻo Rô,
trên đường về Long Xuyên.
* Tội ác của Việt Minh đối
với Cao Ðài :
Tiêu diệt tôn giáo, đảng phái
là chủ trương của người CS ngay khi họ nắm được chính quyền ở Nam Bộ
bằng cái "Lâm Ủy Hành Chánh". Nếu Trần Văn Giàu đã gieo
tang tóc cho Nam Bộ đang lâm chiến bao nhiêu, thì tội ác của Tướng
Nguyễn Bình đối với tôn giáo, đảng phái cũng tày trời bấy nhiêụ
Thủ đoạn của Việt Minh là mua
chuộc, lôi kéo về phe họ, phục vụ quyền lợi của họ, làm viên gạch
lót dường, làm con chốt hy sinh. Ai ngoan ngoãn thì lợi dụng có giai
đoạn, sau đó tìm cách ám sát, gọi là "tử trận", "hy
sinh",... Biết rõ âm mưu này, Cao Ðài bất hợp tác, bị Việt Minh
đánh phá, phải kéo về Tây Ninh để khỏi bị tiêu diệt. Thất bại,
Việt Minh lập 1 kế hoạch lừa bịp mới : lập nhóm Cao Ðai ly khai ở Bạc
Liêu, chiêu dụ họ đứng về "phe kháng chiến". Việc chống
xâm lăng là 1 nghĩa vụ của người dân, 1 tín đồ, nhưng phục vụ riêng
cho quyền lợi của CS thì tôn giáo nào cũng từ chối. Phái Cao Ðài
Minh Chơn của ông Cao Triều Phát và Trần Ðạo Quang ở Bạc Liêu đã bị
lừa vào cái bẩy sập đó.
Cao Triều là 1 dòng họ lớn,
nhiều người là đại điền chủ, có con cái ăn học bên Tâyï Cao Triều
Phát là 1 trong những cự phú xứ "công tử coi tiền như rác".
Giàu có lớn, Cao Triều Phát là người có tâm đạo, làm việc nghĩa,
tính tình hiền lành. Từ khi biết mình bị lừa vào hang cọp, ông âm
thầm chịu đựng, đóng trọn vai trò lừa bịp do CS dàn dựng. Từ khi khai
đạo tại Tây Ninh, Cao Ðài lần lượt chia nhiều hệ phái : Cao Ðài Tây
Ninh, Cao Ðài Bến Tre của Lê Kinh Ty, Nguyễn Ngọc Tường, và Cao Ðài
Minh Chơn Hậu Giang của ông Cao Triều Phát và chưởng pháp Trần Ðạo
Quang. Năm 1932, Thánh thất Cao Ðài Minh Chơn đặt tại Giồng Bướm, làng
Phong Thạnh, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, lấy tên là Thánh thất Ngọc
Minh. Rùn ép, đe dọa, Việt Minh dùng thủ đoạn bắt ông Cao Triều Phát
làm bình phong để có danh nghĩa cho họ lập "Ðại Hội Liên Tôn
Quốc Doanh". Trước đó, với sự dàn dựng của Việt Minh, "Cao
Ðài Cứu Quốc Họp Nhứt 12 Chi Phái" để lôi kéo tín đồ ủng hộ
kháng chiến do họ lãnh đạo. 1 giai đoạn khá ly kỳ được dân chúng
Bạc Liêu thường nhắc tới là việc CS dùng thủ đoạn moi tiền ông Cao
Triều Phát 1 cách thô bỉ. Người miền Tây còn nhớ việc này rành
rành như sau (Theo thư nhà văn An Khê Nguyễn Bính Thinh gởi cho tác giả
ngày 2/2/94) :
"...Trong những năm đầu
của cuộc kháng chiến, có 1 lá thơ của "bác Hồ" gởi Ủy ban
Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ, trong đó nhắc tổ chức trao chiếc áo
và thư "của Bác" cho ông Cao Triều Phát. Ðó là chiếc áo
lụa, do các em thiếu nhi Hà Ðông tặng khi bác Hồ còn ở Hà Nội.
Trong "tuần lễ vàng", Việt Minh lại đem chiếc áo ấy bán đấu
giá, buộc ông Cao Triều Phát phải mua với giá 50 vạn đồng (50,000
đồng) 1 chiếc áo lụa nhàu nát như miếng giẻ rách..."
Từ đó, ông Cao Triều Phát đã
lọt vào quỹ đạo của CS, sẵn sàng làm bù nhìn để Viêt Minh mặc tình
sai khiến đóng trò.
Riêng hệ phái Cao Ðài Tây
Ninh, cũng bị mua chuộc, dụ dỗ, nhưng không thành công. Tiếp đó, Việt
Minh giở trò vu khống, rồi khủng bố, ám sát nhắm vào các ông Trần
Quang Vinh, Giáo chủ Phạm Công Tắc, Hồng Sơn Ðông, Nguyễn Vạn Nhả,
nhưng thất bại. Ông Dương Ðình Lôi đã kể lại rằng, "Trong 2 năm
1946-1947, Việt Minh đã đưa cả 1 Trung đoàn về ẩn náu tại vùng Long
Sơn, núi Nứa (Cần Giờ), có mục đích đánh phá đạo Cao Ðài. Vùng rừng
Sác có 1 họ đạo Cao Ðài tại Cần Giờ. Trung đoàn 300 của Việt Minh
vẫn thường xuyên đột nhập, gọi là "tảo thanh", gặp tín đồn
Cao Ðài là cứ bắn giết, nhà cửa thì đốt sạch. Mỗi lần như vậy, dân
đạo Ðao Ðài phải chạy vào đồn bót Tây để được Tây che chở..."
Cũng theo bức thư của nhà văn
An Khê thì :
"...Ở Củ Chi, thời đó có
các Trung đoàn 306, 312 cũng tảo thanh Cao Ðài ở vùng Cổ Ống, Cầu Xe,
Sốc Lào, rồi họ bắt theo 1 số tín hữu, đập đầu, chôn xuống các
giếng trong những nhà chứa mũ cao sụ Mối hận này không bao giờ rửa
sạch trong lòng dân đạo Cao Ðài".
Ông viết tiếp :
"Vào năm 1947, Việt Minh
gởi cán bộ Khu 7 (miền Ðông) lên họp với các lãnh tụ tôn giáo và
đảng phái quốc gia, trong đó có giáo chủ Huỳnh Phú Sổ. Buổi họp
kéo daì từ sáng tới chiều, thì Việt Minh vi phạm cam kết. bất thần
xua quân tấn công Tòa thánh. Súng nổ từ phía ngoài rào. 3 gã đại
diện quân khu (Việt Minh) run rẩy, nói như muốn khóc :
- Chúng tôi không chủ trương
như thế. Các anh xét lại cho !
"Ông Trần Quang Vinh và
Nguyễn Văn Thành trấn an họ :
- Các anh đừng sợ. Các anh đến
đây, chúng tôi có bổn phận bảo vệ sinh mạng cho các anh.
"Khi ấy Tòa thánh được bố
phòng kỹ lưỡng. Tại các ngã đường dẫn vào Tòa thánh, đều có công
sự phòng thủ. Người chỉ huy lực lượng phòng thủ khi ấy là Trịnh Minh
Thế. Việt Minh tấn công vào cửa chính nhằm lúc đổi phiên gác (6g
chiều). Lính gác chưa kịp phản ứng gì. Tức thì 1 bộ phận khác núp
trong mé rừng gần đó xông ra con đường lớn vừa chạy vừa bắn vào
Tòa thánh. Lợi dụng khi ấy chung quanh Tòa thánh còn nhiều rừng,
Việt Minh điều động 1 số quân đến gần. Nhưng số quân ấy được lực
lượng phòng thủ bên ngoài của Nguyễn Thành Phương chận lại. Toán
đặc công Việt Minh hạ sát toàn lính gác, ồ ạt xung phong qua cổng
chính. Mặc dù bị thương, người chỉ huy rút chốt lựu đạn, quăng về phía
Việt Minh. Lựu đạn nổ tung, báo động cho các vọng gác tiếp viện và
sẵn sàng chiến đấu. Mấy tên tiền phong của Việt Minh ngã gục. Bọn
sau chậm lại. Nhờ thế, lính Cao Ðài phản công quyết liệt, đẩy lui
địch ra ngoài và đóng cổng sắt lại. 1 Trung đội Việt Minh bắn giết
và đốt nhà dân cách đó 100 m. Ông Trịnh Minh Thế vừa thổi kèn thúc
quân. Nghe tiếng kèn, Việt Minh tưởng có tiếp viện, vội vàng tháo
lui, rút vào rừng.
"Sáng hôm sau, nhiều phóng
viên báo chí từ Saigon lên Tây Ninh, đã chứng kiến 1 cảnh tàn sát
man rợ hãi hùng. Họ nhìn tận mắt đồng bào vô tội bị Việt Minh hạ
sát : đàn ông, đàn bà, trẻ con đều bị chém, đâm và bắn trong những
chòi lá cháy rụi. Có 1 bà mẹ ôm con nhỏ đã bị bắn chết..."
(Thư của nhà văn An Khê, đề ngày 2/2/94).
1 nhân vật quan trọng của Cao
Ðài Bến Tre là ông Lê Kim Tyï. Ông Tyï từng hoạt động chống Pháp, bị
bắt giam ở Tà Lài mấy năm. Lê Kim Tyï hoạt động chung với các ông
Dương Văn Giáo, bác sĩ Hồ Vĩnh Ký và vợ là bác sĩ Nguyễn Thị Sương
(1910-1945; bác sĩ Nguyễn Thị Sưng là lãnh tụ Thanh Nữ Tiền Phong, bị
Việt Minh hạ sát tháng 10/1945), luật sư Huỳnh Văn Phương, Lâm Ngọc
Ðường. Vào tháng 10/1945, những người này đều bị Việt Minh bắt và hạ
sát hoặc trấn nước tại sông Lòng Sông (Mường Mán), Phan Thiết...
* "Tình đồng chí" :
Tôi (tác giả Hứa Hoành) có
dịp đàm đạo với 1 vị cao niên, quen nhau từ hồi ở bên trại tyï nạn,
mới đây gặp lại trong 1 tiệc cưới. Ông nhận xét về thàn phần dao
búa tham gia kháng chiến năm 1945, kể lại những chuyện thật, xin giấu
tên :
Năm 1945, khi Việt Minh cướp
chính quyền, kêu gọi toàn dân kháng chiến. Chúng tôi, dân gian hồ
sống ngoài vòng pháp luật từ lâu, nghĩ rằng đây là dịp đoái công
chuộc tội. Hơn nữa, chúng tôi có người còn chút lương tri, muốn ngoi
lên ánh sáng làm người lương thiện và làm người yêu nước trong thời
loạn. Ðó cũng là tâm trạng các tướng cướp khét tiếng như Bảy Viễn,
Mười Trí, Thomas Phước (tướng cướp hào hoa nổi tiếng 1 thời ở Saigon).
Ðầu tiên, chúng tôi xin gia nhập Tự Vệ của Lâm ủy Hành chánh. Nhóm
này chia làm 2 phe : 1 phe lo bảo vệ an ninh cá nhân trong Lâm ủy, còn
1 nhóm khác nhận mật linh thi hành các vụ giết người "Việt
gian", "phản động". Tôi thuộc nhóm thứ haị Qua mấy tháng
nhúng tay vào máu, chúng tôi, có người tỉnh ngộ và đổi thái độ.
Một hôm, Trần Văn Giàu họp chúng tôi và nói :
- Cách mạng nào mà không đổ
máu ? Chúng ta hãy tiêu diệt bọn "phản động", "Việt
gian" với bất cứ giá nào.
Những lời kết tội đó chỉ chung
chung, không nói rõ tội trạng một aị Rồi cứ mỗi tối, chúng tôi lại
nhận mật lịnh đi lùng sục, bắt bớ, thủ tiêu nhiều nhân vật tên
tuổi mà Lâm ủy có sẵn tên trong "sổ bìa đen".
Một người trong nhóm chúng tôi
thắc mắc :
- Tại sao độc lập rồi mà còn
giết nhiều người tài đức, có uy tính ?
Trần Văn Giàu trả lời :
- Cách mạng làm gì có đức ? Ai
làm cách mạng mà không giết người ?
Từ trong tiềm thức chúng tôi,
hận thù dược khơi dậy, nhiều người say máu, muốn trả thù. Tuy nhiên,
cũng có người chùng bước, không nở nhúng tay, nhưng cũng không dám
cải lịnh. Chúng tôi lào vào công việc chém giết và được khuyến
khích như "nhiệm vụ cách mạng".
Mấy tháng sau chúng tôi tỉnh
ngộ. Kẻ còn chút lương tri như bọn tôi, tự động rã ngũ, về thành
để bảo vệ mạng sống 1 cách nhục nhả. Có người "đâm lao thì
phải theo lao". Lại có người tiếp tục "đánh đu với tinh, đùa
giởn với rắn độc", chỉ trong 1 thời gian ngắn, họ "sanh nghề
tử nghiệp". Ðó là trường hợp của Ba Nhỏ, Hoàng Thọ, Giang Minh
Lý và ngay cả Trung tướng Nguyễn Bình. Còn lại những kẻ mù quáng,
tiếp tục vay máu đồng bào, cuối cùng cũng bị "hy sinh". Họ
chết không phải vì lằn tên mũi đạn của kẻ thù mà chết vì dao găm,
mã tấu của "đồng chí" họ như Tưởng Ðàn Bảo, Vũ Ðức, Sư
Muôn..."
Sau đây là vài trường hợp
thương tâm ấy.
Khi Pháp chiếm lại các công
sở trong thành phố Saigon đêm 22 rạng 23/9/45, Ủy ban Hành chánh đã
chạy thụt mạng vô Chợ Ðệm mấy hôm trước, bỏ lại bọn Tự Vệ (Tự
Vệ Cuộc, tức công an Việt Minh), Thanh Niên Xung Phong như rắn mất
đầu. Võ khí thô sơ làm sao đương đầu với quân Pháp khí giới tối tân
? Từ chỗ ẩn náo an toàn, Ủy ban Han`h chánh ra lịnh tàn sát bất cứ
người da trắng nào họ gặp. Ba Nhỏ, 1 đầu đảng cướp hoàn lương, chỉ
huy 1 toán Tự Vệ thành, được lịnh ấy. Nửa đêm 25/9/45, Ba Nhỏ dẫn 1
đám lâu la, đột nhập cư xá He'rault (He'rault City) dành riêng cho gia
đình Pháp kiều tại Tân Ðịnh, Phú Nhuận tàn sát 1 số đàn bà, trẻ con
tại đâyï Rồi họ bắt theo độ 50 người làm con tin, nhưng rồi cũng
giết nốt. Tổng số nạn nhân lên tới khoảng 200 người. Nhiều quân
lính Pháp, nóng lòng vì thân nhân bị giết, nên ra đường gặp ai đều
bắn bừa bãi để trả thù. Dư luận tức giận, quay lại kết án Việt
Minh là bọn mọi rợ. Nổi sùng, mấy ngày kế tiếp, Ba Nhỏ, Tô Ký,
Kiều Ðắc Thắng, Kiều Tấn Lập của Việt Minh được lịnh lùng sục, bắt
bớ, chém giết man rợ. Chỉ trong vòng 1 tháng, có hàng trăm nhân vật
tên tuổi, người quốc gia yêu nước đều bị giết.
Cũng như lớp CS đàn anh, Ba Nhỏ
xuất thân từ băng du côn Bà Chiểu, Cầu Bông, Thị Nghè; 3 năm cầm
đầu dân dao búa, Ba Nhỏ thạo nghề chém giết. Ðược Lâm ủy Hành
chánh trọng dụng, hắn "làm việc cần mẫn". Nạn nhân của
hắn không 1 ai sống sót. Vậy mà khi Pháp xua quân chiếm lại Thủ
Ðức, Ba Nhỏ theo bộ đội kháng chiến rút ra trước tới Biên Hòa. Biên
Hòa thất thủ, bộ đội Ba Nhỏ rút về Bà Rịa, Long Thành. Ðể xoa dịu dư
luận bất mãn đối với Việt Minh, Tướng Nguyễn Bình được lịnh dàn dựng
tội trạng để xử tử Ba Nhỏ "làm gương" vì tội "vô kỷ
luật".
Giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng,
giặc Pháp thập thò trước cửa, tàu chiến xập xình trên sông Lòng
Tảo hàng ngày, mà Việt Minh ngụy tạo tội trạng cho Ba Nhỏ "đã
giết người đàn mà mang 2 kg thịt tiếp tế vùng tạm chiếm" để tử
hình đồng đội.
Khi Ba Nhỏ bị kêu án, Ba Dương
(Ba Dương là lãnh tụ Bình Xuyên trước Bảy Viễn) và đồng đội giang hồ
cũ, đều ký tên xin ân xá hoặc giảm án, nhưng Nguyễn Bình được lịnh
phải hành quyết tức khắc. Quá ức vì biết mình bị làm con vật hy sinh,
Ba Nhỏ liều giựt cây súng lục của đội hành quyết định tự sát cho
rõ khí phách 1 tay anh chị, nhưng toán hành quyết giựt lại và bắn Ba
Nhỏ chết liền tại chỗ.
Kiều Ðắc Thắng là 1 tên du
thủ du thực, từ miền Trung lưu lạc vào Nam trước năm 1945. Thắng làm
đủ nghề từ phu đồn điền, khuân vác, thợ hớt tóc. Kiều Ðắc Thắng
ăn cướp bị bắt giam vào khám ở Vũng Tàu. Ở đây, Thắng cùng 1 bạn
đồng tù tên Năm Bé móc nối với 1 tên coi ngục để vượt ngục. Lúc
đó đúng vào cơ hội Việt Minh cướp chính quyền, Thắng xin làm Tự Vệ.
Từ Tiểu đội trưởng Quốc Gia Tự Vệ Cuộc (công an Việt Minh), Kiều
Ðắc Thắng lên lên chức quyền Giám đốc công an các tỉnh miền Ðông
chỉ hơn 1 năm, nhờ khả năng bắt cóc và ám sát. Những ai bị Lâm ủy
Hành chánh kết tội "Việt gian, phản động", Thắng hạ sát
không gớm tayï Nạn nhân của Thắng dài sọc. Ông Phan Văn Hùm bị Kiều
Ðắc Thắng ám sát tại quê nhà Bún, Lái Thiêu, tháng 10/1945. Về sau,
thấy Thắng có quyền hành quá lớn, muốn qua mặt Dương Bạch Mai,
Nguyễn Văn Trấn, nên Tướng Nguyễn Bình "gởi Thắng ra gặp bác
Hồ". Có nguồn tin nói rằng Hồ Chí Minh cho Thắng gặp mặt, phủ
dụ mấy câu theo công thức, rồi đổi tên Thắng là Vũ Tùy Nhàn để
khỏi mang tiếng. Tuy nhiên, trên đường về Nam, Kiều Ðắc Thắng chết 1
cách mờ ám.
1 nhân vật độc đáo khác cũng
xuất thân từ giới gian hồ, đánh giặc rất gan lỳ, đó là Hoàng Thọ.
Hoàng Thọ là người Hải Phòng cũng do lò ba búa đào tạo, lưu lạc vô
Nam từ năm 1939. Thọ có thân hình cao lớn, khá điển trai, râu quai
nón. Khá hơn những tên trước, Thọ từng làm thợ máy quấn dây điện.
Khi Nhật đảo chánh Pháp (3/1945), Thọ theo Nhật làm lính hải quân,
nên được gọi là "Thọ Mạch lô". Việt Minh nắm chính quyền
mở ra cho Thọ 1 con đường mênh mông vì hợp khả năng. Khi Tướng Nguyễn
Bình vào Nam, nghe tiếng Thọ, lại người cùng quê, nên Nguyễn Bình
chọn bộ đội Thọ để bảo vệ cho mình. 1 năm sau, bộ đội của Hoàng
Thọ được bổ sung thêm nhiều chiến sĩ, đánh nhiều trận tiếng tăm
lừng lẫy. Ðịa bàn hoạt động của Thọ là vùng Gò Dầu, Trãng Bàng,
Tây Ninh. Tuân lịnh Việt Minh, Thọ từng gây nhiều tội ác đối với
giáo phái Cao Ðài. Những người quen biết với Hoàng Thọ có kể lại
rằng, mỗi lần phục kích, Thọ chọn hướng gần mé sông. Binh sĩ chỉ có
tiến chớ kho^g có lùi. Khi Nguyễn Bình chính quy hóa quân đội kháng
chiến, bộ đội Hoàng Thọ trở thành Tiểu đoàn 303. Ðó là đơn vị chủ
lực của Quân khu 7. Nguyễn Bình gài 1 tên CS, tên Kính, vào làm chính
trị viên thì Tiểu đoàn 303 bắt đầu chia rẽ nội bộ và trở nên suy
yếu. Có lần Hoàng Thọ bắt gặp 1 số bộ đội sinh hoạt riêng rẽ, bí
mật. Khi Thọ điểm danh, thì vắng mặt. Lúc đó, tên chính trị viên Kính
cố thuyết phục, rùn ép, dụ dỗ Thọ vô đảng CS. Bất mãn, Thọ bỏ đi,
rồi cạo đầu để phản đối. Lúc trở về, Thọ thấy vật dụng cá nhân
đều bị lục soát, anh ta bực tức không dằn được :
- DM. Hoàng Thọ này đi kháng
chiến vì dân vì nước, đâu có ngờ ngày nay có đảng này đảng nọ. Ðem
mà bắn cha nó cái đảng CS cho rồi !
Sau đó, Thọ bị kiểm điểm, phê
bình và thế là 1 bản án tử hình bí mật đã định sẵn. Tháng sau, Tướng
Nguyễn Bình "giới thiệu" Hoàng Thọ ra Bắc "gặp bác
Hồ". Biết rõ âm mưu của Việt Minh định giết mình, Hoàng Thọ đi
vài chặng, rồi đổi ý quay về Mỹ An mở quán lá bên bờ kinh Nguyễn
Văn Tiếp trong Ðồng Tháp Mười làm sinh kế. Hoàng Thọ có tiền, tiếp
đãi bạn cũ có dịp công tác đi ngang qua đó rất hậu chẳng khác gì
Mạnh thường quân.
Ðầu năm 1950, văn phòng Trung
tướng Nguyễn Bình dời về Cá Lóc, quận Long Mỹ. Bị Tây phát giác, họ
chuyển đến Ông Dèo, ấp Cầu Ðúc, quận Gò Quao, tỉnh Rạch Giá. Trong 1
đêm tối trời, Hoàng Thọ bị bắt, đem đi hành quyết tại 1 địa điểm gân
Cạnh Ðền. Bọn sát nhân đập đầu Hoàng Thọ như đập đầu con cá lóc.
Trước khi chết, Thọ rống như bò và chửi rủa Việt Minh thậm tệ.
Cùng thời gian đó, ông Giang
Minh Lý bị giết rất dã man. Lý con nhà đại điền chủ bỏ theo kháng
chiến, lập nhiều công trạng, làm chính trị viên 1 đại đội đóng ở
Cần Thợ Lý bị rùn ép, đe dọa phải vào đảng CS và phục tùng mệnh
lệnh của họ. Lý từ chối nên bị nghi ngờ, theo dõi. Lý bất mãn ra
mặt. Có lần Lý tuột quần, chỉ vào con c. và điểm mặt Hoàng Dư
Khương, Chính ủy Khu 9, nói :
- Tao sợ mày cái con c. tao nè
!
Mấy hôm sau, Lý bị bắt đem đi
hành quyết tại Cạnh Ðền. CS căng 2 tay ông ra, rồi dùng dao găm đâm
túi bụi vào mắt, vào tim...
Sau đây là 1 vụ hành quyết tập
thể các "đồng chí" của mình (Việt Minh) mà tác giả Dương Ðình
Lôi có thấy hoặc nghe kể lại trực tiếp (qua 1 bức thơ ông Dương Ðình
Lôi gởi riêng cho tác giả Hứa Hoành) :
...Tất cả độ 20 người thuộc
bộ chỉ huy, tham mưu và hậu cần, chính trị của Tiểu đoàn 300 Dương Văn
Dương, có cả Trương Văn Phụng và anh Tám Sơn đều bị trói thúc ké, đem
xuống bờ biển Ðông Hòa, rồi chặt đầu hết. Trong số nạn nhân có
Bảy Nghiệp, nguyên Chi đội trưởng Chi đội 21 từ nhóm Bình Xuyên qua,
phụ trách đảng vụ của Trung đoàn và chị Hai Sương được "hưởng ân
huệ" khi xử tử. Ðó là dùng súng bắn vào đầu thay vì bị chăt
đầu.
Về cái chết của chị Hai Sương,
ông Dương Ðình Lôi không chứng kiến, nhưng được nghe chính người hành
quyết kể lại :
Tôi nghe anh Năm Triệu, Ðại
đội trưởng chỉ huy cuộc hành quyết đó về vă phòng trung ương báo cáo
lại. Năm Triệu gốc lính Nhật, to lớn con, mang gươm dài chấm đất. Năm
Triệu kể :
"Tao thấy con Sương rụng
rời tay chân. Tới phiên nó, nó xin đi đái. Tới lúc nó đứng dậy sau
bụi cây mưạ Nó lột trần truồng dưới ánh trăng lờ mờ, làm tao trân
trối nhìn nó chậm rãi đi trước miệng hố. Tao biết tội nó chỉ là
liên lạc đưa thơ về Saigon mà sao họ cũng giết đành đoạn ? Khi tới
gần tao, nó nói :
- Anh Năm ! Em muốn hiến cho anh
rồi em chết.
"Tao bàng hoàng định tha cho
con nhỏ. Nhưng thằng mắc dịch Bảy Mầu đi tới (Bảy Mầu cũng là Ðại
đội trưởng, chồng chị Dưỡng, rễ của Ba Dương, bị Tướng Nguyễn Bình sai
Từ Văn Ri ám sát chết ở Bến Tre). Thằng Mầu nó bảo :
- Bộ hỏng mạnh dạn xuống gươm
hả ? Ðể tao tặng cho em viên đạn.
"Thế là kết liễu 1 đời
hồng nhan bạc phận. Chị Sương là 1 người đẹp nhất của Trung đoàn, con
nhà giàu, học sinh ở Saigon, bỏ theo kháng chiến và rước lấy cái
chết thê thảm.
"Những người bị chặt đầu,
chôn, hoặc thả trôi sông Lòng Tảo hôm ấy tôi được biết gồm có :
- Hai Ðiều, Trưởng ban quản trị,
bị bắt ở An Thành.
- Tám Son, Trưởng văn phòng
Trung đoàn.
- Bảy Nghiệp, Tiểu đoàn
trưởng, Trưởng ban đảng vụ.
- Năm Son, Trưởng ban quân nhụ
- Bác sĩ Năm Ngà, Trưởng bịnh
xá Trung đoàn.
- Chị Sương, 1 thiếu nữ xinh
đẹp, thuộc ban quân báo Trung đoàn.
- Chín Lá, Trưởng đài vô tuyến
điện.
Sau đây là chuyện của Sư Muôn.
Sư Muôn là 1 nhà tu mang nhiều
tai tiếng xấu, báo chi phanh phui những hành động lem nhem với phụ nữ.
Lý lịch sư Muôn cũng ít người biết, nhưng nhắc tới sư Muôn, những
người lớn tuổi ở miền Tây không ai không nghe tiếng. Tôi (Hứa
Hoành) may mắn được ông Xuân Tước và 1 vị cao niên khác chỉ dẫn
nhiều chi tiêt.
Hồi những năm từ 1936-1939, sư
Muôn có chùa ở quận Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá. Sát bên chùa có 1
cái am nhỏ, nơi đây những phụ nữ, những bà hiếm muộn muốn cầu tự,
thường tìm đến sư Muôn để nhờ làm phép và nhiều người mãn nguyện.
Nhờ vậy tiếng ông đồn rất xạ
Sư Muôn tên thật là Nguyễn Kim
Muôn, người ở Gia Ðịnh, trước làm công chức Sở hỏa xạ Lúc đó, ông
có mướn căn phố tại đường Hamelin (Hồ Văn Ngà sau này). Ông xuất
tiền và lạc quyên thêm để cất ngôi chùa Long Vân Tự tại đường
Hàng Xanh, Thị Nghè. Bây giờ Long Vân Tự vẫn còn. Trong khi tu, sư
Muôn có nhiều chuyện bất chánh với phụ nữ khiến dân chúng căm
phẫn. Ông bỏ chùa xuống Giồng Riềng, Rạch Giá, tiếp tục lập chùa,
lừa gạt phụ nữ hiếm muộn. Báo chí Saigon đã tố cáo ông thậm tệ.
Ðầu năm 1946, Pháp chiếm trọn
các tỉnh miền Nam. Hết đất dụng võ, nhóm CS đầu não của Khu 9 gồm
Tỉnh ủy Nghiêm Cai Cơ, Bí thư Tỉnh ủy Dương Quang Ðông (tức Năm Ðông),
Phan Trọng Tuệ, Lâm Ngọc Minh phải bôn đào ra Phú Quốc. Sẵn thấy
chùa sư Muôn có cơm gạo do bá tánh dâng cúng, nên bọn này ghé ăn
dầm nằm dề tại chùa để ăn chực. Ðể lợi dụng sư Muôn, họ bèn phong
cho ông làm "Ủy viên Xã hội" bằng miệng. Năm 1948, CS bao
vây chùa bắt sư Muôn đem giết ven mé rừng, giữa Dương Ðông và Hàm
Ninh.
* Phong trào "Thổ dậy"
ở miền Nam vào năm 1945 :
Miền Nam là đất cũ của Chân
Lạp, tức lãnh thổ Miên (sau khi Chân Lạp bị suy tàn). Dân Nam Kỳ gọi
người Miên là "Thổ". "Thổ dậy" là phong trào những
người Miên trả thù (cáp Duồng) giết người Việt. Trong thời Pháp
thuộc, người Miên, người Việt sống đề huề, thuận hòa với nhau trong
gần 1 thế kỷ. Bình thường, bản tính người Miên rất hiền lành. Họ ăn
uống cực khổ (thường ăn mắm) làm việc nặng nhọc như chèo ghe, vác
lúa... Người Miên theo Phật giáo Tiểu thừa. Tuy nhiên, bị khích động,
họ thịnh nộ, giết người dã man.
Sau khi cướp chính quyền ở Cà
Mau (lúc đó là 1 quận), Ủy ban Hành chánh quận này đã giết hàng
loạt thường dân và các nhà sư Miên 1 cách dã man. Thừa gió bẻ
măng, khi Pháp ruồng bố tới, Thổ nhứt tề nổi lên theo Pháp để trả
thù người Việt, gặp ai giết nấy. Võ khí của họ là chiếc phảng phát
cỏ, kèo ngay, xử dụng như mã tấu. Những ai từng sống ở Hậu Giang
vào các năm ấy, chắc không khỏi hãi hùng vì những tin "Thổ
dậy". Thảm cảnh đó do 1 tnhóm Việt Minh CS khơi nguồn, nhưng nhiều
người dân vô tội sau đó đã trở thành nạn nhân.
Chứng kiến cuộc hành quyết dã
man , ông Văn Nguyên Dưỡng , trong hồi ký "Tết Chạy Giặc Sau Mùa
Thu Nhiễu Nhương", đã thuật lại cuộc giết các thường dân và sư
sải Miên ở Cà Mau năm 1945 như sau :
"...rồi không lâu, sau
ngày "Mừng độc lập", cuộc tao loạn bắt đầu. Ngoài danh từ
mới "Việt Minh" được biết vào ngày đó, tôi còn biết thêm 1
danh từ nữa là "Việt gian". Dân chúng, ai cũng sợ danh từ
ấy. Ai cũng có thể bị kết tội là Việt gian với những chứng cớ mơ
hồ, hay những việc làm trong dĩ vãng, rồi đem ra bắn hoặc cho "mò
tôm". Người đầu tiên bị xử bắn dưới dạ Cầu Quay bên kia sông
là cậu Bảy Mầu, "ông Cò Cà Mau". Mắt tôi mở rộng thêm khi
biết rằng "có độc lập rồi" mà Việt Minh vẫn đem người ra
xử bắn hàng loạt. Nhứt là các sư sãi ngươi Miên bị lôi từ trong
chùa Miên ra, hoặc bị bắt ở đâu đó trong quận.
"Cách xử tử quá dã man :
Họ trói tay hay bịt mắt bắn hoặc chặt đầu. Cho rằng các sư Miên có
"cà tha" (bùa), có ngải, súng đạn không lủng, chém không
đứt, Việt Minh nghĩ ra các xử tử bằng tầm vông vạt nhọn, đâm vào
hậu môn rồi thả trôi sông. Xử tập thể trước mắt công chúng, trông
thật khủng khiếp.
"Cầu tàu dưới bến, nơi
họp lưu của sông Cà May và kinh xáng Ðội Cường, thường là nơi diễn
ra cuộc hành quyết đó. Mỗi lần như vậy, dân chúng tò mò kéo nhau đi
coi rất đông. Hàng loạt sư sãi Miên bị cột chặt vào 3 đòn tre cứng,
dài, mỗi người cách nhau 1 bước, thành 1 hàng ngang, xoay mặt ra phía
sông. Quần bị lột bỏ. Ðòn tre thứ nhứt đặt trên cổ, sau ót hàng
người bị xử tử. Ðòn tre thứ hai đặt ngang thắt lưng. 2 tay mỗi nạn
nhân bị trói thúc ké, bẻ quặc ra sau lưng, buộc chặt vào đòn. Ðòn
tre thứ ba đặt ngang mắt cá, phía trước hàng chân dạng ra của họ. 1
đoạn dây buộc vào cổ mỗi người dính vào đòn tre thứ nhứt, kéo
thẳng xuống buộc 2 chân họ vào đòn tre thứ bạ 6 du kích khoẻ mạnh
giữ cứng 6 đầu của 3 đòn tre, kèm cho hàng người tù tội đứng ở thế
cúi người xuống, chổng mông hướng vào mép trong cầu tàu.
"Ở mép trong cầu tàu, đã
có sẵn 1 đội du kích bằng với số tử tội, đứng sắp hàng ngang, tay
giữ tầm vong vạt nhọn đầu, dựng ngọn lên trời, chờ đợi.
"Ðến giờ xử, có lịnh hành
quyết do 1 người chỉ huy phất lên. Những tên du kích này hạ tầm vông ngang
thắt lưng, chỉa mủi nhọn ra trước mặt, cùng 1 lượt chạy nhanh ra mép
cầu, dùng hết sức mạnh, đâm thẳng mũi nhọn vào hậu môn của mỗi
tử tội, đẩy cả hàng tù tội này xuống sông và buông luôn cả cây
tầm vông....
"Cách xử như vậy là xong.
Bọn du kích Việt Minh bình thản kéo nhau ra về mang đầy máu me của
những người bị xử phọt rạ Chúng bỏ cho những người đi coi mặc tình
tràn ra cầu tàu nhìn xuống nước, xem những người này sống chết ra
saọ Dĩ nhiên không 1 ai sống sót. Nếu họ không chết vì vết đâm thấu
ruột gan, thì cũng chêt vì ngộp nước không lâu sau đó. Những cán tầm
vông sẽ chổng lên trời hoặc ngã nghiêng xiêng xọ, rồi những đàn
diều, quạ, kên kên lượn vòng khu vực đó. Vài con đậu trên cán tầm
vông. Năm bảy con chúi xuống rỉa thịt xác chết. Cả 1 vùng nồng nặc
hôi thúi, gieo sự kinh hoàng tột đỉnh cho mọi người.
"Người dân lành trong quận
đã bắt đầu câm nín. Cuộc sống của họ bị đe dọa và bị ám ảnh bởi
những cuôc hành quyết man rợ...".