TRÍ
THỨC VIỆT NAM
DƯỚI CHẾ ÐỘ
CỘNG SẢN
Người
dân ở khu Hòa Bình - trung tâm thành phố Ðà-Lạt - rất đỗi
quen thân với hình ảnh một ông già ngoài bảy mươi, vóc người
cao lớn, mái tóc bạc phơ cắt ngắn và cặp mắt sáng đầy
ưu tư, ngày ngày vào một giờ nhất định thường chống can
dạo bước trên hè phố. Ông bước cà nhắc từng bước
khó nhọc, bởi một bên chân bị bệnh tê liệt cách đây hơn
mười năm... Ðó là những giòng mở đầu một bài báo
của Bùi Minh Quốc, người con rể của cụ Dương Quảng Hàm, đã
bị khai trừ khỏi đảng cộng sản từ tháng 6-1989 vì là một
nhà thơ dám nói thật.
Ông
già bước cà nhắc đó là một nhà khoa học lớn của miền
Nam Việt Nam trước đây : nhà ngôn ngữ học kiêm dân tộc
học Nguyễn Bạt Tuỵ. Ngay từ năm 1949, ông đã nổi tiếng
trong và ngoài nước khi cho in cuốn sách đầu tay mang tựa đề
Chữ và vần Việt khoa học (năm 1959 tăng bổ thành cuốn
Ngôn ngữ học Việt Nam - NXB Ngôn ngữ) và một số bài
báo khác.
Sau
khi cộng sản Việt Nam hoàn thành việc tiếm quyền thống trị cả
nước, tối ngày 4-7-1975, một phái đoàn khoa học xã hội gồm
những nhà ngôn ngữ học và khảo cổ học của Hà-nội đã
đến thăm ông Nguyễn Bạt Tuỵ tại Ðà Lạt, sơ bộ hỏi về
những công trình nghiên cứu của ông. Và, mười hai ngày
sau, 16-7-1975 ông hồ hởi, phấn khởi viết một bức thư
gửi cho Tố Hữu, lúc bấy giờ là ủy viên của bộ chính trị
kiêm bí thư trung ương cộng đảng, phụ trách trưởng ban tuyên
huấn trung ương, xin được giúp đỡ về hành chính, tài chính
và phương tiện để đi nghiên cứu khắp nơi trên đất nước,
nhất là những nơi trên miền Bắc - kèm theo bức thư ông cũng
gửi cho Tồ Hữu bản kê, các công trình đã và đang làm,
dài gần kín 12 trang đánh máy dòng sít. Ở đây chỉ tạm kê
một số như :
1)
Dân và ngữ ở đất Giao (hay Việt Nam), dài hơn 500 trang, công
trình mười năm của tác giả với những chi tiết văn hóa
vật chất và tinh thần cùng những đặc điểm về ngôn ngữ
với nhiều bản đồ và hình ảnh;
2)
Khảo về dân Việt ở Hoa Nam và Dân ta không phải là Việt,
hai quyển đầu trong loại tìm về nguồn, chứa đựng những
bằng chứng về sử học, nhân chủng học, cổ cốt học, dân
tộc học, ngôn ngữ học, cho thấy rằng dân Việt thật sự là
ai ? ở đâu ?
3)
Phonologie Vietnamienne (ngữ âm học Việt Nam viết bằng tiếng Pháp,
dày 500 trang); cuốn này có bản sao chụp do ông Nguyễn Ðình Hòa
đã làm, còn để ở Viện Việt Học bên Mỹ;
4)
Les voyelles Vietnamiennes, études synchroniques et dichroniques, viết bằng
tiếng Pháp, năm 1960, và cũng để ở bên Pháp;
5)
NOA recherches linguistiques en Giaolande (ou Vietnam), viết bằng tiếng
Pháp, trình bày những biến chuyển tư tưởng của tác giả
qua hơn hai mươi năm suy tư về ngôn ngữ, trong mọi ngành ngữ
âm, ngữ nghĩa, văn phạm, văn phong, nhất là sự phát minh ra
thuyết độ tiếp xúc(théorie du degré de contact) mà tác
giả tin rằng sẽ làm đảo lộn tất cả các thuyết ngôn ngữ
trên thế giới và chứng tỏ giá trị bấp bênh của mọi công
trình nghiên cứu trước đây.
Ông
Nguyễn Bạt Tuỵ cũng còn định viết những tác phẩm bằng tiếng
Anh cho dễ phổ biến, chủ yếu là cuốn New Principles of
Phonology (Những nguyên lý mới của ngữ âm học) nhằm chống
lại Trubetzkoy, tác giả cuốn sách nổi tiếng mang tựa đề là
Principes de Phonologie.
Những
công trình nghiên cứu của ông Nguyễn Bạt Tuỵ vừa lớn vừa
phong phú. Ðó là tài sản trí tuệ quí báu của dân tộc Việt
Nam cũng như của thế giới. Thế nhưng lá thư của ông gửi
cho Tố Hữu đến nay đã mười bảy năm mà vẫn không có hồi
âm. Ông đã gõ đúng cửa, bởi Tố Hữu là giới chức
chóp bu của cộng sản Việt Nam được công khai là người chịu
trách nhiệm lãnh đạo nền khoa học xã hội, văn học và nghệ
thuật. Trong bộ máy hành pháp, Tố Hữu còn giữ chức phó
thủ tướng thứ nhất, phụ trách thường trực Hội đồng chính
phủ và đến nay còn giữ chức tổng thư ký ủy ban chiến lược
của đảng (cộng sản).
Ông
Nguyễn Bạt Tuỵ không phải là người đầu tiên bị giới chức
cộng sản cầm quyền đóng chặt cánh cửa đường vào khoa học.
Trước ông, đã có hằng hà sa số trí thức bị ngược đãi
hoặc bị thủ tiêu.
Ngay
từ những năm 1945-46, cộng sản Việt Nam đã cho giết hầu hết
các sinh viên ngành y, ngành luật, tạm thời rời mái trường
đại học để học lớp quân chính do Việt Nam Quốc dân đảng
tổ chức ở Yên Bái (Bắc Việt Nam). Năm 1949, người trí thức
đầu tiên bị cộng sản thủ tiêu là bác sỹ Thinh, giám đốc
quân y viện liên khu X. Từ cuối năm 1951, tập thể trí thức
sống dưới sự cai trị của chính phủ Hồ Chí Minh phải chịu những
đòn tẩy não đầu tiên trong các đợt gọi là chỉnh huấn
mà nội dung chính là trấn áp về tư tưởng, khiến trí thức
phải thừa nhận là tầng lớp công dân dễ giao động, chịu
ơn huệ của thực dân, có nhiều gắn bó với địa chủ, phong
kiến hoặc tư sản (mại bản) cho nên cần thiết phải được
cải tạo lại bằng lao động chân tay về hành động và phải
tuyệt đối đầu hàng giai cấp vô sản (tức đảng), tuyệt đối
phục vụ trung thành sự nghiệp của giai cấp vô sản (tức đảng).
Hầu
hết trí thức Việt Nam đều có lòng yêu nước nồng nàn nên
đã bỏ cuộc sống đầy tiên nghi vật chất đi theo chính phủ
Liên hiệp kháng chiến chống thực dân Pháp, hệt như nhân dân
Việt Nam lúc đó, tự tay đốt phá nhà mình thực hiện khẩu
hiệu tiêu thổ kháng chiến. Toàn dân Việt Nam, trong đó
có tầng lớp trí thức, chưa bao giờ có thực tế lịch sử
làm kinh nghiệm nên không lường được sự phản bội, trí
trá của giới chức cộng sản.
Cho
đến nay, không ít người, cả Việt Nam lẫn nước ngoài, còn
có nhận thức rằng những sai lầm của cộng sản ởViệt Nam,
trong đó có chính sách đối với trí thức, là do sai phạm của
cá nhân lãnh đạo của hoặc Trường Chinh hoặc Lê Duẩn. Cách
nhìn mà những người đó coi là khách quan chính là vốn
hiểu biết nghèo nàn về cuộc sống thực tế của thân phận
người dân (loại có trăn trở) dưới ách thống trị của chính
quyền cộng sản.
Dưới
chế độ cộng sản, trí thức là mục tiêu hàng đầu bị đàn
áp, thường xuyên bị khủng bố và bị hạ nhục. Một số trí
thức nào đó được xử dụng và đã được thuần hóa nhưng
vẫn bị nghi kỵ nên thường xuyên bị giám sát tư tưởng và
hầu hết bị quản thúc cho đến chết theo cách rất đặc
thù của thế giới cộng sản. Cách đối xử với trí thức
là đường lối cố hữu của chính quyền cộng sản từ Xô-viết
Nghệ Tĩnh (1930-31) với khẩu hiệu :
Trí,
phú, địa, hào
Ðào tận gốc, trốc tận rề.
Sau
này, Hồ Chí Minh láu cá hơn nhóm Nguyễn Phong Sắc, lãnh đạo
của Xô-viết Nghệ Tĩnh, không nói huỵch toẹt nôm na như vậy
mà dùng những uyển ngữ bọc đường là : cách mạng văn
hóa và tư tưởng (trí) với các phong trào chỉnh huấn mùa
xuân và trăm hoa đua nở; cải tạo công thương nghiệp
tư bản tư doanh (phú); cải cách ruộng đất (địa) và chấn chỉnh
tổ chức (hào). Và, quả rằng với sự lãnh đạo của giới
chức cầm quyền cộng sản mở đầu bằng Hồ Chí Minh, cho đến
nay đảng cộng sản Việt Nam vẫn thực thi đường lối nhất
quán đó và đã thành công trong việc đào tận gốc, trốc
tận rễ các giai tầng trí, phú, địa, hào của xã hội Việt
Nam, ở phiá Bắc từ thập niên 1950 trở đi và ở miền Nam
từ sau tháng 4-1975 đến nay. Ngay trong đảng viên, ngoại trừ
một số rất ít được cho một chỗ đứng nào đó, còn phần
lớn không có quyền lực thực sự. Họ chỉ là những viên
chức được tin cậy hơn trong phần chuyên môn nhằm giúp lãnh
đạo kiểm tra công việc chuyên môn chứ không phải để vạch
ra đường lối, chính sách. Trong nhiều trường hợp họ
được dùng theo kiểu đối phó với xu thế của thời đại
nhằm tô điểm cho bộ mặt chế độ cộng sản cái hình thức
bên ngoài mà thôi.
Trong
chính phủ Hồ Chí Minh, có một số trí thức tham chính như tiến
sỹ văn chương Nguyễn Văn Huyên, bộ trưởng bộ giáo dục;
kỹ sư Trần Ðăng Khoa, bộ trưởng giao thông và bưu điện;
luật sư Phan Anh, bộ trưởng bộ ngoại thương; giáo sư Hoàng
Minh Giám, bộ trưởng bộ văn hóa; bác sỹ Phạm Ngọc Thạch,
bộ trưởng y tế; giáo sư Tạ Quang Bửu, chủ nhiệm ủy ban
khoa học và kỹ thuật, sau chuyển sang làm bộ trưởng đại học
và trung học chuyên nghiệp; ông Phạm Ngọc Thuần, chủ nhiệm ủy
ban văn hóa đối ngoại; kỹ sư Nghiêm Xuân Yêm, bộ trưởng
bộ nông nghiệp; kỹ sư Kha Vạng Cân, bộ trưởng bộ công
nghiệp nhẹ; luật sư Vũ Ðình Hòe, bộ trưởng bộ tư pháp;
luật gia Phạm Văn Bạch. chánh án tòa án tối cao; giáo sư
thạc sỹ Hồ Ðắc Dzi, giám đốc trường đại học y khoa Hà-nội;
luật sư Nguyễn Mạnh Tường, chủ tịch hội luật gia Việt Nam;
giáo sư bác sỹ Trần Hữu Tước, giám đốc bệnh viện Bạch
Mai (bệnh viện đầu ngành y của Bắc Việt Nam).
Rõ
ràng danh chính ngôn thuận là có chức vụ đấy, nhưng số phận
của những trí thức tham chính với cộng sản ra sao ?
-
Tiến sỹ bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên viết báo cáo, đọc
diễn văn hoặc tham luận ở bất cứ nơi nào cũng đều do người
từ ban tổ chức trung ương cộng sản đưa về làm thư ký
riêng cho bộ trưởng soạn hộ. Ðã thế, tất cả còn phải
được một trong các phó của ông ta duyệt trước, đó là
Hà Huy Giáp, ủy viên trung ương đảng cộng, bí thư đảng đoàn
cộng sản bộ giáo dục (sau Lê Liêm thay thế); Võ Thuần Nho,
thứ trưởng, ủy viên đảng đoàn (em ruột tướng Võ Nguyên
Giáp) và Hồ Trúc, thứ trưởng, ủy viên đảng đoàn. Ông
tiến sỹ Nguyễn Văn Huyên chấp nhận thân phận bù nhìn ngồi
trên ghế bộ trưởng giáo dục. Ông Lê Liêm, là ủy viên dự
khuyết trung ương cộng sản, vướng vào vụ xét lại nên
bị thuyên chuyển từ bộ văn hóa về giáo dục và tuy là bí
thư đảng đoàn nhưng quyền lực lại thuộc về Võ Thuần Nho,
xuất thân từ một giáo viên tiểu học, đã bê bối trong vụ
sửa lại học bạ cho con trai để đi học nước ngoài. Hồ Trúc,
học vấn lèm nhèm, nguyên là ủy viên ban bí thư đoàn thanh
niên lao động (tức cộng sản) được đưa sang bổ sung vào đảng
đoàn (cộng sản). Người ta biết đến Hồ Trúc nhờ câu
chuyện tiếp phái đoàn văn hóa giáo dục của Pháp, trong bữa
tiệc tiếp tân, Hồ Trúc đã gắp món ăn nộm sứa (món ăn
độc đáo của Bắc Việt Nam) cho lên mồm cắn một miếng rồi
thản nhiên bỏ chỗ thừa vào đĩa thức ăn chung và hỉ hả
nói với khách ngon lắm, ngon lắm! Cho nên dân Hà-nội đã
có câu về bộ giáo dục như sau :
Buồn thay Huyên cỗi, Nho già
Phất
phơ khóm Trúc, la đà cành Lê ! (tức Lê Liêm)
-
Kỹ sư Trần Ðăng Khoa tuy là bộ trưởng giao thông bưu điện
nhưng mọi quyền quyết định do các thứ trưởng của ông ta là
Nguyễn Hữu Mai, ủy viên dự khuyết trung ương kiêm bí thư đảng
đoàn và thứ trưởng Hồng Xích Tâm, ủy viên đảng đoàn,
xuất thân từ một phu xe kéo (pousse-pousse). Cái ông thứ trưởng
Hồng Xích Tâm này đã can tội cưỡng dâm cô y tá trẻ ở
bệnh viện Việt-sô khi đi nằm dưỡng bệnh. Khi thứ trưởng
Nguyễn Hữu Mai đi vắng, bộ trưởng Trần Ðăng Khoa vẫn phải
vào tận giường bệnh của Hồng Xích Tâm để xin chỉ thị.
Trong bộ giao thông và bưu điện của kỹ sư Trần Ðăng Khoa cũng
còn một trường hợp nữa, đó là kỹ sư Ngô Huy Văn, ủy
viên dự khuyết trung ương đảng xã hội Việt Nam, tổng cục
phó kiêm cục trưởng cục điện chính của tổng cục bưu điện,
khi học chính trị ở cơ quan, bị xếp học chung lớp với lao công
(quét rác và làm vệ sinh nhà cầu) và lái xe (tài xế ô-tô).
Tuy không được quyết định cái gì dù nhỏ hay lớn, nhưng
trong vụ vỡ đê Mai Lâm (đường cống), kỹ sư Trần Ðăng
Khoa vẫn phải giơ đầu (dù là bù nhìn) chịu báng và bị huyền
chức. Do chịu im lặng nhận cái tội không phải của mình nên
sau ít lâu, kỹ sư Trần Ðăng Khoa được cho làm phó tổng thư
ký đảng dân chủ Việt Nam kiêm giữ chức phó chủ tịch quốc
hội. Tuy giữ những chức vụ nghe thì có tiếng đấy, nhưng
nhất cử nhất động đều phải xin chỉ thị của đại diện của
đảng cộng sản nằm trong trung ương của đảng dân chủ, lúc
đầu là Phạm Hồng. Khi Phạm Hồng sang giữ chức phó chủ
nhiệm ủy ban văn hóa đối ngoại thì có Nguyễn Việt Nam thay
thế. Sau tháng 4-1975, Nguyễn Việt Nam vào Nam giữ chức chủ tịch
hội đồng nhân dân Sài-gòn thì lại phải bẩm báo với Phạm
Tuấn Khánh, tổng cục phó tổng cục thông tin.
-
Kỹ sư Nghiêm Xuân Yêm, bộ trưởng bộ nông nghiệp, đồng thời
sau khi nhóm lãnh đạo bất kham của đảng dân chủ là tổng
thư ký Dương Ðức Hiền, các ủy viên trung ương Hoàng Văn
Ðức và Ðỗ Ðức Dục (còn là thứ trưởng bộ văn hóa)
bị thanh trừng, đã được cho giữ chức tổng thư ký đảng
dân chủ thay Dương Ðức Hiền. Về công tác của đảng dân
chủ, kỹ sư Nghiêm Xuân Yêm cũng phải xin chỉ thị của Phạm
Hồng, Nguyễn Việt Nam, Phạm Tuấn Khánh như kỹ sư Trần Ðăng
Khoa. Còn về chuyên môn nông nghiệp thì dù là kỹ sư nông
nghiệp nhưng vẫn phải xin ý kiến về mọi mặt của Hoàng Anh,
bí thư trung ương cộng đảng kiêm phó thủ tướng chính phủ.
Nhân vật này xuất thân là
dân nghèo thành thị, nghĩa là chẳng biết nghề nông cũng chẳng
biết gì về công, thương hay thủ công nghiệp. Cho nên mới có
chuyện bí thư trung ương cộng đảng kiêm phó thủ tướng Hoàng
Anh đã triệu tập một cuộc họp toàn quốc (tức miền Bắc
Việt Nam) về nông và lâm nghiệp, có đủ mặt chức sắc các
tỉnh, thành, khu, các nhà khoa học về nông lâm học và đương
nhiên có mặt cả kỹ sư nông nghiệp Bộ trưởng ngông nghiệp
Nghiêm Xuân Yêm. Hoàng Anh phổ biến sáng kiến vĩ đại
của ông ta là phủ kín các đồi núi hoang hóa vùng Tây- Bắc
và Việt- Bắc bằng cách trồng chuối. Bực mình vì sự ngu xuẩn
về kiến thức đó của Hoàng Anh mà học sinh cấp 2 phổ thông
cũng hiểu được, tiến sỹ lâm học Thái Văn Trừng (tác
giả cuốn sách nổi tiếng : Về hệ thảm thực vật ở Việt
Nam) đã phát biểu ý kiến rằng cấu tạo bộ rễ của cây
chuối không cho nó sống được trên đồi trọc ở Tây Bắc
và Việt Bắc. Tất nhiên là kỹ sư nông nghiệp Nghiêm Xuân
Yêm, giữ thái độ im lặng, có nghĩa là tuân lệnh của Hoàng
Anh. Vì thế, Hoàng Anh đã nổi giận chỉ tay vào mặt tiến sỹ
Thái Văn Trừng mắng ở giữa hội nghị, đại ý :Anh tưởng
anh là ai mà làm nguội nhiệt huyết cách mạng dám làm, dám
nghĩ của đảng của giai cấp vô sản. Chỉ cần có đảng
lãnh đạo thì cái gì cũng có thề làm được. Trí thức các
anh chỉ là lũ hoang mang, giao động trước các trào lưu cách
mạng... Và, sau hội nghị (phản khoa học) đó, các tỉnh, các
ngành, các giới được lệnh huy động tiền, dân công đi trồng
chuối ở các đồi trọc vùng Tây Bắc và Việt Bắc. Không
kể tiền quyên góp bằng cách cưỡng bức, không kể biết
bao dân công được huy động đi sưu, làm không công, cũng như
cán bộ, công nhân viên và bộ đội, ngân sách nhà nước
phải chi hàng trăm triệu vào cái sáng kiến quái gỡ đó
của Hoàng Anh. Kết quả là chỉ sau 3 ngày đêm, toàn bộ chuối
được trồng chết hết. (Cần lưu ý : lương một bác sỹ y
khoa mới ra trường là 48 đồng một tháng, sau 2 năm thâm niên
mới được 60 đồng/tháng). Tiến sỹ Thái Văn Trừng chẳng
được một lời xin lỗi. Còn Hoàng Anh, vẫn cứ là bí thư
trung ương đảng kiêm phó thủ tướng, thôi làm công tác nông
nghiệp mà sang kiêm nhiệm bộ trưởng bộ tài chính ! Và, kỹ
sư Nghiêm Xuân Yêm, do đã được thuần hóa, biết tôn trọng
ý kiến ngu xuẩn của đảng nên được thăng lên chức
bộ trưởng phụ trách khoa học và kỹ thuật nông nghiệp !!!
-
Luật sư Phan Anh tuy là bộ trưởng ngoại thương, nhưng mọi việc
đều phải xin ý kiến của hai thứ trưởng của mình là Lý
Ban, ủy viên dự khuyết trung ương, bí thư đảng đoàn bộ ngoại
thương, và Nguyễn Văn Ðào, ủy viền đảng đoàn bộ ngoại
thương.
-
Ở ủy ban văn hóa đối ngoại tuy chủ nhiệm là học giả Phạm
Ngọc Thuần (anh của nhân vật cộng sản nằm vùng ở miền Nam
là đại tá Phạm Ngọc Thảo), lại có bác sỹ Nguyễn Khắc
Viện phụ trách tập san Études Vietnamiennes và tuần báo
Courriers du Vietnam, nhưng cả hai trí thức này đều phải bẩm báo
với Phạm Hồng là bí thư đảng đoàn ủy ban. Nhân vật này
khó khăn lắm mới học xong lớp 4 bổ túc văn hóa, không
thèm biết một thứ ngoại ngữ nào, nếu có tự viết báo
cáo, chỉ thị thì theo kiểu :run tay thì phẩy, mỏi tay thì chấm
và phải suy nghĩ thì xuống hàng.
-
Giáo sư Hoàng Minh Giám, mà trong sách của Jean Sainteny cũng như
của các người nước ngoài, đánh giá là nhân vật cứng
rắn, năng nổ, môn đồ thân cận của Hồ Chí Minh, là phó tổng
thư ký đảng xã hội Việt Nam. Trong chính phủ Liên-hiệp của
những năm 1945-46, đúng là giáo sư Hoàng Minh Giám được Hồ
Chí Minh tận lực lợi dụng. Nhưng khi đã nắm được trọn vẹn
binh quyền bằng lừa đảo, lật lọng, giới lãnh đạo cộng sản
Việt Nam cho giáo sư Hoàng Minh Giám giữ ghế bộ trưởng văn
hóa chỉ để làm cái mồi câu. Mọi quyền lực thực sự nằm
trong tay bộ ba thứ trưởng văn hóa là : thiếu tướng Lê
Liêm (từng là chủ nhiệm tổng cục chính trị bên quân đội
trước đại tướng Nguyễn Chí Thanh) ủy viên dự khuyết trung
ương, bí thư đảng đoàn (sau chuyển qua bộ giáo dục và Hà
Huy Giáp ở bộ giáo dục về thay vào chức vụ này); Nguyễn
Ðức Quỳ, thường trực đảng đoàn, và Mai Vi, ủy viên đảng
đoàn, xuất thân là trưởng ty công an tỉnh Yên Bái. Sau tháng
4-1975, giáo sư Nguyễn Văn Hiếu giữ chúc bộ trưởng văn hóa
nhưng thực quyền trong tay trung tướng Trần Ðộ, ủy viên trung
ương Ðảng, thứ trưởng văn hóa, trưởng ban cán sự đảng
(một dạng thức của đảng đoàn công sản ở cấp ủy ban, bộ
và cơ quan ngang bộ).
-
Kỹ sư Kha Vạng Cân tuy được là bộ trưởng bộ công nghiệp
nhẹ, nhưng quyền hành hoàn toàn trong tay viên thứ trưởng
Ngô Minh Loan, ủy viên trung ương dự khuyết, bí thư đảng đoàn,
xuất thân từ bên quân đội với cấp bậc thiếu tướng, có
một thời kỳ là thứ trưởng bộ công an và là người
trong những năm 1945-46 đã chỉ đạo cho quân Việt Minh (cộng sản)
đánh tỉnh lỵ Yên Bái do Việt Nam Quốc-dân-đảng quản lý, đã
lừa đảo trong vụ gọi là liên hiệp ở Yên Bái với Việt
Nam Quốc-dân-đảng, họp mặt với tư lệnh quân sự của Viêt
Nam QDÐ ở Yên Bái là ông Nguyễn Văn Vĩnh, đập cốc ăn thề
ở bungalow tỉnh lỵ lúc chiều thì đến đêm lén đánh úp khiến
ông Vĩnh phải tự tử không chịu đầu hàng. Hầu hết lực lượng
quân sự của Việt Nam QDÐ ở Yên Bái bị Ngô Minh Loan cho giết
hết kể cả trường sĩ quan lục quân, một số ít chạy thoát
lên Lao Cai nhập với tư lệnh Triệu Việt Hưng (của VNQDÐ).
-
Trong bộ y tế, bác sỹ Phạm Ngọc Thạch, một đảng viên lâu
năm, tuy giữ ghế bộ trưởng nhưng bị kèm cặp bởi ủy viên
dự khuyết trung ương Ðinh Thị Cẩn, bí thư đảng đoàn kiêm thứ
trưởng thứ nhất bộ y tế. Bà này trình độ văn hóa mới
đến lớp 4, nhưng vì đã từng là cấp dưỡng (đầu bếp riêng)
của Hồ Chí Minh nên văn hóa kém như vậy nhưng vẫn được
ngồi trên đầu tất cả các giáo sư, bác sỹ v.v... của ngành
y. Cùng chia quyền với Ðinh Thị Cẩn để o ép bác sỹ bộ trưởng
y tế còn có thứ trưởng Hoàng Ðình Cầu, ủy viên đảng đoàn,
xuất thân từ y tá bên quân đội, được đi học đại học
y khoa về ngành phong trào! (nghĩa là tổ chức hệ thống y
tế). Nhục nhã vì bị kẻ ít học khống chế nên bác sỹ
Phạm Ngọc Thạch xin phép Hồ Chí Minh đi Nam công tác (tức đi
B). Truyện hậu đài lộ rằng khi chia tay từ biệt bác sỹ Thạch,
ông Hồ Chí Minh đã khóc (?). Và, ít lâu sau thì có tin bác
sỹ Phạm Ngọc Thạch bị chết vì bom B52 của Mỹ. Còn tin lan
truyền trong số miền Nam (không có khu 5) tập kết thì bác sỹ
Thạch bị bắn từ sau ót có lẽ vì họ (giới lãnh đạo
cộng sản) sợ bác sỹ Thạch dinh tê vào Sài-gòn. Lễ
truy điệu bác sỹ Thạch được phe miền Nam tổ chức rầm rộ.
Tượng bán thân của bác sỹ Thạch được đắp to như tượng
Hồ Chí Minh. Cánh miền Nam phẩn uất cho rằng lỗi là do Ðinh
Thị Cẩn. Cuối cùng một nhân nhượng với phe miền Nam tập kết
rất là Ðặc thù cộng sản : bộ y tế được chia thành
hai (cả nhân sự lẫn cơ sở vật chất). Một nửa vẫn là bộ
y tế, nửa còn lại nâng lên cấp ủy ban (cao hơn bộ) gọi là
ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em, đích thân Phạm Văn Ðồng,
thủ tướng kiêm nhiệm chức
chủ nhiệm ủy ban và Ðinh Thị Cẩn là phó chủ nhiệm ủy
ban phụ trách thường trực !
Cũng
trong cái ngành y này, giáo sư thạc sỹ y khoa Hồ Ðắc Dzi
được giữ chức giám đốc trường đại học Hà-nội, nhưng
trong một cuộc họp, ông đã uất ức nói lên một câu nổi
tiếng để tóm tắt thân phận trí thức dưới chế độ công
sản :Tôi là chính quyền (giám đốc) nhưng quyền chính ở
trong tay anh Chữ ! (Nguyễn Xuân Chữ, không có bằng cấp gì,
giữ chức bí thư đảng ủy trường đại học y khoa Hà-nội).
Ở
bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện đầu ngành y của cả miền Bắc
Việt Nam, giáo sư bác sỹ Trần Hữu Tước, là một chuyên
gia nổi tiếng về khoa tai, mũi, họng ở Pháp, khi theo về với
chính phủ Hồ Chí Minh, đã được phong danh hiệu anh hùng lao
động xã hội chủ nghĩa, là đại biểu quốc hội, giữ chức
giám đốc bệnh viện. Ngoài ra còn nhiều giáo sư, bác sỹ nổi
tiếng trong và ngoài nước như giáo sư Ðặng Văn Chung, giáo
sư Ðặng Vũ Hỷ v.v... Nhưng tất cả đều theo lệnh của phó
giám đốc phụ trách tổ chức, hành chính kiêm bí thư đảng
ủy, tên là Quyết, một người không thèm học để có một
loại bằng cấp gì. Ðiều trái khoáy là trong bất kể một ca
phẩu thuật thành công nào khi báo, đài đưa tin phải theo công
thức :Do quyết tâm của đảng ủy và được sự động viên
ân cần, xít xao nên tập thể bác sỹ, y tá đã thành công
trong ca mổ... Như thế có nghĩa là đảng là quyết định còn
tài năng kiến thức cá nhân của người trí thức đã bị
phủ nhận trong cái khái niệm tập thể vừa mơ hồ vừa
bao la.
Ngay
ở Sài-gòn mới đây, trong vụ mổ ca song sinh dính nhau Việt-Ðức,
bác sỹ Trần Ðông A (bác sỹ cũ của chế độ Sài-gòn) đã
thực hiện xuất sắc việc phẫu thuật, nhưng vẫn bị coi là không
đủ tiêu chuẩn nhận danh hiệu thầy thuốc nhân dân!
Những
trí thức dám nói dù chỉ
một phần sự thật đều bị dàn áp thẳng tay như chủ tịch hội
luật gia Nguyễn Mạnh Tường, bộ trưởng tư pháp Vũ Ðình Hòe,
thứ trưởng văn hóa Ðỗ Ðức Dục bị huyền chức. Giáo sư
Trương Tửu phải đi làm nghề châm cứu; giáo sư thạc sỹ
triết học Trần Ðức Thảo bị đưa đi chăn bò ở nông trường
Ba Vì để cải tạo tư tưởng;
giáo sư tiến sỹ toán lý Vũ Như Canh không được dùng; các
học giả Ðào Duy Anh, Cao Xuân Huy không được một sự giúp
đỡ nào. Số văn nghệ sỹ, sinh viên... trong phong trào Nhân
Văn - Giai Phẩm bị cải tạo lao động, bị hạ nhục như nhà thơ
Lê Ðạt phải làm nghề dán bao bì, buôn giấy báo cũ ở phố
Lãn Ông; Hoàng Cầm bị tù đi tù lại; Hữu Loan phải làm
nghề xe thồ ở Thanh Hóa; Trần Dần ngồi bán mấy cuốn sách
cũ ở túp lều đầu phố Khâm Thiên (Hà-nội); Nguyễn Bính
chết héo hon ở nơi bị quản thúc (Nam Ðịnh); nhạc sỹ Văn Cao
phải vẽ nhãn hàng hoặc ký họa cho các báo; Nguyễn Dậu làm
nghề hớt tóc ở vĩa hè phố Hàng Dàu (Hà-nội); nhạc sỹ
Tử Phác chết trong cảnh nghèo nàn ở phố Hàng Giấy (Hà-nội);
các nhạc sỹ Hoàng Giác và anh ruột là Hoàng Kim cũng thế
v.v... kể không thể hết được.
Một
điều mà mọi người cần thấy được là tất cả những sự
việc trên đều xảy ra vào lúc mà ông Hồ Chí Minh còn sống
khỏe mạnh, còn nắm các chức vụ chóp bu của đảng và chính
quyền : chủ tịch nước kiêm thủ tướng chính phủ, chủ tịch
đảng kiêm tổng bí thư đảng. Sau khi ông Hồ Chí Minh chết, cũng
như ngay lúc ông ta còn sống, những người bị coi là trực
tiếp chỉ đạo 4 cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng, cải cách
ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và
chấn chỉnh tổ chức, nghĩa là 4 mục tiêu đồng dạng với khẩu
hiệu của Xô Viết Nghệ Tĩnh là :
Trí, phú, địa, hào
Ðào tận gốc, trốc tận rễ
vẫn
thăng tiến trong cái tôn ti trật tự của hệ thống vua quan
xã hội chủ nghĩa, đó là :
-
Trường Chinh : kẻ vừa bị coi là trực tiếp chịu trách nhiệm
về cách mạng văn hóa tư tưởng lẫn cải cách ruộng đất,
nghĩa là làm cái việc đào tận gốc, trốc tận rễ giai
tầng trí thức và địa chủ (tức người có vốn, có kinh
nghiệm tổ chức sản xuất nông nghiệp) ở nước ta, vẫn cứ
là nhân vật số hai trong đảng (sau Lê Duẩn), là chủ tịch quốc
hội, là chủ tịch nước, quay lại làm tổng bí thư đảng (trở
lại nhân vật số một của đảng) và là cố vấn tối cao của
đảng cho đến chết.. Các trợ lý khác của Trường Chinh như
Tố Hữu trong cách mạng văn hóa và tư tưởng thì từ ủy
viên dự khuyết trung ương, phó ban tuyên huấn trung ương nhảy
lên ủy viên bộ chính trị kiêm bí thư trung ương, trưởng ban
tuyên huấn trung ương, phó thủ tướng thứ nhất phụ trách
thường trực thường vụ hội đồng chính phủ, rồi làm tổng
thư ký ủy ban chiến lược của đảng. Những đệ tử ruột
của Tố Hữu trong việc dẹp phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm đều
thăng quan tiến chức cho đến nay như Cù Huy Cận, chủ tịch ủy
ban liên hợp văn học nghệ thuật; Xuân Diệu, viện sĩ thông
tấn viện hàn lâm văn học (của Ðông Ðức); Vũ Ðức Phúc,
từ anh giáo viên trung học phổ thông ở Gia Lâm nhảy lên
ghế viện phó Viện văn học; Vũ Khiêu, từ một giáo viên
tiểu học ở thị xã Lạng Sơn lên vụ trưởng Vụ mỹ học
Marx-Lénine; Lưu Trọng Lư giữ vụ trưởng Vụ sân khấu (trước
Mai Vi); Phạm Ðình Sáu, vụ trưởng vụ ca múa (thay Lưu Hữu Phước
đi Nam); tổng thư ký Hội nhà văn Nguyễn Ðình Thi và phó tổng
thư ký Nguyễn Khải (người đã đem chuyện của bố đẻ và
họ hàng lên sân khấu để chửi giai cấp xuất thân của mình
- thật là cơ hội bỉ ổi !); Trần Hoàn, từ ở Sở văn hóa
Hải-phòng nay là bộ trưởng văn hóa; Phan Quang, người luôn
xách cặp theo hầu Tố Hữu, nay là tổng thư ký Hội nhà báo;
Huy Thành, một đạo diễn điện ảnh trung cấp không có gì xuất
sắc, nay thành phó tổng thư ký hội điện ảnh, nghệ sỹ ưu
tú; Nguyễn Thụ Thành cục trưởng cục điện ảnh. Các môn
đệ khác cũng lên như diều như Hồng Hà, nay là bí thư trung
ương, trưởng ban đối ngoại trung ương (xếp của bộ trưởng
ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm); Xuân Trường làm Tổng biên tập
Tạp chí lý luận cộng sản; Phạm Như Cương, chủ nhiệm ủy ban
khoa học xã hội; đặc biệt Ðào Duy Tùng và Nguyễn Ðức Bình
còn là ủy viên bộ chính trị. Trợ lý của Trường Chinh
trong cải cách ruộng đất là Hoàng Quốc Việt, Hồ Viết Thắng
và Nguyễn Ðức Tâm thì Hoàng Quốc Việt, ngay khi tuyên bố về
sai lầm của cải cách ruộng đất, tuy không còn là ủy viên
dự khuyết bộ chính trị nhưng vẫn là ủy viên Trung ương, Trưởng
ban dân vận trung ương kiêm chủ tịch Tổng công đoàn, viện trưởng
viện kiểm sát tối cao, bí thư đảng đoàn mặt trận tổ quốc,
bí thư đảng đoàn của 3 cơ quan tư pháp là Tòa án tối cao,
viện kiểm sát tối cao và hội luật gia ! Hồ Viết Thắng thôi
là ủy viên trung ương đảng, nhưng chỉ ít lâu sau lại ra nắm
ghế bộ trưởng kiêm bí thư đảng đoàn bộ lương thực và
thực phẩm. Còn Nguyễn Ðức Tâm, phó của Hồ Viết Thắng,
lui về làm Tổng cục trưởng tổng cục vật tư rồi chuyển ra
làm bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh, đến đại hội 6 cộng đảng leo
lên ghế ủy viên bộ chính trị, trưởng ban tổ chức trung ương
- một chức vụ đầy quyền lực.
-
Lê Văn Lương : ủy viên dự khuyết bộ chính trị, trưởng ban
tổ chức trung ương (khi đó Lê Ðức Thọ là phó của Lê Văn
Lương) được Hồ Chí Minh ủy nhiệm lãnh đạo cuộc chấn chỉnh
tổ chức, nghĩa là đào tận gốc, trốc tận rễ giai tầng
hào trong xã hội Việt Nam, tức là những người làm
nhiệm vụ quản lý và có kinh nghiệm quản lý xã hội về mặt
hành chính. Ðây là cuộc thanh lọc lại sau mẻ lưới của
cải cách ruộng đất nhằm thanh toán bằng hết theo phương
pháp sai còn hơn sót tất cả những nhân sỹ, tổ chức
tôn giáo và đảng phái không phải là cộng sản đã cộng
tác hòa hợp, hòa giải
với Hồ Chí Minh để tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, trong đó cũng kết hợp thanh toán những
đảng viên cộng sản lương thiện nghĩa là những người
gia nhập đảng cộng sản vì tưởng nhầm đảng cộng sản thực
lòng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, trung lập, độc
lập, tự do, hạnh phúc và phú cường, nhất là những người
có uy tín với dân chúng ở địa phương trong quá trình kháng
chiến chống Pháp. Cuộc chấn chỉnh tổ chức đã giết và
bỏ tù gần hai chục vạn đảng viên, cán bộ có công trong
cuộc kháng chiến chống Pháp, trong đó có cả sỹ quan quân đội,
các cấp chủ tịch tỉnh, tỉnh ủy viên và khu ủy viên như anh
hùng quân đội trong trận Ðiện Biên Phủ, trung tá Nguyễn Quốc
Trị; thiếu tướng Vương Thừa Vũ, chủ tịch ủy ban quân quản
Hà-nội sau 7-1954; thiếu tướng Thiết Hùng bị cho đi làm đại
sứ ở Bắc Triều Tiên; trung tá Lộc Giang, trung đoàn trưởng
trung đoàn Lao-Hà-Yên (tức Lao-cai, Hà-giang, Yên-bái) về vườn;
trung tướng Nguyễn Sơn, tư lệnh khu 4, bị quản thúc ở bệnh
viện 308, sau sang bệnh viện Việt-Xô cho đến chết; chủ tịch
Phú-thọ Nguyễn Hữu Chỉnh cho về dạy học ở trường Kinh tế-
Tài chính; xử tử bí thư tỉnh ủy Phú-Thọ Nguyễn Văn Nguyên,
người đã trực tiếp giết hầu hết học viên khóa sỹ quan
lục quân của Việt Nam quốc dân đảng còn sót lại ở
Lao-cai, chỉ vì trước đó Nguyễn Văn Nguyên đã gia nhập Việt
Nam quốc dân đảng trứơc khi gia nhập cộng sản. Nguyễn văn
Nguyên bị bắn chết ít lâu thì Hồ Chí Minh ký lệnh cho phục
hồi đảng tịch và truy điệu là liệt sỹ v.v... (Nhân dân
Phú-thọ cho Nguyễn Văn Nguyên bị Hồ Chí Minh cho bắn chết là
quả báo và người ta kinh tởm thủ đoạn của Hồ Chí Minh).
Trong chấn chỉnh tổ chức, các đảng viên Dân chủ và Xã hội
bị triệt hạ, các hộ dân xưa kia có xu hướng hoặc có liên
quan xa gần với Việt Nam quốc dân đảng, Ðại-việt v.v... hoặc
hoạt động hội đoàn tôn giáo, nhất là công giáo đều bị
bắt giết, bỏ tù. Kết thúc bằng lệnh của Hồ Chí Minh không
cho các đảng dân chủ và xã hội được kết nạp đảng viên
mới, không có công tác kinh tài riêng và cả hai đảng đều
có một chi bộ cộng sản nằm ngay trong trung ương lãnh đạo mọi
mặt, kể cả hai tờ tuần báo Ðộc-lập và Tổ-quốc. Sau đại
hội 6 cộng đảng thì hai đảng Dân chủ và Xã hội cũng như
hai tờ báo bị giải tán.
Sau
thành công của chấn chỉnh tổ chức nhờ tiêu diệt gần
hai chục vạn cán bộ, đảng viên v.v... Lê Văn Lương bị kỷ
luật và thôi là ủy viên dự khuyết bộ chính trị, chỉ còn
là ủy viên dự khuyết trung ương, phó ban tổ chức trung ương
(dưới Lê Ðức Thọ). Nhưng chỉ đến đại hội 3 cộng đảng
(1960), Lê Văn Lương được đưa vào ủy viên thường trực
ban bí thư trung ương kiêm phó ban thường trực ban tổ chức
trung ương. Hai nhân vật có công giúp Lê Văn Lương cày nát
nhân sự ở khu 4 là Ngô Thuyền và Võ Thúc Ðồng cũng
được vào trung ương chính thức, giữ các chức bí thư tỉnh
ủy Thanh Hóa và Nghệ An, vì có công bỏ tù và giết gần 5
vạn người ở khu 4. Trong việc này, trung tá Ðồng Sĩ Nguyên
(tức Nguyễn Văn Ðổng) có công đem lính tàn sát đồng bào
công giáo ở Ba Làng cả già, trẻ, phụ nữ có thai nên đã
lên quan như diều tới cấp trung tướng, ủy viên bộ chính trị,
phó thủ tướng. Ðại hội 4 cộng đảng thì Lê Văn Lương vào
ủy viên chính thức của bộ chính trị.
-
Ðỗ Mười : sau năm 1954, vơí chức vụ bí thư thành ủy Hải-phòng
và khu Hồng-Quảng (Hồng-gai và Quảng-yên) đã có sáng kiến
dựng ra vụ gián điệp của Pháp ở mỏ than Cẩm-phả mà không
cần tang chứng, tử hình ngay tội nhân để khủng bố tinh
thần giai cấp công nhân ở mỏ, cũng như thành tích trấn
áp giáo dân và nhân dân trong cái gọi là khám phá ra các
tổ chức phản động cưỡng bức di cư ở Hải-phòng - Kiến-an.
Vì thế Ðỗ Mười, cũng từng đeo lon thiếu tướng, được
Hồ Chí Minh chỉ định là trưởng ban cải tạo công thương nghiệp
tư bản tư doanh của trung ương để làm nốt cái phần đào
tận gốc, trốc tận rễ giai tầng phú của xã hội Việt Nam,
tức là những người có vốn và kinh nghiệm tổ chức sản
xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cũng như làm nhiệm
vụ lưu thông phân phối. Sau cái long trời, lở đất của
cải cách ruộng đất và sửa sai ở nông thôn, ngày nay
đến lượt tất cả thành phố, thị xã, thị trấn, dù ở những
miền thượng du heo hút của Bắc Việt Nam, tất cả thị dân
được nếm mùi đập nát và cứa cổ của thứ tà giáo
lấy búa, liềm làm tô-tem, lấy màu máu người làm
nền tảng. Hàng triệu người bị giết, bị tù, bị đưa đi
các vùng kinh tế mới mà không cần xét xử, cũng như
hàng vạn người, kể cả tiểu thương, tiểu chủ buôn thúng
bán mẹt ở các chợ, các đầu mối giao thông trên chính lộ
phải tự tử vì bị truy thu thuế lợi tức mà Ðỗ Mười
cho tính từ hồi cộng sản còn chưa có chính quyền, đến nỗi
như ở Hà-nội, một người bán thịt bò khô ở trước quán
Mụ Béo bờ hồ Hoàn Kiếm hoặc một người nuôi một
con chó berger đẻ bán chó giống phải lao đầu vào đường tàu
điện tự tử; có gia đình uống thuốc độc cả nhà chết 12
người lớn nhỏ (ở phố Cao bá Quát) v.v... Tất cả đều bị
cải tạo, người đạp xích lô, người thợ hớt tóc cá thể
ở đầu hè, người mua đồ nát (ve chai) v.v... cũng phải cải
tạo vào tổ hoặc hợp tác xã. Ðảng cộng sản đã có thể
kiểm soát người dân đến mọi nhu cầu từ cái kim, sợi chỉ.
Việc cải tạo tư sản nhà cửa làm song song vơí chính sách
quản lý hộ khẩu, cảnh sát đường phố, thanh niên cờ đỏ,
đội phòng hỏa nhân dân, tổ hòa giải đường phố, đội vệ
sinh, thanh niên cứu quốc, thiếu nhi khăn quàng đỏ, nhi đồng
tháng tám, mẹ chiến sỹ, giáo viên xóa nạn mù chữ, hướng
dẫn viên tập thể dục theo đài buổi sáng v.v... khiến mọi hộ
dân đều bị cộng sản kiểm soát đến cả gầm giường, xó
tủ, bữa ăn, thùng rác, giờ giấc sinh hoạt, quan hệ họ hàng,
bè bạn cho đến cả những câu thì thầm riêng tư của vợ
chồng, anh em. Không ai dám ăn ngon tý chút vì sợ hàng xóm
tố cáo, con trẻ đi kể cho cảnh sát đường phố, cho đội phụ
trách thiếu nhi, nhi đồng v.v... và lập tức sẽ bị đưa ra
tổ dân phố để mổ xẻ xem vì có tiền ở đâu ra
(sau cải tạo) mà ăn ngon và mua ở đâu những thứ mà người
dân không được tiêu chuẩn do nhà nước qui định v.v... Báo
Nhân Dân dẫn đầu các loại báo, tuần báo, tạp chí, sách
thiếu nhi, sách học ở nhà trường và đài phát thanh, đài
truyền thanh cũng như các cuộc họp dân phố, thanh niên, thiếu
nhi được tuyên dương vì đã tố giác bố mẹ, điển hình
là con của nhà thuốc H.K (Hà-nội) đã tố giác chỗ bố mẹ
giấu vàng, sỉ nhục mẹ là có bạn trai xin được đoạn
tuyệt với gia đình. Cô này được kết nạp ngay tức khắc
vào đoàn thanh niên lao động (cộng sản), được báo, đài
ca ngợi nêu gương, được chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi là
thanh niên mới, xã hội chủ nghĩa. Chỉ có điều cần lưu
ý là sau đó vài năm, cô ta lấy chồng đẻ con, vất vả
trong cuộc sống nhưng không hề thấy Bác Hồ và các đồng
chí trong đoàn thanh niên cũng như đồng chí công an đường
phốgiúp đỡ mà phải quay lại để cho cha mẹ bù trì
chăm sóc. Hàng xóm với nhau hoặc trong gia đình mà vợ
chồng, cha mẹ, anh em có chút to tiếng với nhau là lập tức
tổ hòa giải đến làm nhiệm vụ khêu gợi, và thế
là trong lúc nóng giận thiếu suy nghĩ, vợ chồng, anh em, cha con
v.v... tố khổ nhau mà thói thường là hay đơm đặt thêm
cho bõ ghét. Cho nên chẳng còn ai dám tâm sự với ai,
kể cả vợ chồng, mọi mối quan hệ là đối phó. Hộ hộ
đều phải gia nhập hữu thức theo kiểu đối phó cho an toàn
bản thân cái tà giáo đó mở đầu bằng lập bàn thờ
tổ quốc để thờ sống ảnh của Bác Hồ và các lãnh
tụ cộng sản trong và ngoài nước như Marx, Ăng-ghen, Lénine,
Staline, Mao trạch Ðông... Trường
Chinh, Lê Duẩn, Phạm văn Ðồng, Võ nguyên Giáp và Hoàng quốc
Việt.
Sau
việc đào tận gốc, trốc tận rễ thị dân ở miền Bắc
Việt Nam, Ðỗ Mười và phó là Khuất duy Tiến đều lên cơn
điên, phải đưa qua Trung cộng chữa bệnh. Khuất duy Tiến bị điên
cho đến chết. Còn Ðỗ Mười, hơn hai năm sau được Hồ Chí
Minh gọi về cho làm bộ trưởng nội thương rồi lên phó thủ
tướng và leo tới ủy viên dự khuyết bộ chính trị cùng lượt
với Tố Hữu.
Sau
tháng 4-1975, Ðỗ Mười lại chỉ đạo cuộc đào tận gốc,
trốc tận rễ thị dân ở miền Nam Việt Nam, qui mô còn lớn
hơn và tàn khốc không khác gì ở miền Bắc những năm sau
1954. Có điều sức mạnh tiềm tàng của thị dân miền Nam đã
làm được cái việc như David đánh ngã tên khổng lồ.
Với
thành tích vĩ đại đó, Ðỗ Mười đã leo lên ghế chủ tịch
hội đồng chính phủ sau đại hội 6 cộng đảng và tổng bí thư
sau đại hội 7 cộng đảng !
Hiện
nay trước sự sụp đổ ào ạt của hệ thống xã hội chủ
nghĩa, những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam buộc lòng
phải nói đến mở cửa, đến kinh tế thị trường có
hướng dẫn và nhắc lại
bài bản vọng cổ mùi mẫn hòa
hợp, hòa giải, nhưng họ vẫn nắm đằng chuôi bằng cách
ghi rõ trên giấy trắng mực đen vào luật gốc (tức hiến pháp
1992) rằng đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo đất nước
Việt Nam, vẫn xây dựng chủ nghĩa xã hội theo lý thuyết
Marx-Lénine; vẫn theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Như thế phải hiểu
là chỉ có những người trong tầng lớp lãnh đạo của cộng
sản hiện hành hoặc những người do họ tuyển chọn để thừa
kế, tất nhiên là họ dựa vào tiêu chuẩn đồng nhất tư tưởng
chính trị, mới là kẻ hợp pháp để lãnh đạo đất nước
Việt Nam, cũng như nội dung chủ nghĩa xã hội theo lý thuyết
Marx-Lènine là thủ tiêu mọi quyền tư hữu về tư liệu sản
xuất (dù lớn hay nhỏ) của tư nhân để tập trung trong tay đảng
cộng sản trọn vẹn là chủ của mọi hoạt động chính trị,
kinh tế, văn hóa v.v... của đất nước thì đến một lúc nào
đó, khi hoàn cảnh cho phép, những người lãnh đạo cộng sản
Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh lại có quyền hợp pháp
làm lại 4 cuộc cách mạng mà thực chất nội dung vẫn là
: Trí, phú, địa, hào
Ðào
tận gốc, trốc tận rễ.
Ngay
chính cái lúc mà những người lãnh đạo của đảng cộng sản
Việt Nam tuyên bố long trọng rằng đổi mới, mở cửa
và mọi việc đều do dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra, nghĩa là mở rộng dân chủ thì trí thức vẫn là
đối tượng bị đào tận gốc, trốc tận rễ. Cụ thể là
biết bao trí thức như các nhà văn, nghệ sỹ, kỹ sư, bác sỹ,
giáo sư, sinh viên... đều phải sống đói khổ, thiếu thốn,
thua xa những cảnh sát giao thông, công an kinh tế, thủy thủ tàu
viễn dương, nhân viên hải quan, chiêu đãi viên hàng không
và một lô các loại mánh mung không cần chữ nghĩa, khoa học.
Và, cũng trí thức bị tù đày nhiều nhất như bác sỹ Nguyễn
Ðan Quế, tiến sỹ Nguyễng Mộng Giao, Thái Thủy v.v..., hoặc bị
quản chế như giáo sư Nguyễn Ngọc Lan, linh mục Chân Tín v.v...
Ngay những người bị đàn áp từ phong trào Nhân Văn - Giai
Phẩm, tuy được gọi là cởi mũ (tức tha tội) mà vẫn
sống khó khăn, còn bị làm khó dễ như các thi sỹ Lê Ðạt,
Trần Dần, Hoàng Cầm , Hữu Loan v.v... hay như Văn Cao mới đây
trong vụ kiện tác quyền tác giả bài Tiến quân ca (tức
quốc ca của cộng sản Việt Nam). Ngay cả những người đã chết
vẫn chưa được trả lại chỗ đứng khiêm tốn, như nhà
văn Vũ Trọng Phụng, các tác phẩm bị cấm lưu hành từ 1954,
hay cụ Phan Khôi v.v... tuy đã chết mà con gái còn bị làm
nhục, kẻ phạm tội đó là Nông quốc Chấn, vẫn cứ là
thứ trưởng bộ văn hóa từ đó cho đến nay.
Giới
chức lãnh đạo cộng sản Việt Nam có thể bỏ qua chuyện hà
lạm công qũy của chân tay, nhỏ thì như vụ Ðường Sơn Quán,
lấy tiền chơi điếm hàng nhiều triệu, hay như tổng cục trưởng
du lịch Nguyễn quyền Sinh, công qũy phải chi mỗi chiều độ hai
chỉ vàng cho giải khát sau khi luyện quần vợt, lớn thì như vụ
thứ trưởng Thân trung Hiếu, làm thất thoát hàng nhiều triệu
đô-la Mỹ v.v... nhưng không bao giờ có chuyện họ quan tâm đến
một trí thức dân tộc như ông Nguyễn Bạt Tuỵ để bù lỗ,
cho xuất bản một tác phẩm nghiên cứu khoa học, mà họ cũng
không cho phép ông bán bản quyền cho nhà xuất bản ở nước
ngoài ! Giờ đây ông Nguyễn Bạt Tuỵ chỉ còn chờ mong ở hảo
tâm của người Việt sống ở nước ngoài giúp đỡ ông
chút vốn để tự xuất bản tác phẩm của mình.
Chùng
nào chế độ xã hội Việt Nam còn trong tay những người cộng
sản thì số phận trí thức bị coi thường nói chung, cứ lấy
thí dụ trong câu thơ nổi tiếng của Tố Hữu để chứng minh,
trong khi nhà thơ cung đình cộng sản này làm thơ khóc Staline, ví
như ông nội, hay coi Hồ Chí Minh như cha, thì đã gọi nhà thơ,
nhà trí thức vĩ đại Nguyễn Du là ANH !
Anh
làm thơ, tôi cũng làm thơ...
Ðất nước Việt Nam ngày nay nghèo khổ, giống hệt con giun đất của Trạng Quỳnh, bên cạnh các con rồng lớn, rồng nhỏ ở châu Á có nguyên nhân từ các tầng lớp trí, phú, địa, hào của xã hội Việt Nam đã bị đảng cộng sản Việt Nam đào tận gốc, trốc tận rễ và những người thực hiện cái việc hại dân, hại nước đó vẫn đang nắm quyền lực lớn nhất ở guồng máy cai trị hiện nay ở Việt Nam.
Tháng
9-1992