|
Hà Sĩ Phu và cuộc hành
trình gian nan của dân tộc Tối
21 tháng 8 năm 96, ngay đầu chương trình thời sự Ðài truyền hình Việt
Nam thông báo tình hình mực nước hệ thống sông Hồng và sông Thái
Bình dâng lên ở trên mức báo động cấp 3 và chiếu cảnh dân chúng
ven đê chuẩn bị chạy lụt. Mấy phút sau, đài thông báo tiếp công
điện khẩn kêu gọi các tỉnh từ Thừa Thiên - Huế trở ra chuẩn bị
phòng chống cơn bão số 4 rất mạnh đang di chuyển nhanh về phiá bờ
biển. Ðó là những thiên tai đang đe dọa đất nước khốn khổ này. Nhưng
có bao nhiêu người biết rằng ngày mai, 22 tháng 8 năm 96, nếu không
có gì thay đổi theo thông báo chính thức của tòa án nhân dân Hà
Nội, sẽ là ngày đưa Hà Sĩ Phu ra xét xử. Ðó phải chăng cũng sẽ là
một tai họa do chính chế độ này gây ra! Thế
mà thấm thoát đã hơn 8 tháng, tính từ ngày 5 tháng 12 năm 95, Hà Sĩ
Phu bị đưa vào tù với tội danh kỳ quặc “chiếm đoạt tài liệu bí mật
của nhà nước”. Trước đó, Hà Sĩ Phu đã được coi như một biểu tượng
của trí tuệ và tự do tư tưởng. Mặc cho mọi sự đe dọa, trong vòng vài
năm, ông liên tiếp công bố 3 tiểu luận ngắn nhưng đầy sức nặng về
tính thuyết phục, phân tích tình hình đất nước và kêu gọi sự cáo
chung của chế độ Cộng Sản Việt Nam (CSVN). Ba tiểu luận: “Dắt Tay Nhau
Ði Dưới Những Tấm Biểu Chỉ Ðường Của Trí Tuệ”, “Ðôi Ðiều Suy Nghĩ Của
Một Công Dân” và “Chia Tay Ý Thức Hệ”. Ngay
sau khi Hà Sĩ Phu bị bắt, tin tức được thông báo nhanh chóng. Dư luận
trong và ngoài nước đã cực lực lên án việc làm sai trái này của
nhà cầm quyền. Trong nước, những người bạn gần gũi nhất của Hà Sĩ
Phu đã chính thức lên tiếng phản đối hoặc bằng văn bản, hoặc trả
lời phỏng vấn của đài, báo nước ngoài. Nhiều tổ chức chính trị, xã
hội, nhân đạo, báo chí, nhiều trí thức cấp tiến và những người
ngưỡng mộ Hà Sĩ Phu ở nước ngoài ở Pháp, Mỹ, Canada, Ðức, Úc, Hoà
Lan... đã có những hoạt động rầm rộ để ủng hộ Hà Sĩ Phu và phê
phán nhà cầm quyền Việt Nam. Tác
phẩm của Hà Sĩ Phu được in và phát hành rộng rãi; những phần quan
trọng được dịch ra nhiều thứ tiếng. Nhiều cuộc họp được tổ chức, kể
cả các cuộc xuống đường biểu tình yêu cầu trả tự do cho Hà Sĩ Phu.
Dân biểu Hạ viện Cộng Hòa Pháp Christian Vanneste, Chủ tịch Ủy ban
Người Pháp Cho Dân Chủ tại Việt Nam, từ tháng 3/96, đã phát động
tại Pháp một chiến dịch đòi trả tự do tức khắc cho Hà Sĩ Phu và can
thiệp với Bộ Ngoại Giao Pháp để làm áp lực lên chính quyền Việt
Nam, yêu cầu trả tự do cho Hà Sĩ Phu trong thời gian ngắn nhất. Việc
bắt Hà Sĩ Phu càng làm cho Hà Sĩ Phu thêm nổi tiếng. Tư tưởng của
ông được phổ biến rộng, chính sách đàn áp tự do tư tưởng, tự do dân
chủ nói chung và vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền Việt Nam càng
bộc lộ rõ. Bạn bè, những người ngưỡng mộ Hà Sĩ Phu khắp nơi trong
và ngoài nước cũng đã có những hành động ủng hộ tinh thần cho bà
Ðặng Thị Thanh Biên, vợ của Hà Sĩ Phu, trong lúc khó khăn sóng gió
nhất. Riêng
chính sách đàn áp của nhà cầm quyền Việt Nam không phải không có
hiệu quả. Một số trí thức tốt có tâm, có lòng với đất nước trước
trường hợp Hà Sĩ Phu đã thú nhận bất lực không dám có hành động gì
cụ thể. Một số không muốn hay không dám nhận những tài liệu liên
quan đến Hà Sĩ Phu do bà Thanh Biên đưa cho, một số xa lánh hay im lặng
không nhắc nhở hay tỏ thái độ vì sợ liên quan. Sức ép nặng nề này
lên tâm lý của trí thức trong nước có kết quả nhất định, đồng thời
cũng là sai lầm lớn của nhà cầm quyền khi trí thức tê liệt óc sáng
tạo và lòng phản kháng chính trực. Ðó cũng là dấu hiệu đất nước đi
vào suy vong, dù nhà cầm quyền độc tài có thể tồn tại trong thời
gian nào đó. Lẽ
dĩ nhiên, người lo lắng và chịu nhiều đau buồn nhất trong việc Hà Sĩ
Phu bị bắt là vợ ông, bà Ðặng Thị Thanh Biên. Sau khi nhà ở Ðà Lạt
bị khám xét và bị gọi lên Sở công an Lâm Ðồng nhiều lần. Lúc được
chính thức thông báo chồng bà bị bắt giam ở Hà Nội, bà đã thu xếp
nhà cửa để ra Hà Nội thăm nuôi và đòi trả tự do cho chồng. Tuy
bước đầu được một số bạn bè và một số gia đình giúp đỡ nơi ăn ở,
chỉ dẫn đường đi nước bước, nhưng càng về sau càng khó khăn hơn. Trong
tình hình chính trị hiện nay, để một người có chồng đang bị giam vì lý
do chính trị ở trong nhà không phải là điều dễ dàng. Trong 8 tháng
qua, bà Thanh Biên đã di chuyển chỗ ở hơn 5 lần. Ðáng buồn thay, ngay
trong gia đình và những người hàng xóm, tuy không biết gì về việc làm
của Hà Sĩ Phu, nhưng có người thấy ông bị bắt và nghe tuyên truyền,
cũng cho ông là “phản động”. Ngoài nỗi đau chồng đang bị giam cầm,
vốn sống ở miền Bắc từ thủa nhỏ, không có gì làm bà đau xót hơn
về điều này. Trong
chế độ cộng sản, ngày xưa, phản động là một từ, một cái mũ thật
khủng khiếp đối với những ai bị gán cho. Tuy nhiên, ngày nay, không
phải chỉ có nhà cầm quyền kết án người dân là phản động, mà người
dân cũng có thể kết án nhà cầm quyền là phản động, đi ngược lại
quyền lợi của nhân dân, của đất nước, đi ngược lại trào lưu tiến
hóa của lịch sử. Ðó mới thật là phản động! Khác
với chồng là một nhà tư tưởng, một cây bút chính luận và châm biếm
xuất sắc, bà Thanh Biên vốn không quen chuyện viết lách, tuy thế bà
đã phải viết gần chục đơn đề nghị gửi các ngành các cấp về trường
hợp của chồng. Ðơn từ bà kể lể dài dòng và có thể bà không hiểu
hết tư tưởng của Hà Sĩ Phu, nhưng bà luôn đoan chắc chồng bà không
làm gì sai trái, chồng bà luôn vì dân vì nước đó là điều khẳng định
xuyên suốt trong tất cả các đơn từ. Sau này chắc chắn Hà Sĩ Phu sẽ
được an ủi rất nhiều khi biết được điều này. Ngoài những giòng thư
vắn tắt và những món đồ thăm nuôi mà bà đã gửi vào cho chồng qua
sự kiểm duyệt của công an, bà không sao gói ghém hết lòng thương
nhớ và ân tình của người vợ đối với chồng trong cơn hoạn nạn. Trong
8 tháng với hai lần được vào thăm gặp mặt chồng mỗi lần nửa giờ
với sự chứng kiến và giám sát của 2 công an, dĩ nhiên bà không thể
nói hết những điều gì cần nói. Trước lần vào thăm thứ hai, ngày 19
tháng 7 năm 96, bà đã được công an Hà Nội gọi lên buộc phải làm
bản tường trình mọi việc, mọi hoạt động và tiếp xúc liên lạc của
bà với bất cứ ai từ khi Hà Sĩ Phu bị bắt, đồng thời yêu cầu bà
phải báo cáo ngay với công an những ai tìm cách móc nối liên lạc,
giúp đỡ, nhất là người nước ngoài. Dĩ nhiên bà không làm theo yêu
cầu này, dù bà phải khai báo cho qua chuyện để được vào gặp chồng.
Sau lần gặp thăm đó, công an cũng có khuyên bà “nếu Hà Sĩ Phu bị đưa
ra toà, không nên thuê luật sư làm gì phiền phức và nếu cần, các cơ
quan nhà nước chức năng sẽ giới thiệu luật sư cho bà”! Ít
lâu sau có việc cần về Ðà Lạt để giải quyết một vài chuyện riêng,
bà trình bày với công an, công an đồng ý và khuyến khích bà nên đi. Vừa
vào Ðà Lạt vài ngày, ngày 12 tháng 8 năm 96, bà nhận được giấy báo
của tòa án nhân dân Hà Nội, ký ngày 8 tháng 8 năm 96, cho biết sẽ
đưa Hà Sĩ Phu ra xử vào ngày 22 tháng 8 năm 96. Bà chỉ kịp gửi một đơn
đề nghị trước khi thu xếp cấp tốc bay ra Hà Nội để lo các thủ tục
trong việc Hà Sĩ Phu bị đưa ra xét xử. Thật là một thủ đoạn không
lấy gì làm hay ho của một nhà nước hùng mạnh đối với một phụ nữ
thân cô thế khô như bà. Trong đơn đề nghị cuối cùng trước phiên toà
bà viết: “Tôi xin phép quý cấp lãnh đạo cho tôi và chồng tôi, ông
Nguyễn Xuân Tụ tức Hà Sĩ Phu, được mời tất cả các luật sư ở mọi
nơi có tấm lòng từ thiện, có tấm lòng ngưỡng mộ chồng tôi, tức
ông Nguyễn Xuân Tụ, hãy lên tiếng biện hộ cho chồng tôi ông Nguyễn
Xuân Tụ Hà Sĩ Phu, một cán bộ nghiên cứu khoa học, một lòng một dạ
yêu nhân dân, yêu Tổ Quốc Việt Nam yêu dấu này, luôn luôn trăn trở
với nỗi đau của đất nước còn nghèo nàn lạc hậu này. Tôi viết
lên lời cầu xin này với những nỗi đau, với những giòng nước mắt
không ngừng chảy trên đống sách vở, quần áo, chăn màn, bị mối xông
chuột cắn trong căn phòng bé nhỏ 23 mét vuông này qua ngày tháng
tôi ở thăm nuôi chồng tôi, gần gũi chồng tôi...”. Có
thể những lời lẽ này hơi bi thương, trong khi đáng lẽ phải là những
lời tố cáo phản đối mạnh mẽ trong trường hợp này. Tuy nhiên, chúng
ta hãy thông cảm cho tâm trạng của bà khi từ Hà Nội vào Ðà Lạt,
bà được nghe hứa hẹn thế nào mà tin rằng chồng bà sắp được trả tự
do, nhưng đùng một cái bà nhận được giấy báo Hà Sĩ Phu sẽ bị đưa ra tòa
như một tên tội phạm, trong khi bà xa Hà Nội hằng nghìn cây số và
thời gian đưa ra xét xử chỉ còn chưa tới 10 ngày. Bà đã viết đơn đề
nghị trong hoàn cảnh đó. Nỗi đau của nhân dân Việt Nam mấy mươi năm
qua không sao kể xiết và bây giờ, trong lòng của đất nước, nước mắt
của những người phụ nữ như bà vẫn tiếp tục đổ xuống để tưới cho
đóa hoa ba cánh Ðộc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc sẽ nở ra trong một tương
lai còn vô định! Còn
Hà Sĩ Phu, con người nhỏ nhẹ, ôn tồn, dễ mến, trong đời thường, nhưng
phóng khoáng, triệt để, cứng cỏi, ngang tàng trong tư tưởng và thái
độ đối với những vấn đề lớn của đất nước đã nghĩ gì trong 8 tháng
tù đày? Tôi đã nghe được một số thông tin, dĩ nhiên rất hạn chế,
về những ngày tháng Hà Sĩ Phu ở trong tù, nhưng cũng chắc chắn rằng
mục dích của công an là đánh gục tư tưởng, thái độ của Hà Sĩ Phu,
buộc ông phải nhận tội. Trong
lần đầu bà Thanh Biên vào thăm nuôi hôm 28 Tết Bính Tý, khi nhìn
thấy vợ, ông cảm động nước mắt tuôn tràn. Nhưng ông đã trấn tĩnh,
nói ngay với 2 công an giám sát: “Tôi khóc là vì tôi thương vợ tôi,
chứ không phải Hà Sĩ phu khóc đâu nhé, các ông đừng hiểu lầm”. Trong
lần thứ hai, gặp vợ sau khi công an điều tra kết luận rằng ông đã
có dấu hiệu vi phạm pháp luật, ông nói với vợ: “Giả dụ anh có dấu
hiệu vi phạm pháp luật đi nữa thì thời gian giam giữ 8 tháng đã là
quá nặng”. Hai công an giám sát đã cắt ngang không cho ông nói tiếp.
Mặc dù bị giám sát chặt chẽ trong hai lần vợ được thăm nuôi gặp
mặt, Hà Sĩ Phu đều nhờ bà Thanh Biên chuyển lời thăm hỏi và cám ơn
tất cả bạn bè xa gần mà ông biết chắc đã hết sức ủng hộ, giúp
đỡ ông và gia đình. Hà
Sĩ Phu đã bỏ thuốc lá, nhưng trong tù ông hút trở lại, dĩ nhiên ông
phải suy nghĩ rất lao lung và căng thẳng. Ông rèn luyện khí công, một
bộ môn ông mới được học cơ bản trước khi bị bắt để giữ cho tấm
thân đa bệnh đứng vững trước thử thách. Hà
Sĩ Phu đã nghĩ gì trong 8 tháng qua? Tôi tin rằng ông đã có một thời
gian tốt nhất để tiếp tục suy tư về lý thuyết và kiểm nghiệm lại
thực tế, chắc chắn ông đã có trong đầu một tác phẩm thứ tư tiếp
nối giòng mạch tinh hoa của 3 tác phẩm trước. Nhà tù và những thủ
đoạn đàn áp dù tinh vi, cũng không làm thui chột con người yếu đuối
về thể chất, nhưng can trường về tinh thần đó được... Hà
Sĩ Phu đã biết về phiên tòa xử Hoàng Minh Chính, Ðỗ Trung Hiếu trước
đây, nhất định ông sẽ có một thái độ đúng mực trước phiên toà.
Cũng trong đêm 21 tháng 8, Ðài truyền hình Việt Nam thông báo chỉ thị
của Thủ tướng chính phủ, từ 22 tháng 8, đình hoãn các phiên họp để
tập trung chống lụt bão. Thế nhưng ngày 22 tháng 8, phiên tòa xử Hà
Sĩ Phu cùng với Lê Hồng Hà, Nguyễn Kiến Giang vẫn diễn ra. Phải
chăng đối với chế độ, 3 nhân vật này còn nguy hiểm hơn bão lụt!
Trước phiên tòa, tôi suy nghĩ về 3 khả năng: Thứ nhất là toà tuyên
bố vô tội và trả tự do ngay cho 3 bị cáo. Ðây là cách tốt nhất để
đảng và nhà nước chứng tỏ sự phục thiện của mình, may ra lấy lại
được phần nào niềm tin nơi quần chúng. Thứ
hai là một bản án nhẹ để gọi là giữ thể diện cho nhà nước và
thượng tôn pháp luật. Ðây là điều không chấp nhận nhưng có thể
hiểu được. Thứ ba là một bản án nặng để trấn áp nhưng người đấu
tranh cho Dân Chủ. Ðây sẽ là một tội ác không thể tha thứ. Ðảng và
nhà nước không phải cầm quyền mà là cai trị, không phải độc tài mà
là độc ác, một hành động đàn áp trắng trợn không gì có thể biện
minh được. Trong 3 khả năng, khả năng thứ nhất khó có thể xẩy ra vì
tòa án cộng sản hình như không biết tha bổng ai cả. Người cộng sản
không biết thật lòng nhận lỗi, cũng như không biết đến khái niệm
từ chức khi phạm sai lầm, không biết từ bỏ quyền lực khi không có
năng lực lãnh đạo. Hai khả năng sau là một ẩn số tùy thuộc nhiều
yếu tố. Tối
22 tháng 8, cùng với các đài nước ngoài, Ðài truyền hình Việt Nam đã
đưa tin về phiên tòa xử Lê Hồng Hà 2 năm tù ở, Hà Sĩ Phu 1 năm tù
ở và Nguyễn Kiến Giang 15 tháng tù treo, tội danh là “cố ý tiết lộ
bí mật của nhà nước, vi phạm điều 92 bộ Luật Hình Sự”! Tính cách mập
mờ không nói rõ “bí mật” gì, chỉ nói cơ quan thẩm quyền xác định đó
là một tài liệu tối mật. Các đài phát thanh nước ngoài như BBC, VOA,
RFI... cho biết một số chi tiết rõ hơn về phiên tòa dù phóng viên
của họ không được dự. Thế đấy! Còn Ðài truyền hìnhViệt Nam có
phóng viên đến quay phim tại chỗ thì chỉ đưa ra một bản tin viết sẵn
theo kiểu công thức theo ý của nhà nước để người nghe không hiểu
được thực chất của vấn đề! Ðó lá một thể hiện đặc sắc của quyền
được thông tin của tự do báo chí ở Việt Nam. Qua
các đài phát thanh nước ngoài, người ta nghe được biết thêm tài liệu
bí mật là lá thư của ông Võ Văn Kiệt viết ngày 9 tháng 8 năm 95,
góp ý với Bộ Chính Trị về dự thảo Cương Lĩnh chuẩn bị đại hội 8. Tài
liệu này do ông Hà Sĩ Phu lấy từ ông Nguyễn Kiến Giang, và ông
Nguyễn Kiến Giang lấy từ ông Lê Hồng Hà. Trong phiên tòa, cả 3 bị
can đều khẳng định mình vô tội. Với những dữ kiện trên, ta thấy chung
quanh vụ án nổi lên một số vấn đề. Ba nhân vật bị cáo đã từng lên
tiếng phê phán đường lối của đảng và nhà nước đòi tự do dân chủ,
đảng và nhà nước đã dùng nhiều cách truy bức trấn áp họ, nhưng khi
đưa ra tòa lại lờ đi vấn đề này và chỉ cố quy họ vào tội hình sự. Tài
liệu gọi là “bí mật” này của đảng, không phải của nhà nước và các
bị cáo chỉ là người sao chụp phổ biến chứ không phải là người tiết
lộ. Người đầu tiên tiết lộ phải là người có trách nhiệm quản lý
lưu trữ tài liệu này là ai không thấy nói đến! Ông Lê Hồng Hà,
người đầu tiên có tài liệu, đã được dùng làm chứng cứ cho phiên
tòa, không phải là người có trách nhiệm này vì ông đã về hưu. Trong
thời điểm ông Hà Sĩ Phu bị bắt ở Hà Nội vào đầu tháng 12 năm 96 về
tội bị gọi là “chiếm đoạt tài liệu bí mật của nhà nước”! Tài liệu
đó đã được phổ biến rộng rãi ở các nơi khác trong nước và hải
ngoại, như thế dựa vào chính cái lý của nhà nước đưa ra và dựa vào
pháp luật của nhà nước, các bản án là hoàn toàn vô lý vì cả 3 bị
can không ai cố ý tiết lộ bí mật của nhà nước. Ðó là một tòa án
không có công lý ngay chính cái gọi là công lý của tòa án! Phân
tích sâu hơn và suy diễn rộng hơn sự việc trong bối cảnh của tình
hình, ta thấy nổi lên một số vấn đề khác. Việc bắt bớ, xét xử
liên quan đến cuộc đấu đá tranh giành quyền lực giữa các phe phái
trước đại hội 8 và chính sách đàn áp Tự Do, Dân Chủ thường trực
của nhà cầm quyền, trong đó lá thư của ông Võ Văn Kiệt là một dữ
kiện trung tâm. Lá
thư của ông Võ Văn Kiệt đề cập đến một số vấn đề lớn về đường
lối của đảng và tình hình đất nước. Những vấn đề này không phải là
bí mật riêng của Bộ Chính Trị mà là vấn đề nhân dân đều quan tâm
và có thể bàn thảo. Bộ Chính Trị không phải là một đảng MAFIA. Bộ
Chính Trị không thể coi vấn đề đất nước là của riêng mình. Ở các
nước tự do, dân chủ khác, các ứng cử viên Tổng Thống công khai
tranh luận với nhau trên truyền hình về những vấn đề của đất nước.
Không có gì gọi là bí mật cả! Qua
chuyện này, người ta thấy rõ hơn việc tôn trọng quyền làm chủ của
nhân dân. Kêu gọi toàn dân góp ý cho đảng chỉ là khẩu hiệu suông.
Vì một lý do nào đó, người đầu tiên thực sự tiết lộ lá thư tài
liệu tối mật này là ai không được nói rõ và không bị truy cứu! Bản
án tuy không nặng so với các vụ án trước đây, trừ vụ Hoàng Minh
Chính, Ðỗ Trung Hiếu, nhưng vẫn có tính cách răn đe, trấn áp nhiều
đối tượng. Răn đe cán bộ đảng viên của đảng đừng theo gương Lê Hồng
Hà, Nguyễn Trung Thành. Cán bộ đảng viên cao cấp khi cần vẫn bị
trừng trị, răn đe. Các trí thức cấp tiến, những người đấu tranh cho
dân chủ, đừng ủng hộ, tiếp nối việc làm của Hà Sĩ Phu, Nguyễn Kiến
Giang, vì nhà tù sẽ chờ họ. Răn đe cả Thủ tướng Võ Văn Kiệt, vì
những người phổ biến quan điểm của ông bị xử lý và bản thân ông
cũng phải dè chừng. Như
thế, toàn thể dự án nằm trong một bối cảnh phức tạp, đan cài nhiều
mối liên hệ, nhiều sự chi phối và dẫn đến một phiên tòa gượng ép,
lố bịch, lúng túng. Từ đó, ta có thể rút ra một số nhận định: Ðảng
và nhà nước không còn dám công khai trấn áp những người đấu tranh
cho dân chủ vì tư tưởng và chính kiến của họ. Ðây là một bước tiến
và thắng lợi của dân chủ. Bản án không làm người ta lo sợ vì những
người đấu tranh cho dân chủ và nhân dân có thể đi đến một kết luận
đơn giản : đảng và nhà nước cũng chỉ có thể làm đến thế là cùng!
Sự tranh chấp giữa các phe phái đang ở thế cân bằng. Bản án là một
sự dung hòa, thỏa hiệp tạm thời, nếu không hoặc bản án sẽ rất
nặng hoặc sẽ không có phiên tòa. Trở
lại với “Hà Sĩ Phu và cuộc hành trình gian nan của dân tộc”. Tôi
muốn đưa ra đôi điều suy nghĩ cá nhân về Hà Sĩ Phu, mà qua câu chuyện
bạn bè nhiều lần trao đổi. Tôi nghĩ tôi hiểu về ông, ngoài những
điều ông đã viết trong tác phẩm. Hà Sĩ Phu là người có trí tuệ, lý
luận sắc bén, quan niệm tự do và phóng khoáng, triệt để trong tư
tưởng, cứng cỏi trong thái độ, và dứt khoát lựa chọn con đường đấu
tranh cho dân chủ. Tuy nhiên, ông còn nhiều băn khoăn trước mấy vấn
đề lớn: -
Thứ nhất là thái độ né tránh, chờ thời, gió chiều nào che chiều
ấy, phù thịnh chứ không phù suy, tính chất cơ hội và duy lợi của
không ít trí thức, đặc biệt là số trí thức còn gắn với bộ máy nhà
nước. -
Thứ hai là ý thức và khả năng phản kháng của đông đảo nhân dân
trong những tình huống chín mùi có đáp ứng được yêu cầu của tình thế
không? Dù ông vẫn tin rằng vấn đề nâng cao nhận thức của quần
chúng là vấn đề cơ bản của mọi chuyển biến của tình hình, mọi cuộc
cách mạng. -
Thứ ba là khả năng thích nghi với tình thế để tồn tại của những
người Cộng Sản Việt Nam, nhất là tính khôn vặt, lưu manh, thủ doạn
và hiểm độc của một số người lãnh đạo cấp cao. Ðây là những hiện
tượng đồng thời cũng là vấn nạn của những người đang ưu tư về công
cuộc cho dân chủ. Ðâu
là bản chất của sự vận động lịch sử hiện nay? Chúng ta nên bi quan
hay lạc quan? Tôi nghĩ trong cuộc hành trình gian nan về tương lai của
dân tộc, không chỉ một ai có thể hoàn toàn quyết định bước đi của
lịch sử. Tình hình tùy thuộc nhiều yếu tố nội tại và ngoại tại.
Nhiều cuộc vận động tự thân của các thành phần dân tộc, nhiều
cuộc đấu tranh giằng co giữa các thế lực hiện đã lên đến cao điểm,
và cuối cùng nhân dân sẽ biết lên đi con đường nào. Cuộc
hành trình lắm gian nan nhưng không phải như chiếc xe lửa trên đường
rầy cố định, mà trái lại, có tìm kiếm, lựa chọn không ngừng. Trong
cuộc hành trình đó, có những người tiên phong. Những người tiên
phong, tuy chịu nhiều hy sinh, nhưng không bao giờ cô độc, không bao giờ
vô ích. Hà Sĩ Phu là một trong những người đó. Mong rằng khi ra tù,
Hà Sĩ Phu vẫn lại có mặt ở vị trí hàng đầu và tìm được những lý
giải sáng suốt cho những vấn nạn đang đặt ra. 09/1996 |