Đặt lên bàn cân những việc làm
và lời nói của cụ Võ văn Kiệt
Hà Thị Đông Xuân, Trần Hiền Thảo và nhóm sinh viên
Thưa các bạn sinh viên,
Dưới đây là kết quả họp nhóm bất thường, có sự góp ý của thế hệ cha ông, nhân cụ Võ văn Kiệt bất ngờ từ trần.
Liệu có thể coi là một nhân vật tích cực trong lịch sử Việt Nam ?
Mấy ngày nay có lẽ số bài về cố thủ tướng Võ văn Kiệt trên các phương tiện thông tin đại chúng đã đạt mức kỷ lục. Không những các bài tiếng Việt (trong nước và hải ngoại) mà cả các bài trên báo chí quốc tế cũng ở mức kỷ lục. Nhìn tổng quát, thì khen nhiều hơn chê. Cũng là hiếm gặp, khi một quan chức Việt Nam đã về hưu tới 11 năm mà vẫn có cả điện chia buồn từ tổng thư ký Liên hiệp quốc, từ các tổ chức quốc tế và các chính phủ. Điều này, dường như ở Việt Nam chưa có tiền lệ. Đương nhiên, điện chia buồn thì chỉ nói tốt cho người quá cố, nhưng hẳn là những cái tốt có thật. Những người già khẳng định rằng trong vòng gần 40 năm nay, kể từ sau đám tang cụ Hồ, chưa có đám tang nào được dân thường tự phát tiễn đưa đông đến vậy và tỏ lòng tiếc thương nhiều đến vậy. Thấy cả ông Nguyễn Cao Kỳ trong đám tang, có lẽ với tư cách dân thường trong chủ trương hoà giải của cụ Kiệt (?).
Qua các bài tiếng Việt, có nhiều đánh giá khác nhau về cụ Võ văn Kiệt: từ ca ngợi, thương tiếc, cho tới “tiếc rằng…”, chê trách. Nếu điểm cho kỹ còn có bài dè bỉu, phê phán - sau khi có vài lời khen lấy lệ. Tuy nhiên, không cần dựa vào số lượng bài vở, không cần căn cứ vào mức độ ca ngợi hay phê phán, hãy chỉ dựa những đổi mới hiển hiện của đất nước mà cụ Võ Văn Kiệt được thừa nhận là tác giả chính, vẫn có thể nói rằng cụ là một nhân vật tích cực trong lịch sử cận đại của Việt Nam. Trong khi đó, các nhân vật khác có địa vị tương đương, đã và đang tại vị, sẽ không bao giờ được lịch sử coi như vậy. Có những vị hiện nay đang ngồi ở những vị trí tột đỉnh, nhưng chính họ tự biết rằng người đời sẽ rất nhanh chóng quên họ, hoặc chỉ còn nhớ với ấn tượng mờ nhạt pha chút ác cảm.
Khi đã dời bỏ các chức vụ cao trong chính quyền và trong đảng, nghĩa là sự ràng buộc của kỷ luật sắt với cụ không còn chặt chẽ như trước, cụ Võ văn Kiệt đã “nói đủ mức cần thiết” những suy nghĩ về sự bất cập chính trị mà trước đó cụ chưa thể nói.
Quan điểm đánh giá một nhân vật lịch sử
Được sự hướng dẫn của thế hệ ông bà - những đảng viên CS có 50 hay 60 tuổi đảng - chúng tôi cho rằng khi đánh giá một nhân vật tích cực trong lịch sử, chúng ta chỉ được phép nói những điều mà nhân vật này thực tế đã làm (dù tốt hay xấu) mà không được phê phán người đó “tại sao lại chưa làm” điều này hay điều khác. Người ta có thể chê vua Lê Thái Tổ sau khi đuổi giặc Minh thành công đã giết hại nhiều công thần, nhưng không thể phê phán tại sao vị vua này không ban hành Luật hoặc lập Tao Đàn, mà phải đợi đến vua Lê Thánh Tông ?.
Chúng ta có thể chê cụ Võ Văn Kiệt về việc đã ký nghị định 31CP, ký thành lập Tổng cục 2 (việc đã làm) mà không thể phê phán cụ tại sao chưa dám dời bỏ đảng, hoặc chưa dám tuyên bố Việt Nam cần có đa nguyên, đa đảng. Nói khác, không thể đòi hỏi cụ Võ văn Kiệt ở cương vị thủ tướng phải bắt chước cụ Hoàng Minh Chính khi đã ra khỏi đảng. Xin cứ để một cụ già từng có 70 năm hoạt động chính trị tự suy tính - trong hoàn cảnh và điều kiện của mình - điều gì làm được, phải làm cho kỳ được, điều gì chưa có thể làm.
Chúng ta cũng không thể đòi hỏi cụ Võ Văn Kiệt phải nói sớm hơn, mạnh hơn, những điều cụ chỉ dám nói sau khi về hưu. Nói khác, không thể đòi hỏi cụ Kiệt phải bắt chước cụ Trần Xuân Bách, nói một lần, để rồi không bao giờ có dịp nói nữa – như cụ Bách. Xin cứ để cụ tự suy tính điều gì làm được, nói được; làm khi nào và nói khi nào, và điều gì chưa chín muồi để có thể nói và làm.
Lịch sử không có “nếu”.
Vậy xin đặt nếu trong ngoặc kép để giả sử… cái chơi.
Giả sử “nếu” cụ Hoàng Minh Chính và cụ Trần Xuân Bách vẫn cứ ở trong đảng như cụ Võ Văn Kiệt hiện nay, kể cả khi 2 cụ này đã nghỉ hưu, thì “có lẽ” phe cải cách trong đảng (do ảnh hưởng của các cụ) đã chiếm đa số trong bộ chính trị chứ không như hiện nay. Và… “nếu” cụ Võ Văn Kiệt bị khai trừ khỏi đảng thì không những cụ không thể “làm” được những việc như cụ đã từng làm (ở cương vị thủ tướng), mà dẫu cụ có “nói” hay đến đâu cũng ít tác dụng.
Cũng bài viết ấy, cũng nội dung ấy, nếu ký tên Võ Văn Kiệt (còn trong đảng) thì tác dụng lớn hơn hẳn nếu ký tên Trần Xuân Bách hay Hoàng Minh Chính (nếu đã ra khỏi đảng). Chỉ riêng chuyện bài viết ký tên Võ văn Kiệt thì mọi người cứ tha hồ công khai lưu hành, tha hồ công khai bàn luận, tha hồ công khai trích dẫn… là đủ thấy tác dụng. ví dụ, “nếu” có ai đó vẫn còn lý luận dài dòng để chứng minh “yêu nước thời đại hiện nay là yêu CNXH”, thì “nếu” đáp lại bằng lý luận sẽ dài dòng không kém. Nhưng “nếu” trích dẫn câu “có vô số con đường yêu nước” và “tổ quốc này chẳng phải riêng của đảng phái nào”… thì rất nhanh gọn làm đối phương lúng túng và tịt luôn. Bởi vì đó là câu của một người mà đảng CSVN phải tặng huân chương Sao Vàng, phải làm quốc tang và hết lời ca ngợi trong điếu văn là “người dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm”.
Điều lệ đảng và những quy định khắt khe cho một cấp uỷ viên
Nhiều trường đại học và cao đẳng đã tổ chức cho sinh viên học Điều Lệ Đảng, kêu gọi họ “phấn đấu”; nhưng đa số sinh viên đã học kiểu “tai nọ sang tai kia”.
Chúng tôi không thuộc loại đó. Theo lời khuyên của thế hệ ông cha, chúng tôi đã bảo nhau học rất kỹ, kể cả đã vào mạng để kiếm các bài hướng dẫn học tập. Do vậy, chúng tôi nhìn rất rõ:
Điều lệ ĐCSVN là một hệ thống những quy định rất chặt chẽ để đảm bảo cho toàn đảng thành một khối thép về tổ chức, về ý chí và bản lĩnh chính trị. Sức mạnh thật sự của đảng là ở chỗ đó, đảng còn hay mất cũng là ở chỗ đó.
Lý do xác đáng nhất để khai trừ một đảng viên là “làm trái điều lệ”. Thật chính đáng, khó cãi. Với một cấp uỷ viên, tất nhiên càng phải nói và làm theo điều lệ, lại còn thêm nhiều quy định khe khắt khác nữa. Nếu lời nói và hành động của một cấp uỷ viên tỏ ra có chút gì là “thiếu trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin” và “gây bè phái” sẽ là tội nặng nhất. Do vậy, không bao giờ cụ Võ văn Kiệt là thủ lĩnh, hoặc tự nhận là thủ lĩnh, của phe cải cách trong đảng để tự thú rằng mình “bè phái”. Cụ nói rất mạnh, nhưng không câu nào trái điều lệ, trái nghị quyết và ngược lý luận cơ bản.
Khốn nỗi, đảng đang trong quá trình thoái hoá, tha hoá và rệu rã. Đảng viên không còn liên kết bằng lý tưởng mà chỉ còn cấu kết bằng quyền lợi cai trị. Do vậy số lượng và tỷ lệ đảng viên cứ “hồn nhiên” vi phạm điều lệ ngày càng tăng. Nếu số này đạt 10% (trở lên) thì rất khó thi hành nghiêm kỷ luật mà không đe doạ sự rạn nứt, tan rã của đảng. Đó chính là tình trạng đã xảy ra từ lâu, nay thì đã nặng nề hơn nhiều.
Thế hệ ông bà chúng tôi, nhờ còn sinh hoạt trong đảng, cho biết: tới 90% số đảng viên đã vi phạm điều lệ ở các mức độ khác nhau. Nhiều chi bộ không sinh hoạt trong nhiều tháng. Nhiều cuộc họp chi bộ chỉ nghiêm chỉnh một cách hình thức lúc đầu, sau đó thì quay ra… chửi đổng, nhất là sau khi các vị lão thành trong chi bộ khơi mào bằng vài ý xa xôi, rồi ngồi yên theo dõi diễn biến. Được đà, mọi người xúm vào chửi tham nhũng. Chẳng sao, và càng tốt. Nhưng cứ tiếp tục, sẽ tới lúc họ rút kết luận “ông nhỏ ăn nhỏ, ông lớn ăn lớn” thì không còn là chửi tham nhũng nữa mà là chửi chính cái đảng của mình rồi. Do vậy, kỷ luật đảng tự nó cứ lỏng lẻo dần, vì… chẳng ai dám đứng ra thi hành kỷ luật 90% hoặc khai trừ 60% đảng viên trong toàn đảng (!). Ai dám làm thế là tự khai trừ mình.
Tuy nhiên, khi cần khai trừ một cá nhân nào đó (mà đảng thấy khó chịu và thấy anh ta có ảnh hưởng quá lớn trong dân) thì “vi phạm điều lệ” là cái cớ dễ tìm nhất. Cụ Trần Xuân Bách bị vô hiệu hoá bằng cách tương tự: tuy không bị khai trừ nhưng bị tuột mọi chức, bị soi rọi khi nói và viết. Giá mà đảng cứ tống cổ cụ và bạc đãi để cụ thành Trần Độ hoặc Hoàng Minh Chính lại hoá hay.
Chính vì vậy mới có điều nghịch lý là cụ Võ Văn Kiệt (cũng như các vị thuộc thế hệ ông bà chúng tôi) lại rất ý thức rằng phải cố tránh hớ hênh để khỏi bị khai trừ khỏi đảng, nếu họ còn muốn dùng vị trí cao và ảnh hưởng lớn của mình để đòi hỏi đảng thực hiện dân chủ ở Việt Nam. Những người này một khi bị khai trừ thì đương nhiên sẽ công khai phản kháng, theo đúng con đường đã tự chọn – nghĩa là sẽ thành Trần Độ, Hoàng Minh Chính…, sẽ được một số người ca ngợi; nhưng trước mắt, họ tự thấy chưa có nhu cầu hưởng sự “ca ngợi” kiểu này, chưa cần vội vã làm như vậy. Nhưng đảng ta cũng chẳng vừa. Đảng ta có cách bắt buộc mọi thủ tướng phải trở thành “con tin” của bộ chính trị, từ các cụ Đỗ Mười, tới Võ văn Kiệt, Phan Văn Khải và nay là bác Nguyễn Tân Dũng. Điều này chúng tôi nhận ra từ năm 2006 rồi.
Chúng tôi đã có trên 100 bài đăng trên mạng, mà không bài nào thiếu dấu vết suy tư của các cụ góp vào. Chúng tôi đã đặt câu hỏi với các cụ: Sao ông, bà không bỏ quách đảng ? Không trả lời, mà hỏi lại: Nếu ông bà “bỏ quách” thì khi các cháu bị lộ, bị gô cổ lại, ai sẽ đứng ra bảo lãnh cho các cháu thoát tù tội ?
À, thì ra thế. Từ nay, chúng tôi thận trọng hơn khi muốn chê bai các bậc lão thành cứ muốn bám lấy tổ chức đảng chỉ vì… “chút đãi ngộ vật chất”.
Thưa các bạn sinh viên,
Dưới đây là kết quả họp nhóm bất thường, có sự góp ý của thế hệ cha ông, nhân cụ Võ văn Kiệt bất ngờ từ trần.
Xếp loại các bài viết khen chê
Đông đảo dân thường không những thương, mà còn tiếc, trước cái chết của cụ Võ Văn Kiệt, nhưng chỉ một số ít có dịp phát biểu ngắn về nỗi xúc động của mình trên báo, ở mục Ý kiến bạn đọc. Họ chưa có điều kiện và trình độ tỏ lòng thương tiếc bằng những bài viết và bài nói dài hơn.
- Các bài viết thật sự tỏ lòng thương tiếc và ca ngợi cụ Võ Văn Kiệt thường là của những trí thức và văn nghệ sĩ có quan điểm độc lập, tự do, không xu thời, che chiều gió. Họ rất đông đảo. Khi viết bài, họ rất biết chọn để đề cao những ưu điểm nào của cụ Kiệt. Một thời gian dài, họ và tiền bối của họ đã không được tin tưởng, vì ĐCSVN xếp họ vào giai cấp tiểu tư sản (thế hệ ông bà chúng tôi cũng được xếp vào đây). Nay, họ càng nhớ một câu của cụ Võ văn Kiệt (đại ý): Nếu đảng không tin trí thức và văn nghệ sĩ thì làm sao đòi hỏi họ tin lại? Họ cũng nhớ lại rằng cụ Võ văn Kiệt đã rất áy náy, khổ tâm và tìm mọi cách có thể để làm giảm nỗi đau khổ khi các trí thức ở “lực lượng thứ ba” bị đối xử lạnh nhạt, bị gạt bỏ, khi đảng đã chiếm xong miền nam. Tuy vậy, họ rất hiểu rằng một ông bí thư thành uỷ, thậm chí một ông thủ tướng, dưới chế độ XHCN, dẫu có thiện ý bao nhiêu, làm sao có thể cứu được số phận chung của trí thức và văn nghệ sĩ? Đã đành, một vị quan thanh liêm là đáng trọng, nhưng rất dễ thấy là ông ta không thay đổi được chế độ phong kiến. Có người ví cụ Võ văn Kiệt có nhiều nét giống như Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ, nhưng hình như nét không giống vẫn nhiều hơn.
Đại diện cho nhóm nói trên là những trí thức và văn nghệ sĩ trong nhiều năm đã có nhiều bài viết thể hiện đúng suy nghĩ và quan điểm của mình. Chỉ riêng việc vừa viết, vừa suy ngẫm để tự kiểm duyệt sao cho bài được đăng công khai đã đủ nói lên công sức đầu tư và nỗi trăn trở của họ. Bài của các vị này khi đăng ở báo chí trong nước đã gây được hiệu ứng lớn. Đã đăng công khai thì mọi người tha hồ đọc, tha hồ bàn tán. Đăng rồi, nếu bị “thu hồi” thì hiệu ứng càng cao, các cửa hàng phôtcopy càng thả cửa chạy hết công suất. Chỉ cần nói về số người đọc (hàng trăm ngàn, hoặc hàng triệu) đã đủ thấy. Các bài của họ thường được các báo hải ngoại đăng lại tức thời, nhưng tác dụng không lớn. Số người đọc ở hải ngoại không thể đông đảo, đọc xong cũng không thay đổi gì nhiều về nhận thức, trừ cảm giác vui vui rằng trí thức trong nước cũng tìm được cách tự thể hiện mình. Không thiếu bạn đọc hải ngoại chưa “thoả” với cách viết ẩn dụ và rào đón, chỉ muốn người viết nói thẳng băng vấn đề ra. Cần hiểu rằng người trong nước cũng muốn thế lắm chứ.
Đứng đầu danh sách A (những người vừa “có công” lại vừa gây khó chịu cho đảng) không ai khác là chính… cụ Võ Văn Kiệt, nhưng trong danh sách còn rất nhiều vị khác: Phan Đình Diệu, Tương Lai, Nguyễn Trung, Lê Đăng Doanh, Nguyên Ngọc, Bùi Kiến Thành, Thái Duy, Nguyễn Quang A, Nguyễn Quang Lập, Trần Mạnh Hảo… vân vân và vân vân. Trong danh sách B có thể kể các vị : Hồng Hà, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Thanh Giang, Trần Khuê, Bùi Minh Quốc, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự, Lữ Phương, Nguyễn Trọng Văn… và tất cả những vị từng (và đang) là nạn nhân của chế độ nhưng vẫn thể hiện quan điểm rất thẳng thắn và xây dựng, không thèm chấp nhặt chuyện tiểu nhân.
Khi cụ Võ Văn Kiệt mất, các nhóm này đã khen, thương và tiếc, đã tỏ ra chấp nhận cả nội dung và phương pháp đấu tranh của cụ, thừa nhận cụ ít nhiều là một chỗ dựa. Họ hiểu hơn ai hết, muốn bộc lộ quan điểm ở trong vòng kiềm toả thì phải có cách để được an toàn để mà có thể bộc lộ tiếp. Cũng do vậy, hơn ai hết, chính họ hiểu cụ Võ văn Kiệt đã làm tất cả những gì có thể làm được, những gì chưa thể làm. Và cả những gì cụ không muốn làm - nhưng đã là thủ tướng và uỷ viên bộ chính trị - vẫn buộc phải làm. Cũng do vậy, các vị như Hồng Hà, Hà Sĩ Phu… đã hiểu và không oán cụ Võ văn Kiệt mặc dù họ là nạn nhân trực tiếp của cái nghị định 31CP rất phản động do chính cụ ký và ban hành. Họ cũng hiểu rằng hoàn cảnh (gồm cả dân trí) Việt Nam không thể có Gorbachov.
- Những bài viết có nhiều ý chê bai, phê phán thường là bài của của các vị trí thức và văn nghệ sĩ có cuộc sống an toàn ở nước ngoài, đang được hưởng mọi quyền tự do của con người. Các tác giả này dùng tên chính thức của chính mình. Nếu là tác giả đang sống ở trong nước gửi bài ra hải ngoại thì thường dùng nick name.
Có thể do các vị từng là nạn nhân thảm khốc trước đây của đảng CSVN, hoặc các vị chưa hiểu hết hoàn cảnh viết (phải lách) rất khắc nghiệt ở quốc nội, cũng có thể do các vị “sốt ruột” vì… tại sao cụ Võ văn Kiệt không hành động như Gorbachov, tại sao chưa dám nói và làm như các vị đòi hỏi.
Các vị này nhắc nhở cho mọi người biết rằng Võ văn Kiệt chính là người ký nghị định 31CP, lập tổng cục 2, và là người không dám công khai tán thành đa nguyên, đa đảng; thời ông làm thủ tướng đã xảy ra nhiều vụ bắt bớ và xử án chính trị... Và chung quy, ông vẫn chỉ là người mong cho đảng của ông sửa chữa khuyết điểm để được tiếp tục nắm quyền dài dài. Còn khuya, ông mới có “chỗ đứng trong lòng dân tộc”... vân vân.
Tuy nhiên, nếu dịch chuyển chỗ đứng để quan sát ở góc độ khác, người ta vẫn có thể liều lĩnh có vài nhận định ít nhiều trái với ý các bài viết này. Ví dụ, thời ông Kiệt làm thủ tướng, dân “dễ thở” hơn về kinh tế đã đành, mà cả về chính trị cũng ít nhiều “dễ thở” hơn. Người bị quản thúc tại gia vẫn “dễ thở” hơn bị đi tù…
Vấn đề là nhận định như vậy (ở góc độ này hay khác) để nhằm mục tiêu gần và xa là gì; cách nhận định nào đưa lại nhiều lợi ich cho sự cải thiện tình hình hơn. Nhóm chúng tôi tin rằng các vị dù chê bai cụ Kiệt cũng không phải là để giải toả sự bức xúc tâm can của riêng mình.
Cụ Bùi Tín là trường hợp hơi đặc biệt. Cụ không bị bạc đãi về chức vụ và kinh tế, cụ bỏ nước thuần tuý do bất đồng, do muốn thực hiện dân chủ và tự do ở Việt nam. Cụ rất hiểu và đã trải qua sự “khó thở” của trí thức trong nước khi muốn thể hiện mình. Nay, cụ đã sống an toàn ở nước ngoài nên chẳng cần nick name. Chúng tôi thích các bài của cụ vì hợp với tâm trạng người trong lồng.
Trên đây là nhận định rất chủ quan của một nhóm thanh niên khi đọc một số bài trên mạng hải ngoại và không dám tự tiện đại diện cho bạn đọc trong nước.
Vài nội dung góp ý của thế hệ cha ông
- Nếu mục tiêu là thực hiện dân chủ và đa nguyên ở Việt Nam, thì ĐCS có quyền tồn tại bình đẳng với các đảng khác là chuyện đương nhiên. Đấu tranh ôn hoà không nhằm phế bỏ đảng nào hết mà chính là để có đa đảng. Vậy thì, việc cụ Võ văn Kiệt (đảng viên CS có 69 năm tuổi đảng) trung thành với đảng của mình, muốn đảng của mình thay đổi theo chiều hướng tốt lên là chuyện bình thường, hoặc đáng khen. Chúng tôi cũng chỉ mong đảng CS tốt lên như cụ Võ văn Kiệt mong muốn, như phát huy dân chủ trong đảng, bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, mở rộng đối thoại với dân... Hãy đọc các đề nghị chính trị của cụ Kiệt. Điều lạ là sao những đề nghị nội bộ này (nếu cụ Kiệt có ý thức chấp hành kỷ luật đảng) thì làm sao chúng có thể lưu hành trên mạng?. Rồi còn phải kiên nhẫn chờ đợi để biết cụ đã phát biểu những gì trong nội bộ bộ chính trị (nếu sau này tài liệu được giải mật). Tóm lại, hiện nay chúng tôi thấy chưa cần thiết phê phán cụ “sao không vứt quách đảng cũ, tuyên bố đòi đa đảng và lập đảng mới”. Trong wikipedia (mục Võ Văn Kiệt) có đưa ra 3 câu nói nổi tiếng của cụ, nhưng không thấy chú thích thêm rằng đó là những câu trả lời phỏng vấn và chúng đã bị chặn lại nhiều tháng trước khi được công khai hoá trên báo chí.
Tóm lại, nếu cụ không tự mình ra khỏi đảng (ví dụ, do chưa tới lúc có thể làm thế, như Gorbachov đã làm) thì chúng ta chẳng cần “phê” hoặc “khích” cụ, vì vô ích.
- Là thủ tướng, thành viên của bộ chính trị, cụ Kiệt không thể tránh được việc ký nghị định 31CP và lập tổng cục 2 nếu không muốn mất chức. Dẫu mất chức, mà hai văn bản trên vĩnh viễn không ra đời thì mất chức cũng đáng. Nhưng rất dễ khẳng định rằng đảng sẽ tìm ngay ra (không phải một, mà vài ba) ông thủ tướng thuộc phái bảo thủ sẵn sàng ký để được kế nhiệm cụ Khải.
Đó là chủ trương nhất quán “thủ tướng phải là con tin của bộ chính trị” khi phái bảo thủ còn mạnh tuyệt đối. Mọi thủ tướng phải ký những văn bản mất lòng dân, “chống dân” để hết đường trở về dân. Điều này đã xảy ra với cụ Đỗ Mười, bác Phan Văn Khải, nhưng may không xảy ra với cụ Võ Văn Kiệt. Qua việc ký, họ bộc lộ một phần phẩm cách của mình (http://hungviet.org/svxuanthao/svxuanthao1206-1.html). Cụ thể là:
Cụ thủ tướng Đỗ Mười đã ký các văn bản và thẳng tay diệt tư sản, diệt tư hữu, không ngần ngại, sau 30 năm chưa lần nào tỏ ra hối hận.
Cụ Võ Văn Kiệt trì hoãn 10 tháng mới ký nghị định 31CP và sau 6 tháng mới chịu ký thành lập tổng cục 2, đến khi cái tổng cục này lộng hành, gây ra những hậu quả xấu, cụ nói (khi đã thôi chức): “tôi xin chịu kỷ luật” (về việc đã ký thành lập nó). Tất nhiên, bộ chính trị đủ khôn để không dám thi hành kỷ luật vì sẽ lộ ra Tổng cục 2 là cái gậy răn đe (cả đảng lẫn dân) của cụ Đỗ Mười, Lê Đức Anh.
Cụ Phan văn Khải đã ký phăng 2 văn bản “cấm tập hợp quá 5 người” và “hạn chế cấm truy cập trang “nhạy cảm” trên mạng” đến nay chưa tỏ ra có gì hối hận.
Bác Nguyễn Tấn Dũng vừa chân ướt chân ráo lên ngôi thủ tướng đã mở đầu văn bản “cấm báo chí tư nhân” bằng câu… thi hành chỉ thị của bộ chính trị. Còn phải theo dõi để hiểu vì sao bác phải rào đón như vậy.
Thủ tướng nào cũng phải ký các văn bản “chống dân” như vậy.
- Trước khi có 20 năm Đổi Mới (1986- 2006) thì có 10 năm là “đêm đen”.
Nhân đại hội X, đảng CS muốn khoe khoang 20 năm đổi mới nên đã làm cuộc tổng kết. Cụ Võ văn Kiệt đề nghị phải tổng kết 20 năm đổi mới gắn liền với kiểm điểm 10 năm trước đó. Có thể nói, chịu trách nhiệm đưa đất nước vào 10 năm đen tối, khủng hoảng, có cả cụ Võ Văn Kiệt, nhưng cụ vẫn đòi hỏi phải phân tích cho sảng tỏ để hiểu đầy đủ về Đổi Mới (và hiểu đảng buộc phải đổi mới để khỏi… chết). Thời điểm 1986 trở về trước (đêm đen) thì các bác Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng… vẫn còn là những cán bộ rất “tép riu” để khỏi phải chịu bất cứ trách nhiệm gì. Ấy vậy mà họ vẫn không dám chấp nhận đề nghị của cụ Kiệt. Không khó lắm chuyện phân tích não trạng của họ để biết họ sợ gì và đây là nỗi sợ di truyền của đảng. So sánh vậy, để hiểu ra tầm vóc mỗi hạng người.
- Khi cụ Võ Văn Kiệt mất, rất khó biết bộ chính trị buồn hay vui, nhưng biết đích rằng các vị phải cân nhắc cách đối phó với tình hình. Các vị rất biết lòng dân, nhất là trí thức, văn nghệ sĩ, cũng như quốc tế, đối với cụ Kiệt. Cách khôn nhất là đề cao cụ Kiệt lên tận mây xanh và gắn luôn cả đảng vào đấy. Phải nhấn mạnh (trong điếu văn) rằng cụ Kiệt là người tuyệt đối trung thành với lý tưởng (chủ nghĩa Mác-Lê), tuyệt đối trung thành với đảng, là học trò xuất sắc của chủ tịch Hồ Chí Minh. Không khó lắm để đoán ra nội dung và văn phong của diễn văn: đề cao, nhưng chung chung, buộc chặt cụ với đảng và số phận cuả chế độ.
- Do vậy, nếu chúng ta cứ cố nói những điều “chưa đạt” của cụ Võ văn Kiệt liệu có “hay” hơn là tiếp tục đòi hỏi các nhà lãnh đạo hiện nay làm ngay những việc mà cụ Kiệt đang làm dở dang (?) và nhân dịp này đòi hỏi và khuyến khích họ phải vượt qua di sản lừng lững của Võ văn Kiệt? Họ chưa thể hết nợ khi đề cao cụ Kiệt, để tỏ rõ cho mọi người biết rằng họ cùng lý tưởng, cùng quan điểm, với cụ Kiệt, nhưng đồng thời lại rất muốn rằng cụ cứ… lặng lẽ mà “đi vào truyền thống” với di sản của cụ.
- Chúng tôi không dám nhận lời khen của thế hệ ông bà “các cháu đã ít nhiều trưởng thành trong suy nghĩ”. Chúng tôi còn non nớt lắm.
Tham khảo bài cũ (đã được Thongluan, doi thoai, ykien, ptdcvn, thtndc và nhiều blogs đăng tải)
http://hungviet.org
Thủ tướng phải là con tin của bộ chính trị
Các bạn sinh viên thân mến;
Khi chúng tôi tỏ ra khó hiểu việc bác Nguyễn Tấn Dũng ký văn bản cấm báo tư nhân (lội ngược trước dòng thác dân chủ trong nước và toàn cầu; tự biết rằng rất nguy hiểm và “có “cấm cũng không nổi”)... thì ông bà chúng tôi đã giải thích thêm cho.
Tuổi chúng tôi quá nhỏ để biết về thời kỳ cụ Đỗ Mười làm thủ tướng, chỉ được nghe lại từ ông bà, cha mẹ.
Chuyện kể lại là cụ thủ tướng đùng đùng từ miền bắc vào Sài Gòn chỉ đạo sự nghiệp cải tạo giai cấp tư sản theo con đường tiến lên XHCN. Hình như cụ Đỗ Mười thuyết phục bộ chính trị “có tình hình hữu khuynh đối với cuộc cải tạo tư sản”... do vậy cụ đề nghị được đích thân làm cái việc “chỉnh đốn” lại. Nói khác, đã có sự “bất tín” của bộ chính trị và của cụ Đỗ Mười đối với cụ Võ Văn Kiệt khi đó đang toàn quyền ở miền nam. Tư sản miền nam là giai cấp bóc lột cuối cùng ở nước ta, do vậy cần phải cải tạo triệt để, để cả nước “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội thênh thang, sáng sủa. Khẩu hiệu khắp hang cùng ngõ hẻm: “Tất cả vì CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân”. Cách làm là kêu gọi, hô hào, khuyến khích các nhà tư sản đưa toàn bộ tài sản và vốn liếng ra kinh doanh “ích nước, lợi nhà”. Nhiều nhà tư sản tưởng thật đã dốc cả hầu bao, nhiều người lo lắng, phân vân nên chỉ kinh doanh cầm chừng, nghe ngóng. Cũng rất nhiều người không nhúc nhích, nằm im. Sau đó không lâu, cụ Đỗ Mười tỏ ra sốt ruột, bực mình, nên đã tức tốc vào Sài Gòn “chấn chỉnh” tình hình. Cụ mạnh tay vận dụng chuyên chính vô sản với mục tiêu tước đoạt mọi “tư liệu sản xuất” của họ vì đó chính là nguồn gốc sinh ra bóc lột. Chẳng hiểu được cái cách cải tạo về kinh tế và chính trị ra sao mà gia đình cụ thông gia với ông bà chúng tôi tan nát thê thảm: Cụ ông đang điều khiển xí nghiệp sản xuất đồ nhựa đã nhảy từ lầu 3 xuống đất; cụ bà khóc hết nước mắt suốt mấy tháng rồi cũng đi theo cụ ông. Người con trưởng (tôi gọi là chú “rể” vì lấy cô tôi) thì đi cải tạo biệt tăm tích, con cái thất học, đói khát, nheo nhóc. Ông tôi trót thuyết phục gia đình thông gia ở lại miền Nam kinh doanh “xây dựng đất nước” theo chính sách đại đoàn kết của đảng ta (mà ông tôi là đảng viên kỳ cựu) nay hối hận quá, khóc lóc và cứ nhè “thằng thiến lợn” mà chửi. Té ra, “cải tạo” và “chuyên chính vô sản” là tước đoạt tài sản, đuổi khỏi nhà, đầy đoạ con người. Thắng lợi lớn nhất mà đảng ta thu được không phải mớ của cải cướp được, mà là làm cho cụ Đỗ Mười tay nhúng chàm, chỉ còn cách “tuyệt đối trung thành” và bắt mọi người noi theo con đường “chuyên chính vô sản” mà mình đã dấn sâu.
Chuyện cũ ở trên tôi không được chứng kiến, chỉ được nghe cô, cha mẹ, ông bà kể lại. Nhưng chuyện cụ Đỗ Mười viết nhiều bài rặt một giọng “lập trường Mác-Lê”, sặc mùi “chuyên chính vô sản” thì cả nhóm tôi biết rõ, vì đã đọc chúng khá kỹ. Cho đến chết, con người chính trị Mác Lê của cụ Đỗ Mười không còn con đường nào để trở lại con người lương tri nữa. Mối lo nhất của cụ hiện nay là lớp con cháu kế tục (như bác Mạnh, bác Triết, bác Trọng và nhất là bác Dũng) cứ dần dần bước lệch khỏi con đường đấu tranh giai cấp mà cụ đã đi, không dám sử dụng bạo lực cách mạng mà cụ đã lão luyện, rời bỏ lập trường “bạn – thù phân minh” mà cụ đã tận tuỵ. Nếu vậy, rất có thể cụ chưa kịp nhắm mắt thì dư luận rộng rãi trong xã hội đã công khai hỏi tội cụ rồi. Bởi vậy, những hành vi của cụ (khi đã về già, hết quyền lực) như ngăn cản VN ký các hiệp ước hoà giải với Mỹ, cản trở hội nhập, luôn miệng hò hét “hoà nhập chứ không hoà tan, đổi mới chứ không đổi màu” v.v... là hoàn toàn hiểu được.
Thời cụ Võ Văn Kiệt làm thủ tướng, chúng tôi mới tập bò, tập đi. Tuy vậy, lớn lên vẫn được nghe nói cụ Kiệt là người ít bảo thủ, muốn đổi mới. Có lẽ do cụ đã “lãnh đủ” sự oán thán của đồng bào miền Nam khi đảng ta tiến hành “cải tạo XHCN”, nhất là sau khi giai cấp tư sản miền Nam bị người ta cầm dao hoạn lợn đâm chém tơi bời. Ít nhiều, cụ cũng thấy những sai lầm của đảng, nhất là khi hàng chục năm cụ ở miền Nam trong khi miền Bắc chìm trong sai lầm và đau khổ (Cải cách ruộng đất, Nhân văn – Giai phẩm...); đến nay – sau 1975 - đảng ta lại bệ nguyên những sai lầm ở miền bắc vào miền Nam. Do vậy đảng ta phải lưu ý thái độ cụ Kiệt, mà ban đầu là cụ quá nương nhẹ “bọn tư sản”. Do vậy thế lực trung thành với chủ nghĩa Mác-Lê trong bộ chính trị và các cụ Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Đức Bình... càng phải cảnh giác. Cùng sinh hoạt trong bộ chính trị, nhưng lại giữ chức thủ tướng, do vậy cụ Kiệt rất có lợi thế nếu muốn “chệch hướng”. Cách mà các vua chúa chuyên chế vẫn sử dụng để ràng buộc bầy tôi là buộc họ phải nhúng tay vào tội ác chống dân: họ bị rút ván, từ đó hết lối trở về làm người lương thiện. Gần đây, cụ Kiệt cho biết: Cụ đã chần chừ tới 6 tháng mới ký quyết định thành lập Tổng Cục 2 mặc dù bộ chính trị và các cụ Mười, Anh thúc giục. Thôi chức thủ tướng, cụ đã tỏ ra hối tiếc về việc đó và nói “sẵn sàng nhận kỷ luật”. Sự sám hối muộn mằn vẫn hơn không. Chúng tôi mất khá nhiều thì giờ lên mạng để hiểu “tổng cục 2” là cái gì. Nhưng hành động nhúng chàm thứ hai mà bộ chính trị buộc cụ phải làm là ký nghị định 31CP giam cầm vô lý biết bao nhà dân chủ thì muôn đời không sửa được.
Khi cụ Phan Văn Khải làm thủ tướng, cụ chưa có thành tích gì ghê gớm trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, do vậy cụ rất biết thân trước các vị lão thành kỳ cựu. Cụ cố tỏ rõ lập trường “kiên định” và quan điểm “dứt khoát” của mình. Nhưng đây là thời áp lực hội nhập đã rất mạnh trong dân (về sau, có cả chúng tôi tạo thêm áp lực), trong khi đó cụ Khải nhiều lần tiếp xúc với chính quyền Mỹ, do vậy bộ chính trị “thân Tàu” vẫn dùng cách cũ, nhưng rất tác dụng: đó là triệt đường hồi thiện. Nhiều đời sau, hẳn là dân vẫn biết cụ là tác giả của hai nghị định chống tự do, chống nhân quyền: 1) Cấm tụ họp 5 người; và 2) Thắt chặt sử dụng internet.
Không hiểu các bậc cha ông cảm thấy sao về những văn bản của các vị thủ tướng trước đây, còn chúng tôi là lớp người hậu sinh trực tiếp bị cụ Phan Văn Khải “phang” bằng cái gậy thứ hai này: cấm đoán tìm thông tin trên mạng mà đảng ta cố ý bưng bít.
Bác Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng khi địa vị đảng đã lung lay dữ, lòng tin vào đảng không còn cách nào cứu vãn, làn sóng dân chủ ở ta và trên thế giới dâng cao, trận bão nhân quyền sẽ càng thổi mạnh khi VN vào WTO, vì vậy bộ chính trị “ra tay” rất sớm đối với thủ tướng. Bác Dũng ngồi chưa ấm chỗ đã bị bộ chính trị ra chỉ thị cấm báo chí tư nhân và buộc bác phải biến nó thành văn bản của chính phủ để ban hành rộng rãi. Bác Dũng cũng khôn ngoan chớ chẳng phải vừa. Trong văn bản do bác ký, bác nói ngay từ đầu “thi hành chỉ thị của bộ chính trị...” để trong đảng và ngoài dân đều biết.
Các bạn sinh viên thân mến. Chúng tôi tin rằng, sớm hơn tất cả các thủ tướng tiền nhiệm, bác Nguyễn Tấn Dũng sẽ liên tiếp ký nhiều văn bản tương tự để trở thành con tin khó thoát của bộ chính trị đảng ta.
Hà Thị Đông Xuân, Trần Hiền Thảo và nhóm sinh viên