Thủ tướng phải là con tin của bộ chính trị
Hà Thị Đông Xuân, Trần Hiền Thảo và nhóm sinh viên
Các bạn sinh viên thân mến;
Khi chúng tôi tỏ ra khó hiểu việc bác Nguyễn Tấn Dũng ký văn bản cấm báo tư nhân (lội ngược trước dòng thác dân chủ trong nước và toàn cầu; tự biết rằng rất nguy hiểm và “có “cấm cũng không nổi”)... thì ông bà chúng tôi đã giải thích thêm cho.
Tuổi chúng tôi quá nhỏ để biết về thời kỳ cụ Đỗ Mười làm thủ tướng, chỉ được nghe lại từ ông bà, cha mẹ.
Chuyện kể lại là cụ thủ tướng đùng đùng từ miền bắc vào Sài Gòn chỉ đạo sự nghiệp cải tạo giai cấp tư sản theo con đường tiến lên XHCN. Hình như cụ Đỗ Mười thuyết phục bộ chính trị “có tình hình hữu khuynh đối với cuộc cải tạo tư sản”... do vậy cụ đề nghị được đích thân làm cái việc “chỉnh đốn” lại. Nói khác, đã có sự “bất tín” của bộ chính trị và của cụ Đỗ Mười đối với cụ Võ Văn Kiệt khi đó đang toàn quyền ở miền nam. Tư sản miền nam là giai cấp bóc lột cuối cùng ở nước ta, do vậy cần phải cải tạo triệt để, để cả nước “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội thênh thang, sáng sủa. Khẩu hiệu khắp hang cùng ngõ hẻm: “Tất cả vì CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân”. Cách làm là kêu gọi, hô hào, khuyến khích các nhà tư sản đưa toàn bộ tài sản và vốn liếng ra kinh doanh “ích nước, lợi nhà”. Nhiều nhà tư sản tưởng thật đã dốc cả hầu bao, nhiều người lo lắng, phân vân nên chỉ kinh doanh cầm chừng, nghe ngóng. Cũng rất nhiều người không nhúc nhích, nằm im. Sau đó không lâu, cụ Đỗ Mười tỏ ra sốt ruột, bực mình, nên đã tức tốc vào Sài Gòn “chấn chỉnh” tình hình. Cụ mạnh tay vận dụng chuyên chính vô sản với mục tiêu tước đoạt mọi “tư liệu sản xuất” của họ vì đó chính là nguồn gốc sinh ra bóc lột. Chẳng hiểu được cái cách cải tạo về kinh tế và chính trị ra sao mà gia đình cụ thông gia với ông bà chúng tôi tan nát thê thảm: Cụ ông đang điều khiển xí nghiệp sản xuất đồ nhựa đã nhảy từ lầu 3 xuống đất; cụ bà khóc hết nước mắt suốt mấy tháng rồi cũng đi theo cụ ông. Người con trưởng (tôi gọi là chú “rể” vì lấy cô tôi) thì đi cải tạo biệt tăm tích, con cái thất học, đói khát, nheo nhóc. Ông tôi trót thuyết phục gia đình thông gia ở lại miền Nam kinh doanh “xây dựng đất nước” theo chính sách đại đoàn kết của đảng ta (mà ông tôi là đảng viên kỳ cựu) nay hối hận quá, khóc lóc và cứ nhè “thằng thiến lợn” mà chửi. Té ra, “cải tạo” và “chuyên chính vô sản” là tước đoạt tài sản, đuổi khỏi nhà, đầy đoạ con người. Thắng lợi lớn nhất mà đảng ta thu được không phải mớ của cải cướp, mà là làm cho cụ Đỗ Mười tay nhúng chàm, chỉ còn cách “tuyệt đối trung thành” và bắt mọi người noi theo con đường “chuyên chính vô sản” mà mình đã dấn sâu.
Chuyện cũ ở trên tôi không được chứng kiến, chỉ được nghe cô, cha mẹ, ông bà kể lại. Nhưng chuyện cụ Đỗ Mười viết nhiều bài rặt một giọng “lập trường Mác-Lê”, sặc mùi “chuyên chính vô sản” thì cả nhóm tôi biết rõ, vì đã đọc chúng khá kỹ. Cho đến chết, con người chính trị Mác Lê của cụ Đỗ Mười không còn con đường nào để trở lại con người lương tri nữa. Mối lo nhất của cụ hiện nay là lớp con cháu kế tục (như bác Mạnh, bác Triết, bác Trọng và nhất là bác Dũng) cứ dần dần bước lệch khỏi con đường đấu tranh giai cấp mà cụ đã đi, không dám sử dụng bào lực cách mạng mà cụ đã lão luyện, rời bỏ lập trường “bạn – thù phân minh” mà cụ đã tận tuỵ. Nếu vậy, rất có thể cụ chưa kịp nhắm mắt thì dư luận rộng rãi trong xã hội đã công khai hỏi tội cụ rồi. Bởi vậy, những hành vi của cụ (khi đã về già, hết quyền lực) như ngăn cản VN ký các hiệp ước hoà giải với Mỹ, cản trở hội nhập, luôn miệng hò hét “hoà nhập chứ không hoà tan, đổi mới chứ không đổi màu v.v... là hoàn toàn hiểu được.
Thời cụ Võ Văn Kiệt làm thủ tướng, chúng tôi mới tập bò, tập đi. Tuy vậy, lớn lên vẫn được nghe nói cụ Kiệt là người ít bảo thủ, muốn đổi mới. Có lẽ do cụ đã “lãnh đủ” sự oán thán của đồng bào miền Nam khi đảng ta tiến hành “cải tạo XHCN”, nhất là sau khi giai cấp tư sản miền Nam bị người ta cầm dao hoạn lợn đâm chém tơi bời. Ít nhiều, cụ cũng thấy những sai lầm của đảng, nhất là khi hàng chục năm cụ ở miền Nam trong khi miền Bắc chìm trong sai lầm và đau khổ (Cải cách ruộng đất, Nhân văn – Giai phẩm...); đến nay – sau 1975 - đảng ta lại bệ nguyên những sai lầm ở miền bắc vào miền Nam. Do vậy đảng ta phải lưu ý thái độ cụ Kiệt, mà ban đầu là cụ quá nương nhẹ “bọn tư sản”. Do vậy thế lực trung thành với chủ nghĩa Mác-Lê trong bộ chính trị và các cụ Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Đức Bình... càng phải cảnh giác. Cùng sinh hoạt trong bộ chính trị, nhưng lại giữ chức thủ tướng, cụ Kiệt rất có lợi thế nếu muốn “chệch hướng”. Cách mà các vua chúa chuyên chế vẫn sử dụng để ràng buộc bầy tôi là buộc họ phải nhúng tay vào tội ác chống dân: họ bị rút ván, từ đó hết lối trở về làm người lương thiện. Gần đây, cụ Kiệt cho biết: Cụ đã chần chừ tới 6 tháng mới ký quyết định thành lập Tổng Cục 2 mặc dù bộ chính trị và các cụ Mười, Anh thúc giục. Thôi chức thủ tướng, cụ đã tỏ ra hối tiếc về việc đó và nói “sẵn sàng nhận kỷ luật”. Sự sám hối muộn mằn vẫn hơn không. Chúng tôi mất khá nhiều thì giờ lên mạng để hiểu “tổng cục 2” là cái gì. Nhưng hành động nhúng chàm thứ hai mà bộ chính trị buộc cụ phải làm là ký nghị định 31CP giam cầm vô lý biết bao nhà dân chủ thì muôn đời không sửa được.
Khi cụ Phan Văn Khải làm thủ tướng, cụ chưa có thành tích gì ghê gớm trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, do vậy cụ rất biết thân trước các vị lão thành kỳ cựu. Cụ cố tỏ rõ lập trường “kiên định” và quan điểm “dứt khoát” của mình. Nhưng đây là thời áp lực hội nhập đã rất mạnh trong dân (về sau, có cả chúng tôi), trong khi đó cụ Khải nhiều lần tiếp xúc với chính quyền Mỹ, do vậy bộ chính trị “thân Tàu” vẫn dùng cách cũ, nhưng rất tác dụng: đó là triệt đường hồi thiện. Nhiều đời sau, hẳn là dân vẫn biết cụ là tác giả của hai nghị định chống tự do, chống nhân quyền: 1) Cấm tụ họp 5 người và 2) Thắt chặt sử dụng internet.
Không hiểu các bậc cha ông cảm thấy sao về những văn bản của các vị thủ tướng trước đây, còn chúng tôi là lớp người hậu sinh trực tiếp bị cụ Phan Văn Khải “phang” bằng cái gậy thứ hai này: cấm đoán tìm thông tin trên mạng mà đảng ta cố ý bưng bít.
Bác Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng khi địa vị đảng đã lung lay dữ, lòng tin vào đảng không còn cách nào cứu vãn, làn sóng dân chủ ở ta và trên thế giới dâng cao, trận bão nhân quyền sẽ càng thổi mạnh khi VN vào WTO, vì vậy bộ chính trị “ra tay” rất sớm đối với thủ tướng. Bác Dũng ngồi chưa ấm chỗ đã bị bộ chính trị ra chỉ thị cấm báo chí tư nhân và buộc bác phải biến nó thành văn bản của chính phủ để ban hành rộng rãi. Bác Dũng cũng khôn ngoan chớ chẳng phải vừa. Trong văn bản do bác ký, bác nói ngay từ đầu “thi hành chỉ thị của bộ chính trị...” để trong đảng và ngoài dân đều biết.
Các bạn sinh viên thân mến. Chúng tôi tin rằng, sớm hơn tất cả các thủ tướng tiền nhiệm, bác Nguyễn tấn Dũng sẽ liên tiếp ký nhiều văn bản tương tự để trở thành con tin khó thoát của bộ chính trị đảng ta.