Thư
Của Trần Ðộ Gửi Ðảng, Quốc Hội, Chính Phủ
Kính
gửi:
- Ðảng
- Quốc hội
- Chính Phủ
Và các bạn quan tâm
[Tôi
xin gửi một bài viết của tôi. Ðây không phải là một bài viết ngẫu
hứng về một vấn đề cụ thể mà là những ý nghĩ được tích lũy từ
lâu về đất Nước và về Ðảng, là ý kiến góp với tất cả các Hội
Nghị Trung Ương và đại hội 9 sắp tới. đây là những giọt máu vắt ra
từ trong tim một người từ nhiều chục năm nay. đó là một người chỉ
khát khao được phát biểu và được thảo luận về đất Nước và về đảng
Thân Kính]
Tình hình đất nước và vai trò của đảng Cộng Sản
Một: Một lần nữa, nhìn thẳng vào sự thật
1
- Cách đây chưa lâu, qua các phương tiện thông tin đại chúng, tình hình
đất nước được mô tả như đang “ở trên con đường thắng lợi to lớn,”
như “đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội,” như ôđầy khởi sắc,”
“đầy khích lệ,” “đầy
phấn khởi,” “đầy hứa hẹn,”ỉ... và đang “chuyển sang giai đoạn phát
triển mới, thực hiện hiện đại hóa, công nghiệp hóa.” Thế rồi,
những ngày gần đây, cũng lại qua các phương tiện thông tin đại
chúng, người ta nghe thấy nào sự tăng trưởng kinh tế đã “chững lại,”
nào đời sống nhiều vùng, đặc biệt ở nông thôn, gặp nhiều khó
khăn, nào tệ nạn xã hội, đặc biêt là nạn tham nhũng, đang có chiều
hướng tăng lên... Những biến động ở Thái Bình và một vài nơi khác
được nói tới một cách hết sức dè dặt, nhưng cũng đủ cho thấy đất
nước đang trải qua những bất ổn mới. Một vài tờ báo muốn thông tin
đúng sự thật của tình hình đã bị phê phán hoặc cấm đoán (như tờ
Tiền Phong sau một loạt bốn bài viết về Thái Bình đã phải “Xin lỗi
bạn đọc” vì bài viết chưa thật “sát hợp với thực tế,” trong khi thật
ra chỉ mới nói lên một phần nhỏ sự thật đã và đang xảy ra). Trong dư
luận xã hội, nổi lên những băn khoăn lớn: Thế này là như thế nào?
Ðất nước đang đi lên hay đang dừng lại? Mặt sáng là chính hay là mặt
tối là chính?
Rõ
ràng ở đây có vấn đề, mà lại là vấn đề rất cơ bản: đánh giá tình
hình như thế nào đây? Kinh nghiệm lịch sử đã cho chúng ta nhiều bài
học về mặt này. Ðánh giá đúng thì hành động đúng, ngược lại, đánh
giá không đúng sẽ đẩy tới những hành động không tránh khỏi sai
lầm. Chúng ta còn nhớ như in bài học của đại hội VI của Ðảng: công
cuộc đổi mới chỉ có thể đề ra và tiến hành một cách mạnh mẽ dưới
khẩu hiệu lay động lòng người: “Nhìn thẳng vào sự thật,” dù trước
đó chưa lâu, những bài ca “thắng lợi,” “tiến lên” vẫn được hát ồn
ào trên các phương tiện thông tin đại chúng. Với bài học còn nóng
hổi ấy, tôi rất hoan nghênh việc thủ tướng Phan Văn Khải đã nhắc
lại phương châm “Nhìn thẳng vào sự thật” trong báo cáo tại kỳ họp
thứ hai của Quốc hội khóa X vừa rồi. Ðúng là chỉ có theo phương châm
này, chúng ta mới phân tích được đúng tình hình hiện nay của đất
nước.
2
- Vậy, tình hình đất nước hiện nay là như thế nào?
Nói
cho đúng, qua mười năm đổi mới, đất nước đã có nhiều thay đổi tích
cực và sự đánh giá về một số thắng lợi trong công cuộc đổi mới
có cơ sở. Tôi xin phép không nêu lại những thắng lợi có thật đó ở
đây, không phải vì tôi “quên” hoặc “coi nhẹ,” mà là vì những thắng
lợi đó đã được nói quá nhiều (quá đầy đủ) trên các din đàn chính
thức. Chỉ nói riêng trong lĩnh vực kinh tế, ai lại không vui mừng khi
biết rằng, với chính sách “mở cửa” của ta, các nhà đầu tư nước
ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế đã rót hàng tỷ đô la vào
để giúp ta tạo dựng những cơ cấu hạ tầng ban đầu, những doanh nghiệp
liên doanh... hoặc nước ta từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, bây giờ
đã có thể xuất khẩu hàng năm 2-3 triệu tấn gạo? Mức sống vật chất
nói chung đúng là có khá lên đối với một bộ phận dân cư không
nhỏ, vân vân và vân vân.
Ðiều
đáng nói là lẽ ra, bên cạnh sự nêu cao những thắng lợi đó, chúng
ta phải phân tích một cách tỉnh táo ngay từ đầu những mặt xấu, những
mâu thuẫn đã lộ rõ hay còn tiềm ẩn, những nguy cơ lớn đối với bất
ổn định và phát triển mà bây giờ chúng ta đang thấy rõ những điều
đó nổi lên thành mặt chủ yếu của tình hình đất nước.
Chỉ
cần đặt ra một số câu hỏi đơn giản là đủ thấy như thế.
-
Tại sao luôn luôn nhấn mạnh “kinh tế quốc danh là chủ đạo,” trong khi
đó là một khu vực kém hiệu quả nhất và là những “ổ” tham nhũng
ghê gớm nhất?
-
Tại sao không huy động được nguồn vốn trong nước (như đã dự tính là
phải tương đương với nguồn vốn vay mượn từ nước ngoài) để từ 1996
đến năm 2000 phải có số vốn 40-50 tỷ đô la, điều kiện không thể
thiếu để đưa GDP đầu người lên 400 đô la một năm vào năm 2000?
-
Tại sao có hiện tương các nhà đầu tư nước ngoài trở nên dè dặt hơn
trong việc đưa vốn vào nước ta, thậm chí một số doanh nghiệp nước
ngoài còn rút vốn đi?
-
Tại sao không đẩy lùi được nạn tham nhũng có hiệu quả, mà còn để
nó tha hồ hoành hành một cách rầm rộ và đầy thách thức cũng giống
như hiện nay?
-
Tại sao người dân, trong hoàn cảnh mức sống có tăng lên, không
thiết tha góp công, góp của vào công cuộc xây dựng đất nước như Ðảng
không ngừng kêu gọi? Thậm chí ở một số nơi người dân còn chống lại
các tổ chức Ðảng và đứng lên đấu tranh (không thể dùng cách nói
nào khác hơn) để bảo vệ quyền lợi của mình?
-
Tại sao đường lối đổi mới và mở cửa đã đưa tới một sự phân hóa
xã hội sâu sắc đến thế, đưa đến sự làm giầu bất chính và đầy
thách thức của một bộ phận nhỏ - chủ yếu là trong cán bộ, đảng
viên có chức như thế?
(Nhân
đây tôi xin nói rằng: cần phải đánh giá hết ý nghĩa của những biến
động đã và đang xảy ra ở Thái Bình. Có thể nói đây là lần đầu
tiên có hàng vạn nông dân tự tập hợp lại để tranh đấu chống
“cường hào mới” một cách mạnh mẽ và đều khắp như vậy. Nông dân
Thái Bình, như tôi đã trực tiếp thể nghiệm, từ lâu vốn là một cơ
sở xã hội vững chắc của Ðảng trong đấu tranh cách mạng, kháng chiến
và xây dựng đất nước. Thế mà chính những người nông dân ấy bây
giờ lại quay lưng lại với các tổ chức cơ sở Ðảng (cũng tức là với
Ðảng) để tự bảo vệ, điều mà tôi chưa bao giờ hình dung nổi. Tôi e
rằng những biến động ở Thái Bình có thể báo hiệu một tình trạng
nguy hiểm hơn nhiều với Ðảng, nếu không nghiêm túc rút ra những bài
học đúng đắn (và đau đớn nữa) từ tình hình đó.
-
Tại sao để cai trị đất nước, ta cần nhiều bộ máy đồ sộ đến thế, mà
các cuộc vận động (chống tham nhũng, buôn lậu, tệ nạn xã hội) đều
hầu như không có hiệu quả?
Vâng,
chỉ cần đặt ra bấy nhiêu câu hỏi thôi cũng đủ thấy rằng tình hình
đất nước hiện nay không chỉ có những thắng lợi, những thành công,
mà còn hiện ra dưới những bộ mặt ngược lại, khiến cho những người
dân bình thường lấy làm lo ngại trước một cuộc khủng hoảng xã hội
mới, có thể còn nghiêm trọng hơn lần trước nhiều.
Tôi
không phải là nhà tiên tri, tôi chỉ nêu ra một giả thuyết có thể
có, để cùng nhau suy nghĩ. Dù sao cũng không thể lẩn tránh vấn đề. Phải
đặt nó ra một cách thẳng thắn và xin nhắc lại, theo huớng “Nhìn
thẳng vào sự thật.”
Hai: Nguyên nhân ở đâu?
Tình
hình chung của xã hội hiện nay là: tuy đã đạt đuợc những thành tựu
quan trọng về mặt tăng trưởng kinh tế (mà những thành tựu này cũng
cần được đánh giá đúng mức, không thổi phồng lên theo “chủ nghĩa
thành tích,” một căn bệnh cũ muốn tái phát trong những điều kiện
mới, tinh vi hơn, như trên báo chí có nhắc tới), nhưng nước ta vẫn là
một nước nghèo khó và lạc hậu, với những nguy cơ tụt hậu n gày
càng lớn, với những hỗn loạn kinh tế và xã hội ngày càng tăng. Hai
mục tiêu trước mắt thường được nhắc đi nhắc lại là ỔN đINH và PHÁT
TRIỂN trên thực tế đan g trở thành những cái đích ngày càng xa hơn.
Cộng vào đó, cuộc khủng hoảng tài c hính - tiền tệ trong vùng ÐÔNG
NAM Á và ÐÔNG Á đang gây ra thêm nhiều khó khăn mới, thậm chí những
đình đốn mới, khiến xã hội không yên. Nhìn chung, không khí xã hội
đã mất đi sự hứng khởi ban đầu, thay vào đó là tình trạng lo âu,
chán nản đang choán lấy nhiều tầng lớp dân cư rộng lớn. Mối nguy
hiểm là ở chỗ những tiềm năng bên trong (nội lực) không được phát
huy và chúng ta ngày càng lệ thuộc hơn vào những nguồn vốn bên
ngoài đang dần dần co hẹp lại. Trong khi đó, những tệ nạn xã hội
lại phát triển mạnh mẽ tới mức không thể khắc phục được (ma túy,
tham nhũng chẳng hạn), số người làm giàu nhanh chóng một cách bất
chính (trong đó khá nhiều người dựa vào chức quyền) cùng với tình
trạng bần cùng hóa của một bộ phận dân cư ngày càng lớn (chủ yếu
ở nông thôn) đang gây ra một tâm lý bất mãn ngày càng sâu rộng
trong xã hội. Tất cả những điều có thể đưa tới những biến động và
xung đột xã hội thật khó lường, như tình hình Thái Bình cho thấy.
Ðứng
trước tình hình ấy, rất nhiều người tâm huyết (trong đó có những cán
bộ cách mạng lão thành từng gắn bó cả cuộc đời với sự nghiệp
giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội) đang băn khoăn tìm hiểu
những nguyên nhân đưa tới tình hình ấy. Muốn hay không đã xuất hiện
những nhận thức khác nhau về xã hội hiện nay. Nhưng những tiếng nói
ấy chỉ bó hẹp trong những trao đổi ý kiến trong từng nhóm nhỏ.
Lẽ
ra, trong một hoàn cảnh như vậy, cần có những trao đổi thẳng thắn,
xây dựn g thật rộng rãi trên báo chí, trong các tổ chức xã hội, cả
trong Ðảng nữa. Nhưng trớ trêu thay, lúc này lại thấy xuất hiện
nhiều sự cấm đoán hơn trong lĩnh vực ngôn luận. Rất nhiều nguy cơ có
thể tránh được, nếu như những vấn đề của đất nướ c được đem bàn
một cách cởi mở để huy động được sức mạnh trí tuệ của dân tộc. Mộ
t số người viện cớ không để cho kẻ thù xen vào công việc nội bộ
của ta, nhưng tr ên thực tế hầu hết những mặt tiêu cực của xã hội
hiện nay là do chính “ta” gây r a. (Một điều thật buồn cười là, đã
có người giữ cương vị quan trọng nói rằng ôkẻ địch gây ra nạn tham
nhũng để phá hoại đất nước ta,” trong khi chính những ngườ i được giao
trách nhiệm điều tra những biến động ở Thái Bình, chẳng hạn, đã báo
cáo là không thấy có bàn tay kẻ thù đứng đằng sau những chống đối
của nông dân Thái Bình). Vậy mà ta vẫn cho rằng ta rất dân chủ và
“xin nhiều ý kiến” mọi người. Tôi không ngây thơ tưởng rằng hiện nay
không có “kẻ thù” nữa, nhưng đừng cường điệu điều đó để rồi nhìn ai
cũng ra “kẻ thù.” Và kinh nghiệm cho thấy rằng “kẻ thù” chỉ có thể
thâm nhập và phá hoại ta được, khi chính chúng ta tự bưng bít sự
thật, giống như một người mắc bệnh lại bưng bít căn bệnh của mình.
Nếu chúng ta để cho “kẻ thù” nắm lấy ngọn cờ “sự thật” thì chúng ta
sẽ ngày càng rơi vào tình trạng hiểm nghèo vì giấu bệnh và không cho
ai chẩn đoán cả. Tôi chưa nói tới một điều đáng lo ngại nữa là để
cho những kẻ cơ hội chủ nghĩa nhảy ra hạ bệ, nói xấu lung tung, đánh
đấm lung tung, bạ ai cũng coi là “kẻ thù,” gây hỗn loạn trong giới
trí thức, văn nghệ sỹ, và tiếc thay có cả một tờ báo của ngành
công an đang làm “bệ phóng” cho những kẻ đó.
Xin
trở lại với câu hỏi: Tình trạng xã hội đáng lo ngại như đã nói
trên đây là do đâu? Tôi không có tham vọng phân tích đầy đủ về vấn
đề này, chỉ xin nêu ra một số ý kiến:
1
- Mặc dầu tuyên bố mục tiêu của nước ta hiện nay là “phát triển
kinh tế, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh,” nhưng
vẫn nhấn mạnh “kiên trì đị nh hướng xã hội chủ nghĩa.” Như vậy, nảy
sinh một mâu thuẫn không thể giải quyết được, bởi vì cả về lý
thuyết lẫn về thực tin, kinh tế thị trường - điều kiện t ất yếu để
phát triển kinh tế - không thể đi đôi với định hướng xã hội chủ
nghĩa được. Cuối cùng, hoặc mặt này loại bỏ mặt kia, hoặc đẻ ra một
trạng thái kinh tế hỗn loạn, không ra kinh tế thị trường, cũng không
ra kinh tế xã hội chủ nghĩa. Thực tế nhiều năm qua cho thấy rằng:
nền kinh tế của ta chỉ mới khởi sắc được ít lâu, rồi dần dần “chững
lại” thậm chí bế tắc, và hỗn loạn. Cơ cấu “năm thành ph ần kinh tế”
không thể trở thành hiện thực khi vẫn nhấn mạnh KINH TẾ QUỐC DOANH L
À CHỦ đẠO. Mọi người đều biết khu vực kinh tế quốc doanh ấy đã thua
lỗ như thế n ào, hằng năm nhà nước phải cấp cho nó những khoản trợ
cấp to lớn như thế nào, và nó trở thành một nguồn tham “, lãng phí
ghê gớm như thế nào? Không thể bỏ kinh tế quốc doanh vì trong một số
lĩnh vực nào đó nó vẫn còn là cần thiết, nhưng đặt nó thành chỉ
đạo thì chỉ có nghĩa là triệt tiêu hoặc làm suy yếu các thành phần
kinh tế khác, nhất là kinh tế tư nhân. Người ta rất ngại nói tới
phát triển kinh tế tư nhân vì như vậy là “đi trệch hướng xã hội chủ
nghĩa.” Do đó, kinh tế quốc doanh thì trở thành một gánh nặng tài
chính của nhà nước, trong khi những khả năng phát triển của các thành
phần kinh tế khác thì bị kìm hãm. Nguồn vốn không tạo ra được từ kinh
tế quốc doanh, còn nguồn vốn của các thành phần kinh tế khác thì
không được khơi dậy. Ðã nhiều năm rồi, nhà nước đề ra huy động
nguồn vốn “trong dân” nhưng cho đến nay có thể nói nguồn vốn ấy vẫn
ôngủ yên.” Người ta rất sợ đầu tư vào các lĩnh vực hoạt động kinh
tế, vì những cuộc cải tạo kinh tế trước đây cũng như “định hướng xã
hội chủ nghĩa” hiện nay, làm cho người ta lo sợ khi bỏ vốn ra. Ðiều
rất nguy hiểm nữa là với “định hướng xã hội chủ nghĩa” kia, Nhà nước
rất rộng tay trong việc cấp tín dụng cho khu vực kinh tế quốc doanh,
khiến cho tín dụng không thu hồi được, các ngân hàng đứng trước nguy
cơ phá sản.
Làm
thế nào để phát triển kinh tế khi không có nguồn vốn bên trong làm
một chỗ dựa cơ bản? Mở cửa cho đầu tư nước ngoài, đi vay nước ngoài
và các tổ chức tài chính quốc tế ư? Ðúng là hiện nay chúng ta đang
làm như vậy. Như vậy là đúng và cần thiết. Nhưng, một mặt, vốn đầu
tư, đầu tư nhiều hay ít không phụ thuộc vào ta, mà vào những điều
kiện làm ăn sinh lãi trên thị trường (kinh nghiệm nhiều nước Ðông Á
và Ðông Nam Á cho thấy các nhà đầu tư sẵn sàng rút vốn rất nhanh
một khi họ không kiếm lãi được, đẩy nền kinh tế các nước đó vào
cơn nguy khốn chưa từng thấy). Mặt khác, không thể thu hút đầu tư
nước ngoài, nếu không tạo ra môi trường đầu tư có lợi, mà môi
trường đầu tư ấy cũng phải đáp ứng với yêu cầu của các nhà đầu tư
và các tổ chức tài chính quốc tế. Và như đã biết, những yêu cầu
này là của kinh tế thị trường tự do trên thế giới, ngược lại với
“định hướng xã hội chủ nghĩa.” Càng cố duy trì định hướng này, nguồn
đầu tư bên ngoài càng co lại. Nguồn vốn bên ngoài nếu không mất thì
không còn đáng kể.
Chúng
ta phải làm một sự lựa chọn (khá khắc nhiệt đối với những người
chủ trương “định hướng xã hội chủ nghĩa”) để có những điều kiện cần
thiết cho sự phát triển kinh tế, và sự lựa chọn này không thể được
thực hiện theo lối nói nhập nhằng “kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.” Giữa hai cái, phải chọn lấy một, không thể “bắt
cá hai tay.” Lấy sự phát triển kinh tế của đất nước hay lấy định
hướng xã hội chủ nghĩa? Câu trả lời sẽ không khó, NẾU LẠY LƠI ÍCH
ÐẠT NƯỚC MÀ KHÔNG PHẢI LẠY LỢI ÍCH CỦA ÐẢNG LÀM ÐẦU. Nói cách
khác, sự phát triển kinh tế buộc phải từ bỏ sự lựa chọn theo “hệ
tư tưởng” do đảng đề xướng và thực chất là do đảng áp đặt lên toàn
xã hội. Kéo dài tình trạng nước đôi, đất nước sẽ không có điều
kiện phát triển bình thường, thay vào đó chỉ là một sự hỗn loạn có
lợi cho những kẻ “đục nước béo cò,” không có lợi gì cho tuyệt đại
đa số dân cả.
Trên
đây tôi chỉ đưa ra một ví dụ về nguồn vốn để chứng minh. Còn có thể
chứng minh bằng nhiều ví dụ khác.
2
- Sự phát triển kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh thế giới và trong
nước đầy biến động hiện nay, bắt buộc phải có chiến lược phát
triển thích hợp và đuợc mọi người, ít ra là của đa số nhân dân, tán
thành. Cho đến nay, chúng ta chưa có mộ t chiến lược như vậy. Nói cho
đúng, Ðảng đã đưa ra chiến lược “phát triển kinh t ế, công nghiệp
hóa và hiện đại hóa.” Nhưng ngoài những câu chữ chung chung, chưa có
một chiến lược cụ thể và thích hợp có lợi cho toàn dân tộc. Và
trên thực tế, những người cầm quyền đưa nước ta đi theo mô hình những
“con hổ,” “con rồng” ở các nước Ðông Á và Ðông Nam Á (Hàn quốc,
Thái Lan, Malaysia...). Chiến lược phát triển kinh tế theo con đường xã
hội chủ nghĩa (mô hình “xô viết”) trước đây đã đẩy đất nước vào
một thảm trạng kinh tế và xã hội, và bây giờ việc theo đuổi theo
“mô hình” những con hổ, con rồng cũng chẳng hứa hẹn điều gì tốt lành
cả. Làm thế nào để phát triển kinh tế, để hiện đại hóa một cách
phù hợp với những xu thế chung của thời đại, cũng như với những
điều kiện lịch sử và văn hóa nước ta, làm thế nào để mỗi người
dân (không trừ một khu vực nào, dù là thành thị hay nông thôn, dù
là miền xuôi hay miền ngược, dù là phía bắc hay phía nam) đều hào
hứng góp phần tham gia và đều được hưởng những thành quả của hiện
đại hóa - đó không phải là những bài toán d giải quyết. Chỉ có huy
động được SỨC MẠNH TRÍ TUỆ của mọi tầng lớp xã hội, thậm chí của
các cá nhân, mới có thể làm được điều đó. Và như vậy, không phải
chỉ có một phương án giải quyết mà có thể có rất nhiều phương án
khác nhau.
Hiện
nay, chúng ta gần như chỉ có một phương án và phương án ấy được coi
là độc tôn, chỉ vì đó là phương án của Ðảng. Không ai được phép đề
xướng những phương án khác, không ai được thảo luận một cách tự do
về phương án duy nhất đã được đưa ra. Ðó là nói về chiến lược phát
triển chung, chưa nói tới những chiến lược cụ thể trong từng lĩnh
vực. Tôi tin rằng trong nhân dân ta, nhất là trong giới trí thức (kể
cả trong và ngoài nước), có rất nhiều ý kiến hay, mà nếu được nói
lên, được c” xát với nhau, được tranh cãi tự do, thì sẽ phá vỡ được
sự bế tắc về trí tuệ, do đó sẽ có lợi cho việc tìm kiếm một con
đường đi thích hợp cho đất nước lúc này. Nói cách khác, đời sống trí
tuệ chưa được cởi mở, gánh nặng độc tôn còn đè nặng lên đầu óc
con người, những ý kiến khác với chính thống bị coi là “chống đối,”
đó CHÍNH LÀ MỘT TRONG NHỮNG NGUYÊN NHÂN QUAN TRỌNG ÐƯA TỚI TÌNH TRẠNG
GẦN NHƯ TẮC TỊ VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN HIỆN NAY.
3
- Về mặt quyền lực, tuy trên các văn bản chính thức đều nói quyền
lực chính trị nước ta “do dân, vì dân, và của dân,” rồi ôdân biết,
dân bàn, dân làm, dân k iểm tra,” nhưng trên thực tế không phải như
vậy. Tất cả mọi cái đều do Ðảng - nó i cho đúng, do những đảng viên
có chức có quyền quyết định. Việc bầu các cơ quan đại diện của dân,
kể cả cơ quan quyền lực tối cao, đều vẫn thực hiện theo lối “đảng
cử, dân bầu” quen thuộc, tuy có “cải biên” đôi chút. Ngay các cơ quan
dân cử ấy cũng chỉ làm một việc thường được gọi là “thể chế hóa
về mặt nhà nước” các quyết định của đảng. Các cơ quan đảng có toàn
quyền từ trên xuống dưới không chịu bất cứ một sự kiểm soát nào
về mặt pháp luật cả. Do đó, đẻ ra tình trạng mà không thể nào nói
khác hơn là tình trạng “Ðảng trị” trong một chế độ toàn trị. Hiến
pháp quy định sự lãnh đạo độc tôn của Ðảng, nhung không hề quy định
những trách nhiệm pháp lý của Ðảng đối với nhân dân. Ðảng làm
đúng dân nhờ. Ðảng làm sai dân chịu. Mà trên thực tế, như kinh
nghiệm hàng chục năm cho thấy, không phải bao giờ Ðảng cũng đúng
cả. Ðấy là tình trạng Ðảng giữ QUYỀN LỰC ÐỘC TÔN, KHÔNG CÓ CƠ CHẾ
GIÁM SÁT, KHÔNG CÓ LỰC LƯỢNG NÀO GIÁM SÁT. Ðấy chính là nguồn gốc
của sự lộng quyền, tham nhũng mà không có một vận động chống đối
nào thực hiện được.
Trước
đây, trong nhiều nghị quyết của Ðảng đã có nói tới việc tách đảng
ra khỏi các công việc quản lý của nhà nước, nhưng lời hứa trịnh
trọng ấy đã bị lãng quên, và đâu vẫn hoàn đấy. Trong nhiều nghị
quyết của Ðảng cũng có nói tới “cải cách chính trị” đi đôi với “cải
cách kinh tế.” Và có nói thêm “cải cách kinh tế đi trước” nhưng rồi
sẽ phải tiến hành “cải cách chính trị” nhưng lại thấy mất tăm, thay
vào đó là “cải cách hành chính” mà suốt nhiều năm qua vẫn chưa di
tới đâu.
Theo
tôi, CẢI CÁCH KINH TẾ HIỆN NAY ÐANG ÐÒI HỎI PHẢI CÓ CẢI CÁCH CHÍNH
TRỊ MỘT CÁCH MẠNH MẼ. Và nếu không cải cách chính trị, thì cải cách
kinh tế sẽ bế tắc, đất nước vẫn nằm mãi trong chế độ đảng trị đã
lỗi thời, và vai trò lãnh đạo cũng như uy tín của Ðảng sẽ bị suy yếu
không cứu vãn được. Việc tập trung toàn bộ quyền lực vào tay các cơ
quan lãnh đạo của Ðảng, đang làm cho chính Ðảng bị thoái hóa, biến
chất, những đảng viên nắm quyền lực trở thành một tầng lớp thống
trị mới trong xã hội với những lợi ích riêng, đối lập với lợi ích
nhân dân. Có thể nói rằng nhiều đảng viên có chức có quyền, đã
thật sự trở thành “những tư bản mới” đầu cơ quyền lực, biến quyền
lực thành của cải, và gây ra một mâu thuẫn xã hội ngày càng gay
gắt, có thể đưa tới những bùng n” xã hội (như tình hình Thái Bình cho
thấy).
4
- Cuối cùng, nhưng lại là nguyên nhân quan trọng nhất, là ở bản
thân đảng. Vì trong xã hội và trong chế độ ta, Ðảng là người lãnh
đạo tất cả, thống lĩnh tất cả, quyết định tất cả, nên mọi thành
công hay không thành công phải tìm nguyên nhân ở Ðảng. Ðúng là
nhiều khó khăn gặp phải trên con đường phát triển kinh tế, và xã
hội là bắt nguồn từ những điều kiện khách quan (thế giới, khu vực)
và cả những hoàn cảnh lịch sử - văn hóa của xã hội nước ta. Nhưng
vai trò lãnh đạo của Ðảng chính là ở chỗ phân tích những điều kiện
thuận lợi và khó khăn khách quan để có những chủ trương nhạy bén
kịp thời. Thực tin cho thấy trong nhiều trường hợp, Ðảng đã không
làm được như thế, không giành được thế chủ động, mà chạy theo sự
phát triển của tình hình một cách thụ động.
Hiện
nay, nổi bật lên mấy điểm sau đậy có liên quan tới vai trò lãnh đạo
của đảng:
-
Ðảng chưa có một chiến lược phát tiển xã hội (bao gồm cả kinh tế)
một cách thích hợp, như đã nói ở điểm 1. Nếu hỏi các đảng viên
chiến lược phát triển đất nước hiện nay là thế nào, chắc chắn đại
đa số sẽ không thể trả lời được, ngoài mấy câu chữ chung chung là
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” “âcông nghiệp
hóa, hiện đại hóa theo định huớng xã hội chủ nghĩa.” Chừng nào chưa
làm rõ, tất nhiên là phải đúng, những khái niệm đó thì chưa thể
thoát khỏi tình trạng thụ động về mặt lãnh đạo được. Xin lấy một ví
dụ: thế nào là dân giàu nước mạnh? “dân” là ai, là tất cả mọi người hay chỉ một bộ
phận nhỏ nào đó? Giàu là thế nào? là nhiều của cải, hay còn phải
giàu về trí tuệ, văn hóa? Thế nào là “nước mạnh”? chỉ phát triển
kinh tế mà thôi không xây dựng được một xã hội công dân, trong đó
mỗi người dân có điều kiện để thực sự làm chủ vận mệnh của mình,
trở thành chủ thể đích thực của đất nước, thì nước có mạnh không, và
xét đến cùng, có phát triển kinh tế được không? Rồi những khái
niệm còn rắc rối hơn: ôcông nghiệp hóa,” “hiện đại hóa,” thì càng
tù mù hơn nữa. Người ta đang hô lên những khẩu hiệu không có nội
dung xác thực.
-
Cho đến nay, Ðảng vẫn giữ vai trò lãnh đạo độc quyền, độc tôn của
mình đối với xã hội và đất nước, khiến cho mọi xu hướng dân chủ xã
hội bị ngăn cản. Tôi vẫn tán thành và ủng hộ vai trò lãnh đạo
chính trị của Ðảng, tôi thấy vai trò đó là cần thiết. Nhưng lãnh đạo
không có nghĩa là thống trị, Ðảng lãnh đạo không có nghĩa là đảng
trị. Kinh nghiệm lịch sử trong nước và trên thế giới đã chứng minh
rằng mọi sự độc quyền, độc tôn đều đưa tới thoái hóa, ruỗng nát,
tắc tị, không những của cơ thể xã hội mà cả của cơ thể Ðảng nữa.
-
Một bộ phận lớn đảng viên, trước hết là trong số đảng viên có
chức quyền, nắm quyền lực, đã thực sự trở thành lực cản đối với
sự phát triển mọi mặt của đất nước, kể cả trong lĩnh vực kinh tế.
Không có gì khó và nhục cho bằng khi người dân “tự nhiên” thấy trên
đầu mình chm chệ những vị tai to mặt lớn thiếu nhân cách, thiếu trình
độ hiểu biết, hay như thường nói, thiếu cả đức lẫn tài. Chừng nào
còn những người như thế cứ thay nhau nắm giữ và lũng đoạn bộ máy
Ðảng và Nhà nước, chừng đó các nguồn sinh khí trong đảng và trong xã
hội không thể khơi lên được. Nhưng những nguồn sinh khí ấy vẫn tồn
tại, vẫn tăng lên cùng với dân trí, nên đến một lúc nào đó sẽ
bùng lên mạnh mẽ, có muốn dập tắt cũng không được.
-
Trong nội bộ đảng, vẫn duy trì cái gọi là “chế độ tập trung dân
chủ” mà hầu hết các đảng cộng sản trên thế giới đã từ bỏ, vì về
thực chất, sự tập trung quyền lực bao giờ cũng đưa tới chỗ triệt
tiêu dân chủ. Nhiều lắm, dân chủ chỉ trở thành “đồ rởm,” chỉ có
tác dụng trang trí cho sự tập trung quyền lực.
-
Về hệ tư tưởng, ta vẫn giữ vai trò độc tôn của chủ nghĩa Mac-Lenin
không những trong Ðảng mà còn cả trong toàn xã hội. Tôi hoàn toàn
thừa nhận vai trò chủ nghĩa Mac-Lenin trong lịch sử cách mạng nước ta,
nó đã có những đóng góp quan trọng. Nhưng hiện nay, ngoài chủ nghĩa
Mac-Lenin ra còn có nhiều trào lưu tư tưởng rất đáng nghiên cứu và
tiếp thụ một cách phù hợp với những điều kiện của nước ta. Giữ vai
trò độc tôn của chủ nghĩa Mac-Lenin chỉ đưa tới sự trì trệ về trí
tuệ.
Có
thể còn những nguyên nhân khác nữa, nhưng tôi xin dừng lại ở đây,
vì chỉ mấy nguyên nhân nói trên cũng đủ để giải thích tại sao tình
hình đất nước đang lâm vào một trạng thái khủng hoảng mới, gay go
hơn, nguy hiểm hơn, cho xã hội, cho đất nước và cho cả sự nghiệp của
đảng.
Ba: Làm gì?
Trong
nhiều cuộc trao đổi về tình hình đất nước, câu hỏi cuối cùng thường
được đặt ra là: “Làm gì?” Làm gì để đất nước tránh được khủng hoảng
và tiếp tục phát triển ổn định và nhanh chóng? Làm gì để vừa có
một trạng thái xã hội cởi mở, mọi người dân cùng nhau xúm vào xây
dựng đất nước, lại vừa bảo đảm phát huy vai trò lãnh đạo của đảng
trong xã hội? Nói đúng hơn, đảng phải thay đổi sự lãnh đạo của mình
như thế nào để có thể lãnh đạo thành công sự phát triển xã hội,
để bảo đảm vai trò được mọi người thừa nhận của mình?
Những
câu trả lời thật không đơn giản, và không ai có thể trả lời được -
dù là cấp lãnh đạo cao nhất đi nữa - những câu hỏi trên. Một yêu
cầu hết sức cấp bách, có tầm quan trọng sống còn là phải HUY ÐỘNG
SỨC MẠNH TRÍ TUỆ TOÀN DÂN TỘC. Có lúc cũng đã nghe thấy nói tới
điều này trong các bài phát biểu này khác của một số vị lãnh dạo,
nhưng rồi không những sức mạnh trí tuệ không được phát huy mà còn bị
đè nén nhiều hơn.
Trong
các văn kiện của Ðảng vẫn có nói: CẦN ÐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH
ÐẠO CỦA ÐẢNG. Tôi cho rằng cần đổi mới như sau: từ bỏ phương thức
toàn diện, tuyệt đối, triệt để mà thay bằng phương thức giữ vai trò
LÃNH ÐẠO VỀ CHÍNH TRỊ, CÒN LẠI QUỐC HỘI, CHÍNH PHỦ, MẶT TRẬN PHẢI
CÓ NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN ÐỘC LẬP CỦA MÌNH.
Ai
cũng hiểu rằng, sức mạnh trí tuệ của toàn dân tộc chỉ có thể được
phát huy trên nền tảng những thể chế dân chủ, không có những thể
chế này thì không thể có sự tồn tại của sức mạnh trí tuệ nữa, chứ
không phải chỉ là không thể phát huy. Tôi nhấn mạnh mấy chữ ôthể
chế dân chủ,” nghĩa là các quyền dân chủ được thể chế hóa về mặt
pháp luật một cách đầy đủ và bắt buộc mọi người phải tuân theo
những thể chế ấy. Mọi lời hô hào về “ý thức dân chủ” về “vai trò
làm chủ” của nhân dân đều trở thành vô nghĩa nếu không có những
thể chế dân chủ vững chắc.
Xin
nhấn mạnh: ÐỂ THOÁT KHỎI TÌNH TRẠNG NẶNG NỀ HIỆN NAY VÀ BẢO ÐẢM CHO
TƯƠNG LAI SÁNG SỦA CỦA ÐẠT NƯỚC, THÌ MỘT ÐIỀU CƠ BẢN, MỘT ÐIỀU THEN
CHỐT, MỘT ÐIỀU QUYẾT ÐỊNH LÀ PHẢI THỰC SỰ DÂN CHỦ HÓA, THỰC SỰ
THỰC HÀNH DÂN CHỦ ÐỂ CHO NHÂN DÂN CÓ QUYỀN LỰC THỰC SỰ TRONG KHI
THỰC HIỆN QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA MÌNH.
Muốn
thế, trước hết phải thay đổi tư duy về dân chủ, ít ra trên mấy điểm
sau đây:
-Một:
Trong quan niệm về dân chủ, không nên cứng nhắc chia ra: ôdân chủ tư
sả n” và “dân chủ vô sản,” và cho rằng hai cái đó cứ phải loại
trừ nhau. Phải thừa nhận rằng, dù đã có và đang có nhiều hạn chế,
nhưng các nước phát triển, mà ta t hường gọi là các nước “tư bản
phương Tây” đã có nhiều thành công về xây dựng và hoàn thiện chế
độ dân chủ, đáng để ta nghiên cứu. Không phải các nước đó làm gì
ta cũng làm theo, nhưng không phải cái gì họ làm đều là phản động,
là xấu xa, là lừa bịp cả. Dân chủ ở các nước đó không được ai ban
phát cho, nó là thành quả đ ấu tranh của các tầng lớp nhân dân
rộng lớn trong nhiều thế kỷ liền. Các quyền t ự do, dân chủ, các
quyền con người, nhà nước pháp quyền, v.v... là những cái chúng ta
chưa làm và cũng chưa biết cách làm, cần phải học tập. Cần phải
thừa nhận NHÂN LOẠI HIỆN NAY CÓ NHỮNG GIÁ TRỊ DÂN CHỦ CHUNG mà ta
nhất thiết phải thực hiện để bảo đảm quyền lực và quyền lợi gắn
liền với trách nhiệm của nhân dân. Chúng ta phải lưu tâm học tập
Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi trọng các giá trị dân chủ
của nhân loại, đã trích dẫn hai câu quan trọng về dân chủ và nhân
quyền từ hai bản Tuyên bố và Tuyên ngôn của cách mạng Mỹ và Cách
mạng Pháp thế kỷ XVIII, để mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng ta phải tiếp tục suy nghĩ, như bác Hồ đã
suy nghĩ, về vấn dề thực thi dân chủ ở nước ta ngày nay. (Tôi dám
khẳng định: nếu trong những ngày đầu cách mạng, chúng ta không nêu
cao chế độ dân chủ, thì không thể tập hợp được các tầng lớp nhân
dân đông đảo. Không lẽ chúng ta chỉ nói dân chủ mà không làm dân
chủ như đã hứa thủa ban đầu?)
Hai:
Ta thường tự hào “chế độ ta là chế độ dân chủ cao gấp nhiều lần
dân chủ tư sản.” Vậy ta phải thực hành điều đó rõ rệt. Không thể
để xẩy ra tình trạng n hững người sống trong xã hội ta cứ cảm thấy
bị gò bó, không thoải mái bằng sống trong các xã hội tư bản. Nhiều
cán bộ lãnh đạo của nước ta sang thăm các nước tư bản về, đều phải
nhận xét rằng, đời sống người dân các nước ấy vừa cởi mở, tự d o
hơn, vừa tuân theo pháp luật một cách nghiêm túc hơn. Mọi người được
pháp luật bảo vệ, không để cho các quyền tự do dân chủ của mình bị
xâm phạm. Trong khi đó thì ở nước ta, luật pháp đã thiếu lại không
nghiêm minh, nhiều người có trách nhiệm bảo vệ luật pháp lại vi
phạm luật pháp đến mức nghiêm trọng (trong những năm gần đây, ngồi
ghế bị cáo trước các tòa án ngày càng có nhiều cán bộ công an,
kiểm tra và cả tòa án nữa). Có lúc ta dề xướng ôNhà nước pháp
quyền” (có thêm mấy chữ xã hội chủ nghĩa), nhưng chưa kịp hiểu đó là
cái gì thì lại “thu hồi,” hoặc chỉ nhắc tới hời hợt và chiếu lệ, ở
đây, cần phải khắc phục một quan niệm sai lầm là: sợ có dân chủ
thì mất kỷ cương, đưa tới hỗn loạn. Ngược lại mới đúng, thiếu dân
chủ mới chính là nguyên nhân đưa tới mất kỷ cương, hỗn loạn. CÒN
DÂN CHỦ, VỚI LUẬT PHÁP RÕ RÀNG VÀ NGHIÊM MINH LẠI LÀ ÐIỀU KIỆN BẢO
ÐẢM SỰ ỔN ÐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI. Thực hành dân chủ tới
nơi tới chốn, sẽ tước bỏ ngọn cờ dân chủ và nhân quyền của những
“thế lực thù nghịch.” Ngọn cờ đó phải thuộc về chúng ta.
Ba:
Nước ta trong nhiều thập niên liền quen sống trong những điều kiện
chiến tranh, người dân sẵn sàng phục tùng sự chỉ huy từ trên xuống
để thực hiện “tất cả cho chiến thắng.” Người dân đã tự nguyện thu
hẹp, thậm chí hy sinh những quyền tự do dân chủ của mình. Ðây là
việc ta hoãn lại một món nợ đã vay của dân, đến thời hạn, ta phải
trả nợ sòng phẳng. Trong hoàn cảnh hòa bình xây dựng đất nước hiện
nay, chế độ mà người dân từng hy sinh để bảo vệ phải thực hiện
trọn vẹn phương châm “do dân, của dân, vì dânọ không thể để chế độ
trở thành “do một nhóm nhỏ, vì một nhóm nhỏ, của một nhóm nhỏ.” Nếu
không làm như vậy, người dân sẽ không coi chế độ là của mình nữa.
Bốn:
Gần đây có người đề xướng rằng phải làm kinh tế trước đã, rồi sau
đó mới nói tới dân chủ. Thực tế cho thấy hoàn toàn ngược lại.
Trong hoàn cảnh đất nước nghèo khó và lạc hậu như nước ta, muốn xây
dựng đất nước, phải huy động toàn bộ nội lực. Không thể huy động
nội lực được, khi người dân không có các quyền dân chủ, dù là tối
thiểu. Người dân phải có quyền biết và quyết định mình phải đóng
góp những gì, bao nhiêu, những đóng góp của mình (vay vốn bên ngoài
cuối cùng cũng là sự đóng góp của dân) được chi vào những gì, có
hợp lý hay không, và những đóng góp của mình sẽ mang lại cho mình
những gì. Không thể để của xã hội cho một số ít người thao túng. Tệ
nạn tham nhũng gần như vô phương cứu chữa hiện nay chính là do sự thao
túng ấy đẻ ra.
Kinh
nghiệm nóng hổi của một số nước Ðông Á và Ðông Nam Á đã cho thấy
sự thao túng tài chính - tiền tệ của một nhóm người (liên kết giữa
một số quan chức chính phủ và những ngân hàng đầu sỏ thành một hệ
thống khép kín) là một trong những nguyên nhân sụp đ” của các nền
kinh tế tưởng chừng rất mạnh. Các cuộc khủng hoảng đó, như đã thấy,
chính là do thiếu dân chủ, do dân chủ nửa vời, do không có những
thể chế dân chủ đầy đủ để mỗi người dân có thể kiểm soát được
những hoạt động tài chính - tiền tệ.
Ðúng
là dân chủ không thể xây dựng trong mỗi ngày. Phải hàng chục năm,
thậm chí hàng trăm năm mới xây dựng được những thể chế dân chủ
vững chắc. Nhưng đó không phải là lý do để trì hoãn việc xây dựng
các thể chế dân chủ và thực thi dân chủ.
Tình
hình đất nước đang đòi hỏi dân chủ hóa một cách bức thiết. Tôi
không nói rằng dân chủ hóa là thuốc trị bách bệnh, còn phải làm
những việc khác nữa mới đưa đất nước lên con đường phát triển như
mọi người đều mong muốn, mới rửa được cái nhục nghèo khó và tụt
hậu. Nhưng DÂN CHỦ HÓA LÀ ÐIỀU KIỆN KHÔNG THỂ THIẾU, ÐIỀU KIỆN ÐẦU
TIÊN để đảm bảo sự phát triển của đất nước. Khi người dân không
có tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội,
tức những quyền tự do tối thiếu của một chế độ dân chủ, thì mọi
bàn luận về sự phát triển của đất nước, về hiện đại hóa đất nước
chỉ là vô ích.
Bởi
vì, như đã nói ở trên, chỉ có những quyền tự do này mới tạo nên
được sức mạnh trí tuệ toàn dân tộc, và chỉ có sức mạnh này mới đưa
tới sự phát triển của đất nước.
Tất
cả những điều tôi vừa nói là hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp 1992
của nước ta, trong đó đã quy định rõ các quyền tự do ấy. Vấn đề bây
giờ là nghiêm chỉnh thực hiện Hiến pháp này.
Bốn: MÔT VÀI ÐIỀU TÓM TẮT VÀ KẾT LUẬN
VỀ TÌNH HÌNH
1
- Ta cần có một cái nhìn tổng quát về TÌNH TRẠNG ÐẠT NƯỚC. Ðất nước
ta vốn là một trong số ít nước nghèo khó và lạc hậu nhất thế giới,
lại phải trải qua hơn 30 năm chiến tranh tàn khốc liên miên. Thêm
vào đó do nhiều lý do, những năm đầu của thập niên 80 đất nước ta
đã ở bên bờ vực thẳm. Cuộc đổi mới khởi phát từ năm 1986 đã đưa
nước ta ra xa khỏi bờ vực thẳm đó. Hơn 10 năm ta đã có một số thành
tích và tiến bộ, nhưng về cơ bản NƯỚC TA VẪN LÀ MÔT ÐẠT NƯỚC NGHÈO
KHỔ VÀ LẠC HẬU. Một số thay đổi tốt ở một số thành phố chỉ mới
là dấu hiệu của một bước tiến bộ bước đầu. Nhưng đó là những điều
kiện tốt đẹp để ta đưa đất nước ta phát triển lên!
Ta
đang phát triển một cách đầy ngập ngừng bất trắc và phức tạp, xã
hội ta đang gặp phải những tệ nạn và bệnh hoạn nguy hiểm. Tinh thần
chung các tầng lớp nhân dân là thiếu lòng tin, thờ ơ, nặng về vị
kỷ, thiếu một hùng khí yêu nước để đẩy đất nước lên. Cần phải nhìn
tình hình với con mắt khách quan, toàn cục và bình tĩnh như vậy, từ đó
mà xem xét, toan tính bước đi lên cho thật thích hợp.
2
- Ta đang đứng trước hai nguy cơ hiểm ác:
Nếu
không ra khỏi cái bùng nhùng, bệnh hoạn thì sẽ bị sụp đổ, mà là
một sự sụp đ” không ai cứu nổi.
Nếu
cứ để bùng nhùng kéo dài thì tình hình xã hội sẽ mất ổn định ngày
càng lớn, Ðảng lại buộc phải đối phó, đàn áp và cuối cùng CŨNG
TAN RÃ. Nguy cơ hiện nay là cực kỳ nghiêm trọng, không phải là nhận
định 4 nguy cơ “nhẹ nhàng” như trước.
-
Tụt hậu ư? KHông phải nguy cơ mà là ta đang tụt thật.
-
Tham nhũng ư? Không phải là nguy cơ mà đang là quốc nạn.
-
Kẻ thù bên ngoài ư? Không có gì rõ rệt, chỉ có ta đang tự làm hại
ta.
-
Chệch hướng ư? Hướng nào? Hướng tư bản chủ nghĩa ư? - Thế là phản
động, phản cách mạng? - Hướng xã hội chủ nghĩa ư? Ðấy là thất bại,
là ngõ cụt! Ta đã có hướng rõ đâu mà chệch, TA ÐANG CHỆCH CHOẠNG.
3
- Hội nghị trung ương 4 đề ra “phát huy nội lực” đó là một tiền đề
đúng. Nhưng phải nâng khẩu hiệu đó lên thành ra những tư tưởng chiến
lược và tư tưỏng chung, không phải ở mức chiến thuật cứu nguy, không
phải chỉ là kinh tế. Cần quan niệm:
-
Nội lực gồm kinh tế (vốn trong dân, tài năng kinh doanh, tài nguyên
đất nước, lao động), chính trị, văn hóa (tự do, dân chủ thật sự và
rõ ràng), trí tuệ và tài năng (cũng yêu cầu tự do dân chủ). Vì
vậy, phát huy nội lực phải dân chủ hóa mạnh mẽ, dân chủ hóa mạnh
mẽ sẽ tạo nên hùng khí yêu nước, rửa nhục nghèo khổ, lạc hậu, tài
năng nở rộ, nội lực sẽ phát triển mạnh mẽ.
-
Ta không nên sợ có giai cấp tư sản, mà phải tạo mọi điều kiện để
hình thành một tầng lớp kinh doanh giỏi. Ðó cũng là một nội lực.
Trên
cơ sở quan niệm đó, mà điều chỉnh hướng đi cho phù hợp với các trào
lưu và kinh nghiệm thế giới. Chắc chắn ta sẽ tiến mạnh không cần
nhiều khẩu hiệu.
Muốn
được như vậy, thì Ðảng là yếu tố quyết định: Ðảng phải tổ chức thảo
luận những vấn đề chung và có nhiều phương án.
Cần
xác định một tư tưởng chỉ đạo bao trùm cao nhất là “Phát triển đất
nước là thiêng liêng nhất, cao nhất, hơn bất cứ cái gì khác.” Bảo
đảm sự lãnh đạo của Ðảng cũng cần nằm trong tư tưởng chỉ đạo đó và
đảng cần làm tròn vai trò quyết định của mình bằng cách PHẢI KIÊN
QUYẾT, CHỦ ÐỘNG TỰ ÐỔI MỚI. Như thế, vai trò của Ðảng càng được
bảo đảm, không những thế, càng được nâng cao! Xin nói tiếp về Ðảng:
NÓI VỀ ÐẢNG
1
- Cần khẳng định là Ðảng cộng sản Việt Nam đã có vai trò tuyệt vời
trong cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất nước nhà. Giai đoạn
này Ðảng được tổ chức và hoạt động theo những nguyên lý xây dựng
đảng chiến đấu. Ðiều đó đã tạo cho Ðảng một sức mạnh chiến đấu vô
địch và Ðảng đã cùng nhân dân chiến đấu oanh liệt giành thắng lợi
lớn.
Những
nguyên lý phù hợp với tình thế cách mạng võ trang và chiến tranh thì
như thế. Nhưng trong tình thế xây dựng trong hòa bình mà máy móc áp
dụng những nguyên lý đó thì tạo ra nhiều yếu tố làm suy yếu sức
mạnh của Ðảng và làm cho Ðảng xa dần nhân dân, mất dần lòng tin
trong nhân dân.
2
- Nay có câu hỏi của nhiều thế hệ đặt ra (và nhiều hơn là ở thế
hệ lão thành) là: Tại sao Ðảng bay giờ khác Ðảng ngày xưa? Cái khác
rõ ràng là:
Ngày
xưa ÐẢNG VỚI DÂN LÀ MỘT, nguyện vọng, ý chí của từng đảng viên
cũng là ý chí, nguyện vọng của mỗi người dân. Ðảng sống trong dân,
Ðảng là dân, dân nuôi Ðảng, bảo vệ Ðảng, chia sẻ ngọt bùi, chia
đạn, chia máu với Ðảng. Vì vậy thật tốt đẹp. Ai đã sống qua đều tha
thiết, tiếc nuối mối quan hệ đó.
Ngày
nay ÐẢNG VỚI DÂN LÀ HAI. Ðảng là ai? Ðảng là những người cai trị có
quyền lực, cai trị dân và dân vẫn như ngày xưa, là những người bị cai
trị, thấp cổ” bé họng.
Ngay
trong Ðảng cũng chia thành hai: Một lớp đảng viên lãnh đạo có quyền
lực và quyền lực cao hơn, còn đa số đảng viên thường vẫn chỉ sống
với nguyên tắc dân chủ tập trung: chỉ biết quán triệt các đường
lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị, và chấp hành vô điều kiện.
Không có điều kiện bàn bạc, và không thể bàn luận gì được (kể cả
các đảng viên lão thành).
Tại
sao lại có tình hình MỘT THÀNH HAI như vậy?
Xin
tạm thời lý giải:
1
- Trước đây, nhiệm vụ chung của mọi người là đấu tranh cho độc lập,
thống nhất. Ngày nay, người có nhiệm vụ lãnh đạo, cai trị, người có
nhiệm vụ phục tùng sự cai trị.
2
- Lẽ ra, từ chỗ ÐẢNG - DÂN, giành được chính quyền rồi thì Ðảng cần
thiết phải có một thời gian là ÐẢNG - NHÀ NƯỚC, rồi khi Nhà nước
đã lớn mạnh thì Ðảng lại phải tách ra và trở lại là ÐẢNG - DÂN,
chỉ làm việc lãnh đạo chính trị thôi, còn việc quản lý, cai trị và chuyên
môn là việc của nhà nước, để nhà nước làm, mà trong Nhà nước cũng
đã có nhiều đảng viên rồi. Nhưng ta đã không làm thế, ta cứ làm
ÐẢNG - NHÀ NƯỚC mãi.
Thật
là phúc lớn cho đất nước và cho cả những đảng viên đã suốt đời vì
Ðảng, nếu Ðảng nhìn rõ tình hình, tự mình đổi mới, tự mình chủ động
cải cách, nếu không hậu quả thật khó lường.
Thêm
vào đó, các đảng viên của nước ta, đặc biệt các đảng viên có vị
trí lãnh đạo cao, đều bị tiêm nhim rất nặng nề (mà không biết) tâm
lý tiểu nông (nhỏ nhen, tủn mủn, kèn cựa, ganh tĩ) và tâm lý thói
xấu của xã hội phong kiến (hiếu danh, đẳng cấp). Thế trong cuộc sống
cứ “đảng hóa” và “Lenin hóa” các tâm lý và thói xấu đó để “đấu
tranh.” Vì vậy, không thể chấm dứt được tình trạng ômất đoàn kết”
và các thứ vận động “xây dựng đảng” đều trở thành hình thức một
cách thảm hại. Ta có rất nhiều “đảng bộ trong sạch, vững mạnh” mà
tình hình tệ nạn, bệnh hoạn xã hội, không giảm lại cứ tăng lên.
3
- Khi ÐẢNG - DÂN (Ðảng và Dân là một) thì phương thức lãnh đạo của
Ðảng là toàn diện, triệt để. nay phải “thay đổi phương thức lãnh
đạo,” như nhiều nghị quyết của Ðảng đã nói thì phương thức lãnh đạo
của Ðảng cần đổi mới.
Tiếc
thay, hiện nay Ðảng là ÐẢNG TRỊ, LẠI ÐỘC TÔN, không có bất cứ một
cơ chế giám sát nào, không có bất cứ một lực lượng giám sát nào,
kể cả những người ở trong Ðảng. Ðã độc tôn thì tất yếu đi tới lộng
quyền.
Cần
phải thực hiện phương thức:
ÐẢNG
CHÌ NÊN LÀ LÃNH ÐẠO CHÍNH TRỊ, còn các tổ chức khác: Chính phủ, Quốc
hội, Mặt trận phải có nhiệm vụ và công việc của mình. Các tổ chức
đó phải độc lập giải quyết lấy việc của mình. Sinh hoạt của Ðảng
trước đây chủ yếu là “quán triệt, chấp hành” thì nay sinh hoạt Ðảng
nên chủ yếu là bàn luận, thảo luận trong Ðảng, thảo luận với Dân
(qua tự do ngôn luận, tự do báo chí, xuất bản).
Như
vậy, vai trò của Ðảng không giảm, không mất, mà lại càng được củng
cố và nâng cao. Nếu cứ giữ mãi cảnh ÐẢNG - NHÀ NƯỚC thì dân ngày
càng xa Ðảng, uy tín và vai trò của Ðảng ngày càng thấp và mất dần.
Hiện
nay, có thể nói một cách chắc chắn rằng, không có một thế lực nào
ở trong nước hay ngoài nước có thể phá được Ðảng cộng sản Việt Nam.
Chỉ có Ðảng tự mình không thích ứng làm suy yếu mình thôi.
Muối
giải quyết các vấn đề trên thì việc cốt tử là phải dân chủ hóa.
Dân chủ hóa là làm từng bước, có những việc “cần làm ngay.” Xin
kèm đây một phụ lục về hai việc cần làm ngay.
Cuối
1997 đầu 1998
Trần
Ðộ
HAI VIỆC CẦN
LÀM NGAY ÐỂ THỰC HÀNH DÂN CHỦ
Ðể thực hiện một nền dân
chủ tiến bộ làm cho đất nước có thể sánh ngang với thế giới, không
cần làm nhiều việc phức tạp, cần nhiều thời gian mà chỉ cần làm hai
việc đơn giản rất hiện thực và khả thi, đó là những điều đã ghi
trong Hiến pháp, mà ta chưa thực hiện.
1 - Ban hành
một chế độ, một bộ luật về tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và do
đó tất yếu là phải tự do báo chí và tự do xuất bản.
Thực hiện việc này, chỉ
cần b” sung hoặc thay đổi hai bộ luật đã có là luật báo chí và luật
xuất bản. Hai luật đã có này đều đã đi ngược lại tinh thần và lời
văn của Hiến pháp 1992 và cả các bản Hiến pháp có trước, nhất là
Hiến pháp 1946. Bây giờ cần có luật cho phép tư nhân có quyền ra
báo chí và lập nhà xuất bản chỉ cần thông báo cho cơ quan nhà nước
và chấp hành mọi luật lệ của nhà nước, không phải xin phép ai. Ðó
là điều mà nhân dân ta đã có ngay trong thời Pháp thuộc. Gần đây
anh Nguyn Văn Trấn đã viết một cuốn sách dài “Gửi Quốc Hội và Mẹ”
cũng chủ yếu nói có điều này và tỏ lòng ước vọng sao cho nhân dân
ta được DÂN CHỦ BẰNG THỜI PHÁP THUÔC! Thật mỉa mai, báo chí sẽ được
độc lập với Nhà nước, không bị bất cứ một sự chỉ đạo, kiểm soát
nào.
Luật của ta (đã có) nhấn
mạnh điều “không kiểm duyệt trước khi in,” làm như đó là chứng tỏ
sự dân chủ ghê gớm. Thực ra các cơ chế “thống nhất quản lý” báo
chí của Ðảng và Nhà nước (chủ yếu là ở các cấp ủy và cơ quan của
Ðảng) còn “gay gắt và ngặt nghèo hơn hàng ngàn lần là có kiểm
duyệt.” Vì có kiểm duyệt thì tình hình nó lại rõ ràng và sòng phẳng,
hơn rất nhiều lần lối kiểm duyệt vô hình.
- Thực hiện điều này,
trước hết là thực hiện được việc “Nhân dân có tiếng nói thực sự”
và tiếng nói này trước hết là tiếng nói của các tầng lớp trí thức
và lão thành, có tiếng nói này được phát biểu mạnh mẽ thì sẽ có
một lực lượng đông đảo giám sát, ngăn chặn nạn tham nhũng và các
tiêu cực khác mà ta có lập hàng trăm, ngàn cơ quan Ủy ban, Hội
đồng... cũng không có tác dụng bằng mà làm cho tham nhũng càng phức
tạp thêm.
- Có tiếng nói kiểu này
là thực hiện việc giám sát các cơ quan nhà nước, và cả các cơ quan
đảng (và nhất là các cơ quan đảng hiện nay không chịu bất cứ một sự
giám sát nào, và đã có nhiều biểu hiện lộng quyền, muốn làm ngược
làm xuôi thế nào, nói ngược, nói xuôi thế nào cũng được, cũng bắt
người ta phải theo) có sự giám sát này mới thực hiện được đúng
khẩu hiệu:
Do dân, của dân, vì dân
Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
Quốc hội hiện nay không
làm được việc giám sát Chính phủ, không thực hiện được chức năng
“quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước” mà thường bị Chính
phủ “tiền trảm hậu tấu,” bị động. Quốc hội làm ra luật, nhưng làm ra
luật để làm gì, nếu có nhiều người cứ làm ngược lại luật, làm sai
luật, mà Quốc hội đành bất lực không có chút quyền lực nào can
thiệp, thì thành tích làm luật cũng bằng không.
- Thực hiện tự do ngôn
luận, tự do báo chí, mọi người hăng hái đua nhau phát biểu ý kiến
về những vấn đề đất nước, từ đó ta sẽ phát hiện được nhân tài,
nhân dân sẽ phát hiện được người hay hay kẻ dở, giúp cho Ðảng thu
thập được nhiều ý kiến, phát hiện được nhiều vấn đề và phát hiện
được nhiều nhân tài.
Có người ngại rằng tự do
báo chí thì sẽ tự do lung tung, lộn xộn, kẻ xấu kích động, kẻ thù
lợi dụng, là, mất ổn định chính trị. Sự sợ hãi đó là không căn cứ.
Sự việc ở Thái Bình về cơ bản là xuất phát từ nguyên vọng chính
đáng, và sự bất bình cũng chính đáng của nhân dân.
Nếu ta cứ thiếu dân chủ
thì có nhiều kẻ địch sẽ kích động và lợi dụng mạnh hơn. Nếu ta thực
thi dân chủ, thì chính là một đòn đánh mạnh vào các thế lực thù
địch và gây được nhiều cảm tình với nhân dân thế giới. Trình độ dân
chủ thế giới đã tiến tới trình độ bầu cử tự do và phổ biến, nhân
dân có quyền phản đối các bộ luật dự kiến thông qua, tuyên bố
không chấp hành đạo luật nào đã thông qua mà ảnh hưởng xấu đến
quyền lợi nhân dân.
Trong tình hình đó, thực thi
dân chủ rộng rãi và mạnh mẽ là ta tích cực hòa nhập vào thế giới.
Trong khi ta đã có 400 tờ
báo trong các tổ chức “được thống nhất quản lý,” nếu có một, hai
tờ báo độc lập thì sinh hoạt tư tưởng của xã hội sẽ sôi động và
tốt đẹp hơn, các bậc trí thức, các vị lão thành có chỗ phát biểu ý
kiến. Ðảng và Nhà nước có nhiều điểm tham khảo và ngăn ngừa, Ðảng
và Nhà nước sẽ tốt đẹp hơn lên, không cần có những vụ án gây xôn
xao như vụ Hoàng Minh Chính, Hà Sỹ Phu và vụ đang quản thúc nhà thơ
Bùi Minh Quốc.
CHO RẰNG THỰC HÀNH DÂN
CHỦ, SẼ MẠT ỔN ÐỊNH CHÍNH TRI LÀ SỰ NGỰƠC ÐỜI. Chỉ có mất dân chủ,
mở rộng tham nhũng, mới làm cho xã hội, nhân dân ấm ức, bất bình,
từ đó xã hội không thể ổn định được.
2 - Vấn đề
thứ hai: Vấn đề bầu cử
Bầu cử và ứng cử là một
thể chế then chốt quan trọng của chế độ dân chủ. Thực hiện dân chủ
tập trung cũng phải qua bầu cử, ứng cử. Bầu cử càng tốt, càng chính
xác thì chế độ dân chủ tập trung càng vững mạnh. Hơn bất cứ một
lời kêu gọi nào! Không thể không nhìn qua tình hình bầu cử, ứng cử
của ta hiện nay. Ta đang nói nhiều đến “dân chủ trực tiếp” và “dân
chủ đại biểu,” bàn về điều đó không có ý nghĩa gì, mà nhìn qua vào
tình hình bầu cử, ứng cử của ta để đề xuất một thể chế tốt hơn, thì
hay hơn.
Tình hình bầu cử và ứng
cử của ta có mấy nét tóm tắt mà nhân dân ai cũng biết, ai cũng
không tán thành, nhưng cứ phải làm theo:
- Rất coi trọng cơ cấu,
định cơ cấu xong mới tính đến nhân sự. Trong cơ cấu thì phải thỏa mãn
nhiều cân đối:
- Ðảng viên, không đảng
viên, địa phương, dân tộc, nam, nữ, tuổi trẻ. Trong khi dồn sức lực
vào việc cơ cấu, tất yếu là rất ít chú trọng đến chất lượng người
ứng cử.
- Việc đề ra tiêu chuẩn
thường là chung chung, mơ hồ, hiểu thế nào cũng được, không có những
yêu cầu kiểm chứng cụ thể. Tình hình này rất khó cho người bầu cử
cân nhắc và lựa chọn. Mọi người đều “đi bầu cho xong việc” mặc cho
các phương tiện tuyên truyền về “ngày hội,” nhưng không ai thấy trong
lòng mình một tý “ngày hội” nào.
- Mọi phương án nhân sự
đều do một trung tâm xếp đặt, chỉ đạo. Tất cả những người đi bầu chỉ
biết làm theo. Dân đã có câu: “Ðảng cử, dân bầu,” như vậy thì ta hô
“dân làm chủ,” nhưng thực ra chỉ có Ðảng làm chủ thôi.
- Tuyên bố cho “ứng cử tự
do,” nhưng không một ứng cử viên tự do nào được độc lập. Kết quả
thường chỉ có vài người, gọi là ứng cử tự do, nhưng thường là không
bao giờ trúng được.
- Chế độ “hiệp thương” ở
Mặt trận Tổ Quốc là một chế độ chắt lọc rất hữu hiệu để gạt tất
cả những người ứng cử tự do không để họ có cơ hội lọt vào danh
sách. Ai cũng biết thế, nên nhiều người dù có muốn ra làm việc cho
dân cho nước, cũng chán nản mà co lại không muốn đua tranh. Việc quy
định ở Quốc hội, chỉ có 80% đảng viên là chứng tỏ một thiện chí của
Ðảng. Nhưng thế giới họ nhận xét: 70 triệu dân chỉ có 20% đại biểu
trong quốc hội, còn 2-3 triệu đảng viên lại có đến 80% đại biểu. Ðó
không phải là họ nói xấu, họ kích động, mà họ nói lên một sự
thật. Theo cách nhìn của họ, ta không tán thành cách nhìn đó, nhưng
cũng chẳng làm cách nào thay đổi được sự thật đó.
Ðó là chủ yếu nói vế
cuộc bầu cử Quốc hội, nhưng chế độ bầu cử của ta ở trong Ðảng hay
ngoài Ðảng, ở bất cứ cấp nào cũng đại khái thế cả. Tuyệt nhiên,
không thể coi đó là một chế độ bầu cử dân chủ.
Tôi đề nghị một chế độ
bầu cử, ứng cử có mấy điểm như sau, tạm đặt tên là “BẦU CỬ NHIỀU
VÒNG” có thể thực hiện ở mọi cấp, mọi ngành:
1 - Việc giới thiệu ứng
cử viên, không nên hạn chế ở một số cơ quan có quyền lực, mà nên
thực hiện: nhiều vòng giới thiệu:
Vòng một: Công bố yêu
cầu của ứng cử viên (thay cho đề ra tiêu chuẩn) tôi xin nói sau, yêu
cầu mọi người có liên quan giới thiệu danh sách. Tất nhiên sự giới
thiệu sẽ đưa ra một số lượng khổng lồ. Ví dụ cần có 10 người, thì
danh sách giới thiệu có thể lên hàng ngàn.
Vòng hai: Trên kết quả
của sự giới thiệu đó, công bố rộng rãi (đến khắp mọi người có liên
quan) và yêu cầu nói rõ là chỉ cần bầu có 10 người vậy mọi người
giới thiệu hãy lựa chọn trong số hàng ngàn người đó lấy ra một danh
sách độ 30 người. Và yêu cầu giới thiệu lại lần thứ hai một danh
sách 30 người.
Sau khi trưng cầu thế rồi,
tất nhiên danh sách vẫn có thể có quá nhiều, đến 80-100 thì lại
trưng cầu lần thứ ba, yêu cầu mọi người căn cứ vào danh sách đã
tổng hợp lần thứ hai, chọn một danh sách giới thiệu 10 người. Sau
đợt này thì số danh sách còn lại độ 20-30 người hoặc 40-50 người là
một số lượng có thể chấp nhận, đưa ra thành danh sách bầu cử. Tất
cả mọi bước đều làm công khai, tất cả mọi người đều biết và đều
theo dõi được quá trình.
Như vậy là tất cả cử tri
tham gia lập danh sách ứng cử viên, mà không phải bất cứ một sự
hiệp thương nào, ở cơ quan nào cả. Cơ quan tổ chức, hoặc cơ quan bầu
cử chỉ còn việc thẩm tra tư cách và yêu cầu của một số ứng cử
viên có hạn, và không còn phải vắt óc tìm ứng cử viên. Như thế
mới bỏ được tư tưởng “cơ cấu” mà vì theo tư tưởng đó nhiều khi mọi
người phải bầu những người hoàn toàn không xứng đáng. Vòng 3, vòng
4 là sự bầu cử trên một danh sách mà tất cả các cử tri đã tham gia
cân nhắc và chọn lựa.
2 - Về cái gọi là tiêu
chuẩn ứng cử viên, tôi đề nghị bỏ khái niệm tiêu chuẩn vì đã là
tiêu chuẩn thì phải đong đếm được, đằng này nêu những tiêu chuẩn
với một con người cụ thể mà có nhiều cách trình bầy khác nhau thì
nó rất mơ hồ và rất không chính xác, nó chỉ thích hợp với sự tùy
tiện của những người có quyền lực quyết định: “Yêu nhau củ ấu cũng
tròn,” thay vào đó nên đề ra “yêu cầu,” đại để như:
Yêu cầu về
đức:
- Không phản quốc, không
phạm tội, hoặc đã phạm tội nhưng đã được xóa án
- Có tinh thần tận tụy
với công việc
- Có tinh thần tích cực
học tập luôn cầu tiến
- Có tinh thần khiêm
nhường, thân ái và quý trọng mọi người
- Ăn ở tử tế với “ng bà,
cha mẹ, vợ con, và những người xung quanh.
- Hiểu biết và tôn trọng
đạo lý làm người
- Có lòng trung thực, năng
động trong công việc, biết chịu trách nhiệm về ý kiến của mình
Yêu cầu về
tài
- Có trình độ học vấn, có
trình độ kiến thức, chuyên môn, có kinh nghiệm trong công tác chuyên
môn
- Có tinh thần khiêm tốn,
trách nhiệm cao đối với công việc
- Có năng lực thuyết phục
và động viên, thu hút mọi người say sưa với công tác chung.
- Có chính kiến rõ ràng
về các công việc mình phụ trách.
- Về tuổi, nên yêu cầu
đối với cấp toàn quốc, đại biểu cần trên 40 tuổi, đối với cấp
dưới và cơ sở, yêu cầu trên 30 tuổi, không nên tính chuyện “cơ cấu”
những người ứng cử trên dưới 20 tuổi, thực chất là hình thức thực
hiện trẻ hóa một cách máy móc.
Những yêu cầu trên không
cần phân ra phần đức phần tài, vì theo yêu cầu đó đều là những yêu
cầu về phẩm chất một cán bộ lãnh đạo và quản lý, những phẩm chất
đó đều cần có những chứng thực cụ thể: thể hiện trong hành động
hàng ngày của công việc đang phụ trách, ý kiến dư luận của những
đồng nghiệp và của những công nhân viên dưới quyền, tuyệt nhiên
không thể là một nhận xét suông của một người hay một cơ quan nào!
- Những người ứng cử tự
do, được quyền độc lập với các cơ quan quyền lực, tùy theo sự quan
trọng của từng cơ quan từng cấp mà người ấy ứng cử, người ấy phải
được một số chữ ký ủng hộ việc ứng cử của người ấy. Sau đó tên
người ấy được nhập vào danh sách giới thiệu và được tham gia lựa
chọn qua các vòng.
Như vậy mới thật cụ thể
cái gọi là “làm chủ của dân.” Nhân dân thực sự tham gia giới thiệu
người ứng cử và được bầu cử thực sự tự do, thực sự có sự làm
chủ, sự lựa chọn của mình. Thực hiện việc này chỉ cần thời gian
chuẩn bị lâu hơn, còn không có bất cứ sự bất tiện và sự giả dối
nào.
Thực hiện việc dân chủ
còn nhiều việc phải làm. Trên đây là hai việc có thể làm được ngay
và hoàn toàn có thể làm được không có bất cứ một sự phiêu lưu,
mạo hiểm nào. Nếu ta thật sự tin vào nhân dân, thì ta không sợ bất
cứ một ý kiến xấu nào được dân chấp nhận, không sợ dân bỏ qua
một âm mưu nào bằng lời và bằng người của các loại kẻ địch.
Tất nhiên còn rất nhiều
việc làm để hoàn thiện một nền dân chủ mới, dân chủ xã hội chủ
nghĩa. Nhưng đây là hai việc cụ thể cần làm ngay và có thể làm được
ngay, ít nhất là nó ngăn ngừa được những suy nghĩ và hành động làm
tổn thương đến nền dân chủ của chúng ta mà bác Hồ và toàn dân ta
đã tốn bao xương máu để xây dựng nên như ngày nay. Cần rất thấm thía
sâu sắc lời nói của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là:
“Ðộc lập mà không có tự do, hạnh phúc thì độc
lập cũng không có ý nghĩa.”
Muốn có tự do, hạnh phúc phải có dân chủ!
Trần Ðộ