Hà Sĩ Phu và cuộc hành trình gian nan của dân tộc

Tối 21 tháng 8 năm 96, ngay đầu chương trình thời sự Ðài truyền hình Việt Nam thông báo tình hình mực nước hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình dâng lên ở trên mức báo động cấp 3 và chiếu cảnh dân chúng ven đê chuẩn bị chạy lụt. Mấy phút sau, đài thông báo tiếp công điện khẩn kêu gọi các tỉnh từ Thừa Thiên - Huế trở ra chuẩn bị phòng chống cơn bão số 4 rất mạnh đang di chuyển nhanh về phiá bờ biển. Ðó là những thiên tai đang đe dọa đất nước khốn khổ này.

Nhưng có bao nhiêu người biết rằng ngày mai, 22 tháng 8 năm 96, nếu không có gì thay đổi theo thông báo chính thức của tòa án nhân dân Hà Nội, sẽ là ngày đưa Hà Sĩ Phu ra xét xử. Ðó phải chăng cũng sẽ là một tai họa do chính chế độ này gây ra!

Thế mà thấm thoát đã hơn 8 tháng, tính từ ngày 5 tháng 12 năm 95, Hà Sĩ Phu bị đưa vào tù với tội danh kỳ quặc “chiếm đoạt tài liệu bí mật của nhà nước”. Trước đó, Hà Sĩ Phu đã được coi như một biểu tượng của trí tuệ và tự do tư tưởng. Mặc cho mọi sự đe dọa, trong vòng vài năm, ông liên tiếp công bố 3 tiểu luận ngắn nhưng đầy sức nặng về tính thuyết phục, phân tích tình hình đất nước và kêu gọi sự cáo chung của chế độ Cộng Sản Việt Nam (CSVN). Ba tiểu luận: “Dắt Tay Nhau Ði Dưới Những Tấm Biểu Chỉ Ðường Của Trí Tuệ”, “Ðôi Ðiều Suy Nghĩ Của Một Công Dân” và “Chia Tay Ý Thức Hệ”.

Ngay sau khi Hà Sĩ Phu bị bắt, tin tức được thông báo nhanh chóng. Dư luận trong và ngoài nước đã cực lực lên án việc làm sai trái này của nhà cầm quyền. Trong nước, những người bạn gần gũi nhất của Hà Sĩ Phu đã chính thức lên tiếng phản đối hoặc bằng văn bản, hoặc trả lời phỏng vấn của đài, báo nước ngoài. Nhiều tổ chức chính trị, xã hội, nhân đạo, báo chí, nhiều trí thức cấp tiến và những người ngưỡng mộ Hà Sĩ Phu ở nước ngoài ở Pháp, Mỹ, Canada, Ðức, Úc, Hoà Lan... đã có những hoạt động rầm rộ để ủng hộ Hà Sĩ Phu và phê phán nhà cầm quyền Việt Nam.

Tác phẩm của Hà Sĩ Phu được in và phát hành rộng rãi; những phần quan trọng được dịch ra nhiều thứ tiếng. Nhiều cuộc họp được tổ chức, kể cả các cuộc xuống đường biểu tình yêu cầu trả tự do cho Hà Sĩ Phu. Dân biểu Hạ viện Cộng Hòa Pháp Christian Vanneste, Chủ tịch Ủy ban Người Pháp Cho Dân Chủ tại Việt Nam, từ tháng 3/96, đã phát động tại Pháp một chiến dịch đòi trả tự do tức khắc cho Hà Sĩ Phu và can thiệp với Bộ Ngoại Giao Pháp để làm áp lực lên chính quyền Việt Nam, yêu cầu trả tự do cho Hà Sĩ Phu trong thời gian ngắn nhất. Việc bắt Hà Sĩ Phu càng làm cho Hà Sĩ Phu thêm nổi tiếng. Tư tưởng của ông được phổ biến rộng, chính sách đàn áp tự do tư tưởng, tự do dân chủ nói chung và vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền Việt Nam càng bộc lộ rõ. Bạn bè, những người ngưỡng mộ Hà Sĩ Phu khắp nơi trong và ngoài nước cũng đã có những hành động ủng hộ tinh thần cho bà Ðặng Thị Thanh Biên, vợ của Hà Sĩ Phu, trong lúc khó khăn sóng gió nhất.

Riêng chính sách đàn áp của nhà cầm quyền Việt Nam không phải không có hiệu quả. Một số trí thức tốt có tâm, có lòng với đất nước trước trường hợp Hà Sĩ Phu đã thú nhận bất lực không dám có hành động gì cụ thể. Một số không muốn hay không dám nhận những tài liệu liên quan đến Hà Sĩ Phu do bà Thanh Biên đưa cho, một số xa lánh hay im lặng không nhắc nhở hay tỏ thái độ vì sợ liên quan. Sức ép nặng nề này lên tâm lý của trí thức trong nước có kết quả nhất định, đồng thời cũng là sai lầm lớn của nhà cầm quyền khi trí thức tê liệt óc sáng tạo và lòng phản kháng chính trực. Ðó cũng là dấu hiệu đất nước đi vào suy vong, dù nhà cầm quyền độc tài có thể tồn tại trong thời gian nào đó.

Lẽ dĩ nhiên, người lo lắng và chịu nhiều đau buồn nhất trong việc Hà Sĩ Phu bị bắt là vợ ông, bà Ðặng Thị Thanh Biên. Sau khi nhà ở Ðà Lạt bị khám xét và bị gọi lên Sở công an Lâm Ðồng nhiều lần. Lúc được chính thức thông báo chồng bà bị bắt giam ở Hà Nội, bà đã thu xếp nhà cửa để ra Hà Nội thăm nuôi và đòi trả tự do cho chồng. Tuy bước đầu được một số bạn bè và một số gia đình giúp đỡ nơi ăn ở, chỉ dẫn đường đi nước bước, nhưng càng về sau càng khó khăn hơn. Trong tình hình chính trị hiện nay, để một người có chồng đang bị giam vì lý do chính trị ở trong nhà không phải là điều dễ dàng. Trong 8 tháng qua, bà Thanh Biên đã di chuyển chỗ ở hơn 5 lần. Ðáng buồn thay, ngay trong gia đình và những người hàng xóm, tuy không biết gì về việc làm của Hà Sĩ Phu, nhưng có người thấy ông bị bắt và nghe tuyên truyền, cũng cho ông là “phản động”. Ngoài nỗi đau chồng đang bị giam cầm, vốn sống ở miền Bắc từ thủa nhỏ, không có gì làm bà đau xót hơn về điều này.

Trong chế độ cộng sản, ngày xưa, phản động là một từ, một cái mũ thật khủng khiếp đối với những ai bị gán cho. Tuy nhiên, ngày nay, không phải chỉ có nhà cầm quyền kết án người dân là phản động, mà người dân cũng có thể kết án nhà cầm quyền là phản động, đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, của đất nước, đi ngược lại trào lưu tiến hóa của lịch sử. Ðó mới thật là phản động!

Khác với chồng là một nhà tư tưởng, một cây bút chính luận và châm biếm xuất sắc, bà Thanh Biên vốn không quen chuyện viết lách, tuy thế bà đã phải viết gần chục đơn đề nghị gửi các ngành các cấp về trường hợp của chồng. Ðơn từ bà kể lể dài dòng và có thể bà không hiểu hết tư tưởng của Hà Sĩ Phu, nhưng bà luôn đoan chắc chồng bà không làm gì sai trái, chồng bà luôn vì dân vì nước đó là điều khẳng định xuyên suốt trong tất cả các đơn từ. Sau này chắc chắn Hà Sĩ Phu sẽ được an ủi rất nhiều khi biết được điều này. Ngoài những giòng thư vắn tắt và những món đồ thăm nuôi mà bà đã gửi vào cho chồng qua sự kiểm duyệt của công an, bà không sao gói ghém hết lòng thương nhớ và ân tình của người vợ đối với chồng trong cơn hoạn nạn.

Trong 8 tháng với hai lần được vào thăm gặp mặt chồng mỗi lần nửa giờ với sự chứng kiến và giám sát của 2 công an, dĩ nhiên bà không thể nói hết những điều gì cần nói. Trước lần vào thăm thứ hai, ngày 19 tháng 7 năm 96, bà đã được công an Hà Nội gọi lên buộc phải làm bản tường trình mọi việc, mọi hoạt động và tiếp xúc liên lạc của bà với bất cứ ai từ khi Hà Sĩ Phu bị bắt, đồng thời yêu cầu bà phải báo cáo ngay với công an những ai tìm cách móc nối liên lạc, giúp đỡ, nhất là người nước ngoài. Dĩ nhiên bà không làm theo yêu cầu này, dù bà phải khai báo cho qua chuyện để được vào gặp chồng. Sau lần gặp thăm đó, công an cũng có khuyên bà “nếu Hà Sĩ Phu bị đưa ra toà, không nên thuê luật sư làm gì phiền phức và nếu cần, các cơ quan nhà nước chức năng sẽ giới thiệu luật sư cho bà”!

Ít lâu sau có việc cần về Ðà Lạt để giải quyết một vài chuyện riêng, bà trình bày với công an, công an đồng ý và khuyến khích bà nên đi. Vừa vào Ðà Lạt vài ngày, ngày 12 tháng 8 năm 96, bà nhận được giấy báo của tòa án nhân dân Hà Nội, ký ngày 8 tháng 8 năm 96, cho biết sẽ đưa Hà Sĩ Phu ra xử vào ngày 22 tháng 8 năm 96. Bà chỉ kịp gửi một đơn đề nghị trước khi thu xếp cấp tốc bay ra Hà Nội để lo các thủ tục trong việc Hà Sĩ Phu bị đưa ra xét xử. Thật là một thủ đoạn không lấy gì làm hay ho của một nhà nước hùng mạnh đối với một phụ nữ thân cô thế khô như bà. Trong đơn đề nghị cuối cùng trước phiên toà bà viết: “Tôi xin phép quý cấp lãnh đạo cho tôi và chồng tôi, ông Nguyễn Xuân Tụ tức Hà Sĩ Phu, được mời tất cả các luật sư ở mọi nơi có tấm lòng từ thiện, có tấm lòng ngưỡng mộ chồng tôi, tức ông Nguyễn Xuân Tụ, hãy lên tiếng biện hộ cho chồng tôi ông Nguyễn Xuân Tụ Hà Sĩ Phu, một cán bộ nghiên cứu khoa học, một lòng một dạ yêu nhân dân, yêu Tổ Quốc Việt Nam yêu dấu này, luôn luôn trăn trở với nỗi đau của đất nước còn nghèo nàn lạc hậu này. Tôi viết lên lời cầu xin này với những nỗi đau, với những giòng nước mắt không ngừng chảy trên đống sách vở, quần áo, chăn màn, bị mối xông chuột cắn trong căn phòng bé nhỏ 23 mét vuông này qua ngày tháng tôi ở thăm nuôi chồng tôi, gần gũi chồng tôi...”.

Có thể những lời lẽ này hơi bi thương, trong khi đáng lẽ phải là những lời tố cáo phản đối mạnh mẽ trong trường hợp này. Tuy nhiên, chúng ta hãy thông cảm cho tâm trạng của bà khi từ Hà Nội vào Ðà Lạt, bà được nghe hứa hẹn thế nào mà tin rằng chồng bà sắp được trả tự do, nhưng đùng một cái bà nhận được giấy báo Hà Sĩ Phu sẽ bị đưa ra tòa như một tên tội phạm, trong khi bà xa Hà Nội hằng nghìn cây số và thời gian đưa ra xét xử chỉ còn chưa tới 10 ngày. Bà đã viết đơn đề nghị trong hoàn cảnh đó. Nỗi đau của nhân dân Việt Nam mấy mươi năm qua không sao kể xiết và bây giờ, trong lòng của đất nước, nước mắt của những người phụ nữ như bà vẫn tiếp tục đổ xuống để tưới cho đóa hoa ba cánh Ðộc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc sẽ nở ra trong một tương lai còn vô định!

Còn Hà Sĩ Phu, con người nhỏ nhẹ, ôn tồn, dễ mến, trong đời thường, nhưng phóng khoáng, triệt để, cứng cỏi, ngang tàng trong tư tưởng và thái độ đối với những vấn đề lớn của đất nước đã nghĩ gì trong 8 tháng tù đày? Tôi đã nghe được một số thông tin, dĩ nhiên rất hạn chế, về những ngày tháng Hà Sĩ Phu ở trong tù, nhưng cũng chắc chắn rằng mục dích của công an là đánh gục tư tưởng, thái độ của Hà Sĩ Phu, buộc ông phải nhận tội.

Trong lần đầu bà Thanh Biên vào thăm nuôi hôm 28 Tết Bính Tý, khi nhìn thấy vợ, ông cảm động nước mắt tuôn tràn. Nhưng ông đã trấn tĩnh, nói ngay với 2 công an giám sát: “Tôi khóc là vì tôi thương vợ tôi, chứ không phải Hà Sĩ phu khóc đâu nhé, các ông đừng hiểu lầm”. Trong lần thứ hai, gặp vợ sau khi công an điều tra kết luận rằng ông đã có dấu hiệu vi phạm pháp luật, ông nói với vợ: “Giả dụ anh có dấu hiệu vi phạm pháp luật đi nữa thì thời gian giam giữ 8 tháng đã là quá nặng”. Hai công an giám sát đã cắt ngang không cho ông nói tiếp. Mặc dù bị giám sát chặt chẽ trong hai lần vợ được thăm nuôi gặp mặt, Hà Sĩ Phu đều nhờ bà Thanh Biên chuyển lời thăm hỏi và cám ơn tất cả bạn bè xa gần mà ông biết chắc đã hết sức ủng hộ, giúp đỡ ông và gia đình.

Hà Sĩ Phu đã bỏ thuốc lá, nhưng trong tù ông hút trở lại, dĩ nhiên ông phải suy nghĩ rất lao lung và căng thẳng. Ông rèn luyện khí công, một bộ môn ông mới được học cơ bản trước khi bị bắt để giữ cho tấm thân đa bệnh đứng vững trước thử thách.

Hà Sĩ Phu đã nghĩ gì trong 8 tháng qua? Tôi tin rằng ông đã có một thời gian tốt nhất để tiếp tục suy tư về lý thuyết và kiểm nghiệm lại thực tế, chắc chắn ông đã có trong đầu một tác phẩm thứ tư tiếp nối giòng mạch tinh hoa của 3 tác phẩm trước. Nhà tù và những thủ đoạn đàn áp dù tinh vi, cũng không làm thui chột con người yếu đuối về thể chất, nhưng can trường về tinh thần đó được...

Hà Sĩ Phu đã biết về phiên tòa xử Hoàng Minh Chính, Ðỗ Trung Hiếu trước đây, nhất định ông sẽ có một thái độ đúng mực trước phiên toà. Cũng trong đêm 21 tháng 8, Ðài truyền hình Việt Nam thông báo chỉ thị của Thủ tướng chính phủ, từ 22 tháng 8, đình hoãn các phiên họp để tập trung chống lụt bão. Thế nhưng ngày 22 tháng 8, phiên tòa xử Hà Sĩ Phu cùng với Lê Hồng Hà, Nguyễn Kiến Giang vẫn diễn ra. Phải chăng đối với chế độ, 3 nhân vật này còn nguy hiểm hơn bão lụt! Trước phiên tòa, tôi suy nghĩ về 3 khả năng: Thứ nhất là toà tuyên bố vô tội và trả tự do ngay cho 3 bị cáo. Ðây là cách tốt nhất để đảng và nhà nước chứng tỏ sự phục thiện của mình, may ra lấy lại được phần nào niềm tin nơi quần chúng.

Thứ hai là một bản án nhẹ để gọi là giữ thể diện cho nhà nước và thượng tôn pháp luật. Ðây là điều không chấp nhận nhưng có thể hiểu được. Thứ ba là một bản án nặng để trấn áp nhưng người đấu tranh cho Dân Chủ. Ðây sẽ là một tội ác không thể tha thứ. Ðảng và nhà nước không phải cầm quyền mà là cai trị, không phải độc tài mà là độc ác, một hành động đàn áp trắng trợn không gì có thể biện minh được. Trong 3 khả năng, khả năng thứ nhất khó có thể xẩy ra vì tòa án cộng sản hình như không biết tha bổng ai cả. Người cộng sản không biết thật lòng nhận lỗi, cũng như không biết đến khái niệm từ chức khi phạm sai lầm, không biết từ bỏ quyền lực khi không có năng lực lãnh đạo. Hai khả năng sau là một ẩn số tùy thuộc nhiều yếu tố.

Tối 22 tháng 8, cùng với các đài nước ngoài, Ðài truyền hình Việt Nam đã đưa tin về phiên tòa xử Lê Hồng Hà 2 năm tù ở, Hà Sĩ Phu 1 năm tù ở và Nguyễn Kiến Giang 15 tháng tù treo, tội danh là “cố ý tiết lộ bí mật của nhà nước, vi phạm điều 92 bộ Luật Hình Sự”! Tính cách mập mờ không nói rõ “bí mật” gì, chỉ nói cơ quan thẩm quyền xác định đó là một tài liệu tối mật. Các đài phát thanh nước ngoài như BBC, VOA, RFI... cho biết một số chi tiết rõ hơn về phiên tòa dù phóng viên của họ không được dự. Thế đấy! Còn Ðài truyền hìnhViệt Nam có phóng viên đến quay phim tại chỗ thì chỉ đưa ra một bản tin viết sẵn theo kiểu công thức theo ý của nhà nước để người nghe không hiểu được thực chất của vấn đề! Ðó lá một thể hiện đặc sắc của quyền được thông tin của tự do báo chí ở Việt Nam.

Qua các đài phát thanh nước ngoài, người ta nghe được biết thêm tài liệu bí mật là lá thư của ông Võ Văn Kiệt viết ngày 9 tháng 8 năm 95, góp ý với Bộ Chính Trị về dự thảo Cương Lĩnh chuẩn bị đại hội 8. Tài liệu này do ông Hà Sĩ Phu lấy từ ông Nguyễn Kiến Giang, và ông Nguyễn Kiến Giang lấy từ ông Lê Hồng Hà. Trong phiên tòa, cả 3 bị can đều khẳng định mình vô tội. Với những dữ kiện trên, ta thấy chung quanh vụ án nổi lên một số vấn đề. Ba nhân vật bị cáo đã từng lên tiếng phê phán đường lối của đảng và nhà nước đòi tự do dân chủ, đảng và nhà nước đã dùng nhiều cách truy bức trấn áp họ, nhưng khi đưa ra tòa lại lờ đi vấn đề này và chỉ cố quy họ vào tội hình sự. Tài liệu gọi là “bí mật” này của đảng, không phải của nhà nước và các bị cáo chỉ là người sao chụp phổ biến chứ không phải là người tiết lộ. Người đầu tiên tiết lộ phải là người có trách nhiệm quản lý lưu trữ tài liệu này là ai không thấy nói đến! Ông Lê Hồng Hà, người đầu tiên có tài liệu, đã được dùng làm chứng cứ cho phiên tòa, không phải là người có trách nhiệm này vì ông đã về hưu. Trong thời điểm ông Hà Sĩ Phu bị bắt ở Hà Nội vào đầu tháng 12 năm 96 về tội bị gọi là “chiếm đoạt tài liệu bí mật của nhà nước”! Tài liệu đó đã được phổ biến rộng rãi ở các nơi khác trong nước và hải ngoại, như thế dựa vào chính cái lý của nhà nước đưa ra và dựa vào pháp luật của nhà nước, các bản án là hoàn toàn vô lý vì cả 3 bị can không ai cố ý tiết lộ bí mật của nhà nước. Ðó là một tòa án không có công lý ngay chính cái gọi là công lý của tòa án!

Phân tích sâu hơn và suy diễn rộng hơn sự việc trong bối cảnh của tình hình, ta thấy nổi lên một số vấn đề khác. Việc bắt bớ, xét xử liên quan đến cuộc đấu đá tranh giành quyền lực giữa các phe phái trước đại hội 8 và chính sách đàn áp Tự Do, Dân Chủ thường trực của nhà cầm quyền, trong đó lá thư của ông Võ Văn Kiệt là một dữ kiện trung tâm.

Lá thư của ông Võ Văn Kiệt đề cập đến một số vấn đề lớn về đường lối của đảng và tình hình đất nước. Những vấn đề này không phải là bí mật riêng của Bộ Chính Trị mà là vấn đề nhân dân đều quan tâm và có thể bàn thảo. Bộ Chính Trị không phải là một đảng MAFIA. Bộ Chính Trị không thể coi vấn đề đất nước là của riêng mình. Ở các nước tự do, dân chủ khác, các ứng cử viên Tổng Thống công khai tranh luận với nhau trên truyền hình về những vấn đề của đất nước. Không có gì gọi là bí mật cả!

Qua chuyện này, người ta thấy rõ hơn việc tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Kêu gọi toàn dân góp ý cho đảng chỉ là khẩu hiệu suông. Vì một lý do nào đó, người đầu tiên thực sự tiết lộ lá thư tài liệu tối mật này là ai không được nói rõ và không bị truy cứu! Bản án tuy không nặng so với các vụ án trước đây, trừ vụ Hoàng Minh Chính, Ðỗ Trung Hiếu, nhưng vẫn có tính cách răn đe, trấn áp nhiều đối tượng. Răn đe cán bộ đảng viên của đảng đừng theo gương Lê Hồng Hà, Nguyễn Trung Thành. Cán bộ đảng viên cao cấp khi cần vẫn bị trừng trị, răn đe. Các trí thức cấp tiến, những người đấu tranh cho dân chủ, đừng ủng hộ, tiếp nối việc làm của Hà Sĩ Phu, Nguyễn Kiến Giang, vì nhà tù sẽ chờ họ. Răn đe cả Thủ tướng Võ Văn Kiệt, vì những người phổ biến quan điểm của ông bị xử lý và bản thân ông cũng phải dè chừng.

Như thế, toàn thể dự án nằm trong một bối cảnh phức tạp, đan cài nhiều mối liên hệ, nhiều sự chi phối và dẫn đến một phiên tòa gượng ép, lố bịch, lúng túng. Từ đó, ta có thể rút ra một số nhận định: Ðảng và nhà nước không còn dám công khai trấn áp những người đấu tranh cho dân chủ vì tư tưởng và chính kiến của họ. Ðây là một bước tiến và thắng lợi của dân chủ. Bản án không làm người ta lo sợ vì những người đấu tranh cho dân chủ và nhân dân có thể đi đến một kết luận đơn giản : đảng và nhà nước cũng chỉ có thể làm đến thế là cùng! Sự tranh chấp giữa các phe phái đang ở thế cân bằng. Bản án là một sự dung hòa, thỏa hiệp tạm thời, nếu không hoặc bản án sẽ rất nặng hoặc sẽ không có phiên tòa.

Trở lại với “Hà Sĩ Phu và cuộc hành trình gian nan của dân tộc”. Tôi muốn đưa ra đôi điều suy nghĩ cá nhân về Hà Sĩ Phu, mà qua câu chuyện bạn bè nhiều lần trao đổi. Tôi nghĩ tôi hiểu về ông, ngoài những điều ông đã viết trong tác phẩm. Hà Sĩ Phu là người có trí tuệ, lý luận sắc bén, quan niệm tự do và phóng khoáng, triệt để trong tư tưởng, cứng cỏi trong thái độ, và dứt khoát lựa chọn con đường đấu tranh cho dân chủ. Tuy nhiên, ông còn nhiều băn khoăn trước mấy vấn đề lớn:

- Thứ nhất là thái độ né tránh, chờ thời, gió chiều nào che chiều ấy, phù thịnh chứ không phù suy, tính chất cơ hội và duy lợi của không ít trí thức, đặc biệt là số trí thức còn gắn với bộ máy nhà nước.

- Thứ hai là ý thức và khả năng phản kháng của đông đảo nhân dân trong những tình huống chín mùi có đáp ứng được yêu cầu của tình thế không? Dù ông vẫn tin rằng vấn đề nâng cao nhận thức của quần chúng là vấn đề cơ bản của mọi chuyển biến của tình hình, mọi cuộc cách mạng.

- Thứ ba là khả năng thích nghi với tình thế để tồn tại của những người Cộng Sản Việt Nam, nhất là tính khôn vặt, lưu manh, thủ doạn và hiểm độc của một số người lãnh đạo cấp cao. Ðây là những hiện tượng đồng thời cũng là vấn nạn của những người đang ưu tư về công cuộc cho dân chủ.

Ðâu là bản chất của sự vận động lịch sử hiện nay? Chúng ta nên bi quan hay lạc quan? Tôi nghĩ trong cuộc hành trình gian nan về tương lai của dân tộc, không chỉ một ai có thể hoàn toàn quyết định bước đi của lịch sử. Tình hình tùy thuộc nhiều yếu tố nội tại và ngoại tại. Nhiều cuộc vận động tự thân của các thành phần dân tộc, nhiều cuộc đấu tranh giằng co giữa các thế lực hiện đã lên đến cao điểm, và cuối cùng nhân dân sẽ biết lên đi con đường nào.

Cuộc hành trình lắm gian nan nhưng không phải như chiếc xe lửa trên đường rầy cố định, mà trái lại, có tìm kiếm, lựa chọn không ngừng. Trong cuộc hành trình đó, có những người tiên phong. Những người tiên phong, tuy chịu nhiều hy sinh, nhưng không bao giờ cô độc, không bao giờ vô ích. Hà Sĩ Phu là một trong những người đó. Mong rằng khi ra tù, Hà Sĩ Phu vẫn lại có mặt ở vị trí hàng đầu và tìm được những lý giải sáng suốt cho những vấn nạn đang đặt ra.

09/1996
Tiêu Dao Bảo Cự