Thông điệp
hướng về thế kỷ XXI
của Hòa
Thượng Thích Huyền Quang,
xử lý Thường
Vụ Viện Tăng Thống GHPGVNTN
Thế giới đang
chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ XXI, khép lại hai thiên niên kỷ
đầy ấn tượng và biến động do chính con người gây nên trong chuỗi dài
tiến hóa của loài người. Ðó là hai thiên niên kỷ mà mốc thời gian
phần lớn được đánh dấu bằng những cuộc chinh phục và chinh phạt.
Quốc gia chinh phục và thống trị các quốc gia. Dân tộc chinh phạt và
nô dịch các dân tộc. Văn minh hủy diệt các văn minh. Tôn giáo bức
hại các tôn giáo. Ðó là hai thiên niên kỷ mà những tham vọng vô
minh, vị kỷ của con người đã nhân danh chân lý mặc khải, đặt ra
những giá trị thần quyền làm chuẩn mực cho sự sống, đồng thời thiết
lập chế độ nô lệ và những tòa án dị giáo, tạo nên sự phân chia
giai cấp trầm trọng trong xã hội và hợp lý hóa những áp bức bất
công bạo ngược của con người đối với con người. Máu xương và những
khổ đau trầm thống khốc liệt của những kẻ bị tước đoạt phẩm giá và
quyền làm người đã bồi đắp cho một nền văn minh vật chất hào
nhoáng với những công trình vĩ đại, những kiến trúc hoành tráng,
những cái được gọi là di tích lịch sử, được chiêm ngưỡng và thán
phục như là những biểu hiện cụ thể tài năng sáng tạo của con
người. Trong hai thiên niên kỷ đó, con người càng lúc càng trưởng
thành, càng khám phá thêm những sự thật, và rồi sự thật sau thay
thế cho sự thật trước; mà những khám phá mới mẽ nhất của con người
càng lúc càng gần gũi hơn đối với các nguyên lý của Phật Giáo đã
từng có mặt năm trăm năm trước hai thiên niên kỷ này. Về mặt vũ
trụ quan, cái nhìn của con người cũng thay đổi. Thiên nhiên, từ hình
ảnh là hợp thể của những hạt nguyên tử đặc cứng, cuối cùng xuất
hiện như là giả tượng của những gói năng lượng không định hình, tồn
tại như dòng thác của những hạt giống liên tục chảy xiết nhưng
không hề trôi chảy vì chúng xuất hiện và biến mất trong từng khoảng
khắc sát na tâm. Trái đất không còn là một khối vật thể duy nhất
trong vũ trụ được sáng tạo từ hư vô để tôn vinh quyền năng siêu
việt của Ðấng Tạo Hóa, mà chỉ là khối ngưng kết nhất thời trong chu
kỳ vô tận thành - trụ - hoại - không theo quy luật tương quan duyên
khởi. Chân lý mặc khải, đã từng được bảo vệ bằng quyền lực và
bạo lực, nay chỉ còn là những giá trị ước lệ. Về mặt nhân sinh quan,
cùng lúc với sự bành trướng của các thế lực đế quốc và thực dân,
tầm nhìn về thế giới và con người của một bộ phận trí thức mà một
thời đã đem hết tài năng trí tuệ của mình biện giải cho đặc quyền
thiên khải, nay được mở rộng, do sự giao tiếp với nhiều nền văn minh
khác nhau. Giá trị nhân bản với những tính cách đặc thù và phổ quát
của nó ngày càng được xác lập. Không phải là thiên mệnh, hay thiên
ý mà chính con người, từng cá nhân một, với những hành động, nói
năng và suy nghĩ của mình, trong mối quan hệ hỗ tương giữa ta và những
người quanh ta, giữa ta và những sinh vật khác, giữa ta và thiên
nhiên, chính những quan hệ hỗ tương ấy đã biến đổi hình thái thiên
nhiên và xã hội, đã sáng tạo ra những giá trị từ khát vọng hoặc
tạm thời hoặc vĩnh cửu của con người. Rồi những cuộc cách mạng làm
rung chuyển một góc trời Tây. Tầng lớp khốn cùng của xã hội đã
đứng dậy đòi quyền sống, quyền làm người. Cả thế giới cũng rung
chuyển bởi những cuộc nổi dậy của các dân tộc bị áp bức. Thế kỷ
XIX, cuối thiên niên kỷ thứ hai, chứng kiến hàng loạt biến động và
những thay đổi triệt để các định chế xã hội và trạng thái ý thức
ở cả phương Ðông và phương Tây, báo hiệu sự cáo chung của của gần
hai nghìn năm vong thân và nô lệ của con người. Lúc này con người đã
tự ý thức rằng chính con người đã sáng tạo ra một thế giới cho mình.
Chính con người là kẻ thừa tự những gì mình đã làm trong quá khứ, do
đó con người phải chịu trách nhiệm những gì mình làm.
Một kỷ nguyên
mới sẽ bắt đầu, kỷ nguyên của tự giác. Thế nhưng, những ngọn đuốc
hy vọng chợt tắt ngúm. Tham lam, thù hận, cuồng tín, quyền lực tự
ngã, vẫn y nguyên là dưỡng chất cho con người tồn tại với ý thức
là ta đang tồn tại và sẽ tồn tại, là năng lượng cho con người hoạt
động để cạnh tranh, để tiếp tục chiếm hữu và thống trị. Những thiên
đường hạnh phúc ngay trên mặt đất được dự phóng, với ý định thay
thế thiên đường tôn giáo, đã cổ vũ không ít dân tộc vùng dậy. Sau
hơn hai phần ba thế kỷ thực hiện công trình xây dựng bằng biển máu
và nước mắt, bóng dáng thiên đường ấy phút chốc tan biến như sương
mai dưới ánh nắng mặt trời, để lộ nguyên hình là một quái thai lịch
sử. Ý thức tự giác của nhân loại lại thêm một lần nữa, chỉ là
bóng mờ, chỉ là biến dạng của những tồn tại quá khứ. Cho đến ngày
nay, những năm tháng cuối cùng của thế kỷ, hằng ngày nhiều nơi trên
mặt đất, loài người vẫn giết nhau, bức hại nhau một cách không
thương tiếc; hoặc vì quyền lợi vật chất hoặc vì khác biệt tín ngưỡng,
hoặc do bất đồng chính kiến, hay kỳ thị chủng tộc. Tuy nhiên, kiến
thức về con người và vũ trụ được tích lủy, cung cấp phương tiện sinh
hoạt và thụ hưởng cho con người. Tình yêu nhân loại được nói đến
nhiều hơn. Những tương trợ vật chất giữa các cộng đồng nhân loại
cũng thường xuyên hơn trước. Những hỗ trợ mang tầm cỡ toàn cầu cho
những cá nhân và những dân tộc bị áp bức và bóc lột đứng lên đòi
quyền sống, quyền con người, càng lúc càng trở thành mối quan tâm
của phần lớn nhân loại. Ðứng từ quá khứ mà nhìn, những hình thái
sinh hoạt ấy rõ ràng không vẽ nên hình ảnh một thiên đường trên
trái đất. Nhưng con người, từng cá nhân, đang sống trên mặt đất này,
vẫn còn đau khổ, vẫn cảm thấy bất an.
Biên giới
vũ trụ đang được thu hẹp dần, nhưng quan hệ gắn bó giữa người và
người còn lõng lẽo. Tranh chấp, ly dị, tự tử, những con số thống kê
ấy là những mô tả chính xác về thế giới hiện tại. Người càng xa
cách với người hơn. Mỗi cá nhân trở thành những ốc đảo. Khoảng
cách giàu nghèo giữa các thành viên xã hội, giữa các cộng đồng
chủng tộc, giữa các quốc gia, tạo thành những bất công và những áp
bức, bóc lột kiểu mới. Cướp bóc, khủng bố, hằng ngày gieo rắc sợ
hãi cho những người dân tại các đô thị phát triển bậc nhất của thế
giới. Thế giới đang phân hóa thành hai cực đối kháng rõ rệt, tạo
nên mâu thuẩn mà toàn nhân loại phải có nhiệm vụ giải quyết trên
phạm vi toàn cầu, nếu con người muốn tồn tại và truyền lại cho con
cháu mình một xã hội tươi sáng. Thế giới hai cực đó là thế giới
của những cng đồng là nước giàu và nước nghèo. Mức độ và tốc độ
phân cực của hai thế giới ấy ngày càng khốc liệt do các thế lực
lãnh đạo chính trị của các cộng đồng này chưa ý thức trọn vẹn mối tương
quan duyên khởi của sự sống nói chung và sự tồn tại của loài người
nói riêng. Hậu quả là sự tàn phá không tiếc thương môi trường sống
của chính con người bao gồm không khí, đất nước, cây cỏ và sinh vật,
để thỏa mãn nhu cầu tích lũy của cải do lòng tham chi phối. Nguy cơ
phân cực này chỉ có thể được giải quyết một cách dứt khoát khi các
thế lực lãnh đạo chính trị của các quốc gia biết ý thức quan hệ
giữa sự tồn vong và hưng thịnh của quốc gia mình với sự tồn vong và
hưng thịnh của quốc gia khác. Các quốc gia giàu có không được quyền
làm ngơ trước sự nghèo đói của các quốc gia khác; và ngược lại,
các quốc gia nghèo phải tự phấn đấu để trở thành giàu có trong xu
thế phát triển toàn cầu. Nhân loại đã đạt nhiều thành quả trong hai
thiên niên kỷ vừa qua. Nhưng mục đích mà từng cá nhân hướng đến là
sống hạnh phúc chân thật thì chưa hề đạt được trên quy mô xã hội. Theo
Phật giáo, trái đất này được mệnh danh là ngũ thú tạp cư địa, là
trú xứ của con người, của các loài đng vật; có thiên đường, cũng
có địa ngục. Nhiều khi còn là thế giới của loài quỷ đói. Ðây chính
là môi trường lãnh đạo của các Bồ tát, và đây cũng là chỗ các
Ðức Phật nhập Niết bàn. Do đó, lịch sử hai nghìn năm chỉ là một giai
đoạn ngắn trong một chu kỳ sinh thành và hủy diệt của thế giới, và
của vũ trụ. Nơi này, một thế giới hủy diệt thì nơi kia một thế giới
mới được hình thành.
Không thể biết
được bắt đầu từ đâu và chấm dứt từ đâu. Chỉ có giới hạn tận cùng
của trí năng, không có giói hạn tận cùng của sự sống. Và trong lịch
sử thế giới, văn minh nhân loại không chỉ mới hai nghìn tuổi. Không
thể phủ nhận rằng nền văn minh hiện tại là kế thừa và phát triển
liên tục của hàng vạn năm lịch sử. Nhưng hình thái ý thức trong suốt
hai nghìn năm này có những biến đổi so với thời thái cổ. Có những
hình thái biến đổi nhanh chóng và có những hình thái biến đổi từ
từ. Kết thúc hai nghìn năm lịch sử, là đánh dấu mt giai đoạn trong
dòng tương tục vô tận của sự sống, để biết trong giai đoạn đó con
người đã làm được những gì với minh triết của mình, và đã gây nên
những tai họa gì cho người khác với những tham lam, ích kỷ, hận thù,
cuồng tín, và vô minh. Trong suốt hai nghìn năm ấy, lịch sử Phật Giáo Việt
Nam luôn luôn gắn bó với dân tộc. Ðạo Phật được truyền vào đất
nước này không theo sau những gót giày xâm lược, cũng không cốt vinh
danh Ðức Thích Ca Mâu Ni như đấng Chúa Tể bắt mọi thần dân phải cúi
đầu tuân phục. Giáo lý của Ðức Phật được truyền vào đây chỉ với
mục tiêu dựng dậy những gì cần được dựng dậy nếu đã bị quăng ngã,
nâng đỡ những gì đã được dựng dậy nhưng chưa được đứng vững, phát
triển những gì đã đứng vững nhưng chưa được phát triển. Lịch sử phát
triển của Phật Giáo Việt Nam đồng nhịp với sự phát triển của ý
thức dân tc Việt Nam. Hai dòng lịch sử từ hai khởi nguyên khác biệt,
trong những điều kiện môi sinh và hoàn cảnh lịch sử khác biệt, đã
cùng tồn tại, bổ sung, và cùng phát triển thành mt chỉnh thể. Ý
thức cá biệt tương liên và hòa điệu phát triển lên hình thái phổ
quát. Quan hệ cá nhân và tập thể, hay quan hệ đặc thù và phổ quát,
là mối quan hệ biện chứng, tức quan hệ duyên khởi, nghĩa là, một là
tất cả, tất cả là một. Trong quan hệ đó, cái đặc thù không hy sinh
nó cho sự tồn tại của cái phổ quát; cái phổ quát không bị phân
mãnh thành những ốc đảo riêng biệt. Trên phổ quát tính, mọi cá
nhân đều có giá trị ngang nhau, và mọi dân tộc đều bình đẳng. Trên
cơ sở bản thể học đó, ý thức dân tộc được hình thành trong mối quan
hệ giữa các dân tộc. Nó không phải đơn giản chỉ là quan hệ ngoại
giao giữa các tập đoàn thống trị để phụ để phụ thuc lẫn nhau hay bảo
vệ quyền lợi giai cấp cho nhau. Mà thực chất còn là ý nghĩa sinh tồn
của từng cá thể tồn tại như một đặc thù trong một cộng đồng nhân
loại. Cho đến thế kỷ VI Phật lịch, tức thế kỷ đầu Tây lịch, Phật
Giáo đã là tố chất cho một hình thái phổ quát như thế trên toàn
châu Á. Giáo lý của Phật đặt trên nền tảng quan hệ duyên khởi,
xác nhận giá trị bình đẳng giữa các chúng sinh. Sự khác biệt về
tầng bậc xã hội không phải do định mệnh thiên khải mà do quá trình
phân công xã hội. Vua không phải là người được đặt lên ghế thống
trị do ý muốn của Thượng Ðế. Kinh Phật gọi hình thái chính quyền đầu
tiên là chính quyền Ðại tuyển (Mahâsammato), được chọn lựa từ đại
chúng, và vua là người làm hài lòng những người khác bằng luật
pháp chân chính chứ không phải là ông chủ cai trị theo tư ý chuyên
chính. Ðức Phật đã thuyết giảng như thế nhưng trong suốt hai mươi lăm
thế kỷ phát triển, ý nghĩa đó chưa được suy tư và quảng diễn đúng
mức. Chưa hề có một quân vương Phật tử nào có ý định thiết lập một
chế độ xã hội trên một cơ cấu chính quyền Ðại tuyển. Ðó là hạn
chế lịch sử. Phải đến một giai đoạn phát triển nhất định của các
hình thái sinh hoạt xã hội thì ý nghĩa Ðại tuyển mới có thể được
nhận thức đầy đủ và thực hiện quy mô.
Theo ý nghĩa đó,
trong lịch sử đấu trang để tồn tại và phát triển của dân tộc Việt,
Ðạo Phật đã hỗ trợ cho sự hình thành ý thức dân tộc và độc lập
trong hai khúc quanh lịch sử trọng yếu. Giai đoạn thứ nhất, chống lại
sự thống trị và đồng hóa dân tộc của các triều đại phong kiến
phương Bắc. Giai đoạn thứ hai, thời hiện đại, chống lại sự rập khuôn
của các định chế dân chủ phương Tây không phù hợp với xã hội và
truyền thống phương Ðông qua hai mô thức dân chủ tư sản và dân chủ
vô sản. Trong cả hai giai đoạn, ý thức đấu tranh cho giải phóng và
độc lập dân tộc không thuần túy là do đng lực kinh tế mà do ý thức
vươn lên của một dân tộc muốn khẳng định giá trị văn hóa của dân tc
mình. Qua mười thế kỷ phát triển cơ sở vật chất của xã hội đã
chứng minh điều đó. Nhiều triều đại thay nhau cai trị đất nước, nhưng
không có triều đại nào để lại những cung điện huy hoàng tráng lệ
biểu trưng mức độ xa hoa trụy lạc của các vua chúa. Các triều đại
ấy không phải là không có lấy một hôn quân bạo chúa. Nhưng sự
thiếu vắng các công trình kiến trúc đáng lý phải có, chứng tỏ mối
quan hệ đặc biệt giữa tầng lớp vua quan và tầng lớp dân dã, giữa
cái bị gọi là giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột. Các vua chúa
của các triều đại Việt Nam đã không hưởng thụ trên mức mà thần
dân có thể cống nạp trong khi hiếm có công trình vĩ đại xa xưa nào
trên thế giới tồn tại đến ngày nay mà không được xây dựng bằng mồ
hôi và nước mắt, thậm chí bằng cả xương máu của tầng lớp lao đng
khốn cùng. Qua một nghìn năm đấu tranh gian khổ, một dân tộc nhỏ bé,
với một nền văn minh vật chất tương đối phát triển, với hình thái ý
thức xã hội thuần phác, đã dần dần khẳng định những giá trị đặc
thù của một dân tộc trong tổng thể phổ quát ngang tầm nhân loại. Ðó
là những giá trị nhân bản với những biểu hiện nhân ái và khoan
dung. Chiến tranh là những biến cố thường xuyên tại nước ta, và cũng
có thể nói là trường kỳ. Nhưng ít có những cuc tàn sát man rợ. Nói
là ít có vì đã có những vụ giết chóc trong cái gọi là đấu tranh
giai cấp, cái gọi là giải phóng dân tộc, vốn đã thảm sát không run
tay bất cứ ai bị lên án là kẻ thù của giai cấp. Ðây là những vết
đen trong lịch sử cận đại. Trong khi đó, dòng lịch sử Việt thường được
tô điểm bởi lòng nhân hậu như sự khoan dung của các vua nhà Trần
đối với những người bị buộc tội chạy theo giặc.
Trong suốt hai
nghìn năm truyền bá, Ðạo Phật Việt chưa hề là nguyên nhân trực tiếp
hay gián tiếp gây nên những xung đt tôn giáo dù trên quy mô nhỏ.
Ngay từ những ngày đầu tiên mới du nhập, những người Phật tử Việt
Nam đã chứng tỏ tinh thần khoan dung tôn giáo và tư tưởng. Cho đến
những thời kỳ được coi là hưng thịnh nhất, đạo Phật chưa hề, mặc dù
với ưu thế sẵn có, tìm cách chiếm lĩnh địa vị đc tôn. Vào lúc mà
phần lớn phương Tây đang đắm chìm trong bóng tối Trung cổ, với những
pháp đình tôn giáo phi nhân, với quyền lực của các lãnh chúa đối
với các thần dân được thi hành như là quyền lực vô nhân, đất nước
Việt Nam cũng đã bước vào thời kỳ độc lập tự chủ, không chỉ với ý
nghĩa mt triều đình cát cứ riêng biệt, mà là một dân tộc đã xác
định được tinh thần và hình thái dân tộc của mình, đã vươn đến những
giá trị phổ quát của con người. Lịch sử cho thấy những xã hộäi được
gọi là văn minh tiêu biểu cho nhiều dân tộc noi theo chưa hẳn là những
xã hội hoàn hảo. Bởi vì một xã hội mà các thành viên của nó chưa
hề có ý thức về những giá trị bình đẳng giữa các dân tộc và chủng
tộc, chưa có thái độ sống hòa đồng và bao dung tôn giáo và tư tưởng
thì xã hội đó chưa thể được coi là đã vươn lên trình độ xã hội loài
người. Ðó vẫn chỉ là trình đ của cng đồng mà quan hệ giữa các thành
viên không được ràng buộc bởi sợi dây thông cảm và tôn trọng phẩm
giá của nhau. Có chăng chỉ là sự ràng buộc quyền lợi vật chất với
nhau để hình thành những tầng bậc, đẳng cấp phi nhân. Tuy vậy, trong
quá khứ, không phải Việt Nam đã là đất nước của hạnh phúc. Mặc dù
dân chúng đã có thể hạnh phúc trong mức độ chừng mực nào đó với
điều kiện vật chất phát triển vào từng thời đại. Không phải không
có hay ít có những hôn quân bạo chúa, những cường hào ác bá, những
địa chủ và phú nông làm giàu bằng thủ đoạn gian xảo và áp bức bóc
lột. Cũng có lúc và có khi chúng đạt đến mức độ ác liệt, dẫn đến
những mâu thuẫn gay gắt, những cuc khởi nghĩa của nhân dân chống lại
triều đình. Nhưng mức độ không ác liệt như những sử gia duy vật biện
chứng rập khuôn theo hình thái xã hội phong kiến phương Tây để mô tả
cái gọi là đấu tranh giai cấp, qua sự cấu kết của giới quý tộc vua
chúa và tăng lữ. Trên đất nước này chưa hề có một xã hội phong
kiến kiểu phương Tây, với uy quyền tuyệt đối của các lãnh chúa đối
với nông nô.
Ở Việt Nam hình
ảnh một ông vua khi nhìn thấy cảnh vàng son nhung lụa của con gái yêu
của mình liền chạnh lòng nghĩ đến những tù nhân bị đọa đày, cơ cực
trong lao ngục, và tự nhận trách nhiệm của chế độ đối với hành vi
phạm pháp của dân đen; hình ảnh những đại thần cực phẩm triều đình
sống hòa đồng với nông dân cùng khổ trong các thôn xóm là hình ảnh
mà phương Tây thời trung cổ không thể hình dung nổi. Thế nhưng, lịch
sử nhân loại không tiến hóa theo quy luật tuyến tính một cách giản
dị và máy móc. Ðức Phập đã dạy, tội ác nguyên thủy trong xã hội
loài người chỉ bắt đầu từ khi con người có ý niệm tích lũy do lòng
tham. Quá trình tham lam đưa đến xung đột. Trật tự sinh hoạt xã hội
cộng đồng nguyên thủy bị phá vỡ, loài người tiến dần vào xã hội
phân công rồi phân hóa thành xã hội có đẳng cấp. Xung đột ngày càng
khóc liệt để thỏa mãn lòng tham. Tham tài sản, tham quyền lực, tham
kiến thức. Tham để sống hạnh phúc. Nhưng có người do tư duy chiêm
nghiệm đã phát hiện những hậu quả tai hại của lòng tham và xung
đột, nên đi tìm con đường an ổn dẫn đến hạnh phúc. Ðó là con đường
hòa bình, bao dung, nhân ái, biết thương yêu và tôn trọng phẩm giá
của tha nhân. Suối nguồn trong mát khi chảy xuyên núi rừng, băng qua
các đồng bằng để đổ vào đại dương bao la xanh biếc, không phải tự
thủy chí chung vẫn là dòng suối trong mát. Nó mang theo mình càng lúc
càng nhiều những rác rưởi. Lịch sử tiến hóa xã hi loài người cũng
thế. Lịch sử tiến hóa xã hi Việt Nam cũng thế.
Ở Việt Nam,
ngay từ buổi đầu, trong cuộc đấu tranh để giải phóng và khẳng định
độc lập dân tộc, người Phật tử Việt Nam đã khẳng định mọi dân tộc
đều bình đẳng như nhau, trong đó có dân tộc Việt Nam và dân tộc Trung
Quốc. Từ trong khói lửa đấu tranh ở thế kỷ thứ II, Mâu Tử, một nhà
tư tưởng của Phật Giáo đã dõng dạc công khai tuyên bố: Mọi loài có
máu đỏ đều có thuộc tính Phật; và đất Hán vị tất là trung tâm của
Trời Ðất. Ðến khi đất nước thu hồi độc lập tự chủ, tăng sĩ Phật
Giáo tiếp tục là lực lượng xã hội chủ yếu cũng cố ý thức dân tc
bình đẳng. Các thiền sư là những cố vấn chính trị xã hội cho các ông
vua thoát thai từ nhiều giai tầng xã hội mà lên. Nhưng khi định chế
chính trị xã hội trên cơ sở ý thức bình đẳng dân tc đã được ổn cố,
các ngài dứt áo ra đi, không quan hệ gì đến địa vị xã hi hay bổng lộc
triều đình. Các ngài sống giữa dân và trong lòng dân, ẩn mình trong
các sơn môn mà vẫn không quên sự hoằng hóa của mình, tạo nên manh
mối ngầm nuôi dưỡng ý thức độc lập, tự chủ, nhân ái và bao dung
của dân tc. Nếu Ðạo Phật không tồn tại như mạch suối ngầm trong
lòng lịch sử dân tc thì ngày nay cái tên "Người Việt" chỉ
tồn tại trong sử sách người Trung Quốc, và thời kỳ được nói là độc
lập dân tc chỉ được chép trong lịch sử Trung Quốc như là những giai
đoạn hùng cứ của bọn phản nghịch mà do đức hiếu sinh, Thiên triều
đã không tàn sát mà chỉ cải tạo dần bằng cuc nô dịch văn hóa. Ngay
từ lúc chế đ thực dân Pháp thiết lập tại Việt Nam, đã bùng lên
những phong trào đấu tranh quyết liệt, liên tục và bền bỉ suốt hơn
một trăm năm. Mt phần, đấu tranh giành đc lập vì quyền lợi vật chất
bị tước đoạt; phần khác chiến đấu để bảo vệ di sản văn hóa và
mạch sống ngầm của dân tộc. Trong những ngày đầu, khi triều đình đầu
hàng, nhân dân tự phát khởi nghĩa. Các thiền sư ẩn cư, tách biệt
với triều đình, sống giữa lòng dân, đã tích cực tham gia các tổ chức
kháng chiến. Khi quyền lực không còn xuất phát từ triều đình, Phật
Giáo trở thành chỗ dựa cho các lực lượng kháng chiến. Ðồng lúc,
các thiền sư ẩn cư trong các sơn môn lần lượt phát động các phong
trào chấn hưng Phật Giáo. Phật Giáo phải được tổ chức lại để có
thể trở thành lực lượng tiền phong trên mặt trận bảo vệ văn hóa dân
tộc. Không ai có thể phủ nhận được sự thật lịch sử này. Dù có
những thế lực chính trị mù quáng trước sức mạnh phương Tây, đã lên
án các công cuc chấn hưng Phật Giáo là liều thuốc phiện ru ngũ tinh
thần chiến đấu của nhân dân. Chính thái độ cuồng tín ấy mà mt phần
lớn di sản quý giá của văn hóa Việt Nam đã bị triệt phá không nương
tay. Thêm vào đó, nỗ lực phá hoại về mặt tín ngưỡng và xâm phạm
các cơ sở vật chất về mặt văn hóa đã gieo rắc quá nhiều mất mát
và đau thương cho dân tc Việt. Hiện trạng mà người bên này tố cáo
Phật giáo làm lợi cho bên kia, người bên kia tố cáo làm lợi cho bên
này, đã nói lên mt sự thật: Phật Giáo thoát ly mọi sự lạm dụng và
lợi dụng của các thế lực chính trị hoạt đầu. Trong hai cuc chiến đấu
vừa qua, chiến tranh giải phóng thuc địa và chiến tranh ý thức hệ,
Phật Giáo càng lúc càng ý thức vai trò của mình.
Trong chiến tranh chống
thực dân và nô dịch văn hóa. Phật giáo là pháo đài bảo vệ di sản
văn hóa dân tộc. Trong chiến tranh ý thức hệ, Phật Giáo tự nhận vai
trò hóa giải hận thù, thể hiện hòa bình dân tộc, để chấm dứt cuc
chiến huynh đệ tương tàn. Một cuc chiến mà hậu quả không đem lại
chiến thắng cho nhân dân Việt, trái lại chỉ dẫn đến nghèo đói và
lạc hậu. Sau khi chiến tranh chấm dứt, đất nước tưởng chừng sẽ có
được một vận hội mới cho công cuc xây dựng tái thiết, nhưng thực tế
cho thấy, nhà tù dựng lên khắp nơi, máu người Việt tiếp tục đổ vì
chính những người anh em không cùng ý thức hệ; và dù rằng với sự
giúp đỡ nhiệt tình của các quốc gia phương Tây một thời là kẻ thù
giai cấp và ý thức hệ, thế nhưng, thành tựu đạt được không cân
xứng với sự hy sinh hàng mấy triệu người qua nhiều thế hệ đấu tranh
cho chủ quyền đất nước. Một đất nước mà sau hơn hai mươi năm chấm
dứt chiến tranh, vết thương vẫn chưa lành, hận thù giai cấp vẫn chia
sẽ dân tộc. Thêm vào đó là mt hệ thống chính trị nuôi dưỡng tham
nhũng, hối lộ, bóc lột nhân dân, hà hiếp quần chúng, những tội ác
mà hàng triệu người đổ máu để dẹp bỏ càng lúc càng trở thành căn
bệnh xã hội trầm kha. Một đất nước như vậy thì không mong gì ngẩn cao
đầu nhìn những bè bạn xung quanh: những nước mà mt thời đã cùng chung
số phận nhược tiểu chịu các ách thống trị của thực dân đế quốc.
Những nước đó không có những cuc chiến làm thế giới chú ý, nhưng
có những nhà lãnh đạo biết làm cho dân mình vượt qua ngưỡng cửa
nghèo khó.
Nay, khi toàn
cầu đang chuẩn bị khép lại quá khứ hai nghìn năm mà trong thời gian
đó loài người sống hạnh phúc và vinh quang thì ít, nhưng đau khổ và ti
ác thì nhiều, để rồi hy vọng thiên niên kỷ tới là kỷ nguyên của
hòa bình, khoan dung, với các giá trị nhân bản trên cả hai phương diện
đặc thù và phổ quát được xác lập. Một lần nữa, Phật Giáo Việt Nam
ý thức rõ lực lượng và sứ mệnh lịch sử của mình đối với dân tộc
và nhân loại trong thiên niên kỷ sắp tới. Lực lượng này không xây
dựng trên vũ khí, bè đảng, nhằm mục tiêu tranh quyền cố vị. Lực
lượng này xây dựng trên tinh thần Bi, Trí, Dũng; nói rõ là: tôn
trọng sự sống, sáng suốt hành động và dũng cảm tự tồn. Sứ mệnh
lịch sử của Phật Giáo là hóa giải mọi xung đột giữa các cộng đồng
xã hi, các xu hướng chính trị, tôn giáo dị biệt, giữa các dân tộc mà
do hoàn cảnh lịch sử đã trở thành kẻ thù truyền kiếp của nhau. Sứ
mệnh ấy khởi phát từ lòng bi mẫn khoan dung, tôn trọng và đề cao
phẩm giá con người, vì con người là nhân cách trung tâm trong việc
chuyển hóa gia đình, xã hội, đem lại hạnh phúc, tự do, và giải thoát
cho quần chúng. Một xã hội mà các quyền tự do thiêng liêng và căn
bản được tôn trọng sẽ là một xã hội mà các thành viên sống hạnh
phúc. Ý thức tự giác là nền tảng cho ý niệm tự do. Hiểu biết ý
nghĩa và bản chất tồn tại của thiên nhiên, của xã hội, và của các
cá nhân, trong mối quan hệ duyên khởi; đó là hiểu biết những giá
trị nhân bản, hiểu biết phẩm giá của mình, hiểu biết và tôn trọng
phẩm giá của người khác. Một nền văn minh dân chủ là sản phẩm của
trí tuệ, chứ không phải chỉ là định chế xã hội dựa trên nguyên tắc
phân chia quyền lực. Trí tuệ đó không chỉ là những kiến thức thuần
túy khoa học, xã hội, mà là sự hiểu biết lẫn nhau và sự tương kính
hi thông giữa người và người trong việc xây dựng mt thế giới an lạc
và ấm no. Trong tinh thần tự giác và quy ngưỡng đại chúng như thế,
không có một quốc gia nào tự xác định những giá trị truyền thống cá
biệt hay đặc thù để chối bỏ những giá trị phổ quát của nhân loại. Trong
những năm cuối thế kỷ này, thế giới đang chứng kiến nhiều dấu hiệu
khích lệ. Chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai, đói kém, không còn là
những vấn đề nội bộ của riêng lẻ mỗi quốc gia hay dân tộc. Nơi nào
mà một cá nhân bị ức hiếp, một tập thể bị đàn áp, thì các nơi khác
trên năm châu đều nỗ lực can thiệp và áp lực đổi thay. Nhân phẩm
con người và các quyền căn bản về dân sự và chính trị đã được toàn
cầu hóa. Không thể có một chính quyền nào trên trái đất này còn
được thao túng cai trị nhân dân mình một cách tùy tiện theo một hệ tư
tưởng nào đó do tự mình và phe nhóm của mình bày đặt ra chống trái
với lòng dân. Thế giới văn minh là tổng viện lực cho các dân tộc
bị áp bức.
Quần chúng tự
giác là đại chủ lực cho mọi cuc đổi thay xã hi. Người Phật Tử tin
rằng mọi loài chúng sanh có một định hướng duy nhất, đó là định
hướng thành Phật. Tất cả chúng sanh đều là Phật tương lai. Ðón mừng
Phật Ðản, Phật Tử Việt Nam cũng hoan hỷ đón chào thế kỷ XXI với
tinh thần khoan dung, bi mẫn mà Ðức Thích Tôn đã truyền dạy và thể
hiện. Cầu mong tất cả các tôn giáo trên hoàn vũ, các hệ tư tưởng
dị biệt, đều được phát triển như ý, chung hòa trong tâm nguyện và
phát huy trọn vẹn tiềm năng giáo hóa của mình, để cho loài người
bước lên cõi chí thiện.
Phật Ðản 2543
Thừa Ủy Nhiệm
Hội Ðồng Trưởng Lão Viện Tăng Thống GHPGVNTN
Hòa Thượng Thích
Huyền Quang