Vì nhiều lẽ.
Lẽ thứ
nhất là : Thông thường mọi người, phần nhiều là người già, đầu
xuân hay khai bút, làm thơ hoặc viết văn nói lên cảm nghĩ của mình
về mùa xuân. Các nhà văn hay viết văn, các
nhà thơ làm thơ, các cụ không phải là nhà thơ cũng làm thơ. Mấy năm
nay, nhà văn Hoàng Tiến đều viết “Cảm xúc mùa xuân” và đều gửi
tặng tôi. Vì thế tôi là hội viên hội nhà văn, cũng muốn nghí ngoáy
đôi dòng nói lên nhiều điều ứ tràn trong người.
Lẽ thứ
hai là : Kể từ ngày tôi được nổi tiếng là “...”chống”...” (Tuy không ai
nói đến tên), và từ ngày bị được khai trừ thì càng nổi tiếng hơn và
rõ tên tuổi hơn. Tôi nhận được rất nhiều thư
từ của nhiều người gửi đến. Có người là bạn quen, có người chưa
quen. Thư là một bài viết, một tiểu luận, một kiến nghị, một khiếu
nại, một tố cáo, một bài thơ. Có bài có ghi tên để gửi tôi, có
bài không, có bài qua đường bưu điện, có bài cứ thấy được vứt vào
nhà các con cháu tôi nhặt được đưa cho tôi. Có bài có nội dung liên
quan đến tôi, hoặc hoan nghênh tôi ở điểm này, điểm khác, hoặc ngỏ
ý muốn bổ sung cho tôi điểm nọ, điểm kia, hoặc ngỏ ý muốn thảo
luận với tôi. Cũng có bài phê phán tôi. Tôi không có văn phòng
để có người “Công văn đi đến” nên tôi không thống kê và ghi chép ngày
giờ được. Nhưng tôi nhớ đại khái là thời gian tôi nhận được được
nhiều nhất là từ tháng 11 năm 1998 đến nay. Tôi không ghi được số
lượng bản viết, có bản vài trang, có bản trên dưới chục trang. Tổng
cộng số lượng có đến mấy trăm trang giấy. Nội dung thì có thể thu
xếp vào một số hồ sơ như sau :
- Hồ sơ quan
trọng nhất là hồ sơ chống tham nhũng ở cấp cao, vụ thủy cung Hồ
Tây.
- Hồ sơ về vụ án Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu, vụ Nguyễn Trung Thành, vụ
Bùi Minh Quốc.
- Hồ sơ về các góp ý về lãnh đạo và xây dựng Ðảng...
Tôi thấy trong
các ý kiến đó, có nhiều ý kiến giống tôi, có nhiều ý kiến có
thể bổ sung cho tôi. Tôi mơ ước có điều kiện thuận lợi gặp nhau (ví
dụ có một hình thức Câu lạc bộ nhỏ nào đó, hoặc một cơ quan ngôn
luận nào đó) thì có sự trao đổi, tôi chắc chắn là tuyệt vời, vui
vẻ và rất bổ ích, củng cố thêm an ninh Quốc gia. Nhưng tôi chỉ dám mơ
ước như hồi nhỏ mơ ước làm võ sĩ vậy thôi.
Một lẽ khác
nữa là gần đây tôi được nghe thuật lại có một vị lão thành trí
thức phát biểu ở một hội nghị quan trọng, đặt vấn đề và tình hình
thế giới và trong nước bây giờ đã thay đổi lớn lắm rồi, không thể
dùng cách nhìn cũ mà nhìn được nó. Xu hướng toàn cầu hóa các mặt ở
thế giới đang là xu hướng quan trọng chủ yếu. Ta cần đặt vấn đề
nghiên cứu và xác định đường lối. Phải giải quyết vấn đề đường
lối, chứ không thể chạy theo giải quyết những việc cụ thể, nó có
hàng vạn, hàng triệu. Tôi rất tâm đắc ý kiến này. Dòng suy nghĩ
của tôi như được tiếp một sức mới, và tôi thấy có lẽ có nhiều
người khác nữa cũng thấy như tôi.
Một lẽ nữa
là trong năm vừa qua tôi xem ti vi, được xem nhiều phim của Trung Quốc
(Lục Ðịa, Ðài Loan, Hồng Kông) được đọc nhiều tiểu thuyết của Trung
Quốc (nhất là tiểu thuyết lịch sử - tiểu thuyết xã hội, tạp văn).
Tôi thấy nhiều giá trị và tài năng ở các văn nghệ sĩ Trung Quốc
(cả tư bản và xã hội chủ nghĩa). Tôi cứ ấm ức trong người rằng :
Các văn nghệ sĩ Việt Nam, thanh thiếu niên Việt Nam tuyệt nhiên không
thể kém hơn Trung Quốc. Vậy tại sao các tài năng Việt Nam không xuất
lộ được để có những giá trị cao, đẹp ra đời??? Cái tội làm thui chột tài năng trải qua nhiều thế hệ là
tội nặng nhất trong các tội đối với nhân dân và tổ quốc.
Tôi nhìn hình
ảnh các cháu nhỏ tươi vui, thông minh, nhanh nhẹn trên ti vi mà thấy
thắt ruột, thắt gan với câu hỏi : Các cháu lớn lên có được hưởng
hạnh phúc tự do và được tự do phát triển hay không hay lại chỉ có
thể trở thành những con rối? Công lao của Hồ Chí Minh và Ðảng Cộng
Sản lớn nhất là mang lại độc lập, tự do cho Việt Nam! Vậy tự do
đâu? Mùa xuân ơi!
Còn nhiều lẽ
khác nữa, nhưng kể thế tạm đủ rồi.
Hồi tôi 16
tuổi, mới học vỡ lòng làm người cộng sản. Bài học vỡ lòng đầu
tiên của tôi là tổ chức và điều khiển một cuộc “Khai hội” (Ngày
ấy chưa nói Hội nghị và Ðại hội). Công việc quan trọng nhất trong
công tác vận động và giác ngộ quần chúng là Khai hội. Mà Khai hội
thì nghị sự bao giờ cũng có năm tiết mục cố định :
- Tình hình thế
giới
- Tình hình trong nước
Và sau đó:
- Linh tinh
- Phê bình
- Giải tán
Lúc ấy đi khai
hội với quần chúng, bao giờ cũng phải được trang bị mục tình hình thế
giới, hoặc do cấp trên cho, hoặc tự chuẩn bị lấy.
Có lần, sau
cuộc khai hội ở làng tôi, một anh nông dân mời tôi về nhà uống
nước chè xanh, ăn khoai luộc. Anh tỏ vẻ rất phấn khởi vì tiếp xúc
với cách mạng và biết nhìn ra được thế giới, thấy rõ thế giới quan
hệ tới vận mệnh của mình và gia đình mình. Anh ấy khen tôi “Có cái
tinh thần rất cao” và anh hỏi tôi học ở đâu? Và anh ấy yêu cầu tôi
viết ra “Cái tinh thần” ấy cho anh ấy học với. Tôi nhớ rất kỹ kỷ
niệm này. Do đó, bài này cũng phải bắt đầu từ tình hình thế giới.
Tôi được gặp
và nghe (Có được học một ít) nhiều người đọc sách và báo chí thế
giới thuật lại, thì thấy những trí thức, học giả thế giới họ bàn
và nhận định về thế giới ngày nay hay quá, lạ quá, mới quá, rộng
quá, cao quá. Càng nghe họ, mình càng thấy mình “Ếch ngồi đáy giếng”.
Dù sao, tôi cũng thấy được trong thế kỷ qua (thế kỷ XX) có hai sự
việc làm cho lịch sử loài người biến động lớn, tác động mạnh mẽ
đến tiến trình phát triển của loài người. Hai sự việc ấy có thể
thể hiện ra thành mấy câu hỏi:
1- Tại sao ta
dự đoán là Tư bản giãy chết, mà nó không chết, nó lại cứ phát
triển mạnh hơn. Cả thế giới bây giờ đều phụ thuộc vào bảy tám
nước mạnh nhất về kinh tế, văn hóa, xã hội và quân sự. Ðời sống
của nhân dân các nước ấy ngày càng cao. Giai cấp công nhân bây giờ
là công nhân “Cổ trắng” và có đời sống cao hơn cả Nguyên thủ nước
ta. Và những nước lớn ấy đều là nước Tư bản. Tại sao và thế nào?
2- Tại sao ta
bảo “Nội dung của thời đại hiện nay là quá độ từ Tư bản chủ nghĩa
lên Xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới” mà ở cuối thế kỷ
thì Chủ nghĩa xã hội lại biến mất ở tầm thế giới, đánh rụp một
cái, trong vài năm từ thành trì Liên Xô, cho đến hàng chục nước
khác nữa. Sự tan vỡ sao lại diễn ra nhanh gọn thế? Tại sao? Và thế
nào?
Thế giới đã
có những lời giải đáp khác nhau. Việt Nam cũng có những lời giải
thích. Những lời giải thích của Việt Nam có những điều quá mông
muội, quá mơ hồ, quá hồ đồ. Chỉ có việc vác những khái niệm cổ lỗ
để úp lên những thực tiễn quá lớn lao, quá sôi động. Sự giải thích
như vậy trở thành những chuyện tiếu lâm trước các tầng lớp thanh
niên. Bản thân những người tác giả của các lời giải thích cũng tự
biết mình chẳng bịp được ai. Nhưng vì đã trót là người làm cái nghề
“Nói lấy được,” thì cứ việc “Nói lấy được”.
3- Có một câu
hỏi cực kỳ quan trọng nữa mà phải giải đáp được rõ thì mới có cơ
sở trọng yếu mà vạch ra đường lối phát triển đất nước. Ðó là câu
hỏi: Ðặc điểm quan trọng nhất của xu thế phát triển thế giới là gì?
Một điều hết
sức hiển nhiên, ai cũng thấy là thế giới hiện nay không có hai phe
nữa, mà đang hình thành những cực, những khu vực không có quan hệ hai
phe, địch ta mà quan hệ phổ biến cần xây dựng là hợp tác, đua nhau
và phụ thuộc vào nhau. Nhiều lĩnh vực xuất hiện xu hướng toàn cầu
hóa ngày càng mạnh. Ðó là toàn cầu hóa về kinh tế, tài chính, về
văn hóa, về xã hội, về khoa học công nghiệp, về môi trường. Các
vấn đề trên, không có một vấn đề nào mà một nước tự khép kín, dù
cho nước lớn đến bao nhiêu, có thể giải quyết cho mình được. Sự toàn
cầu hóa có thể lan sang lĩnh vực chính trị, và chưa ai ước đoán là nó
sẽ diễn biến thế nào? (Hiện đã có vai trò Liên Hiệp Quốc và
Nghị Viện Âu Châu).
Sự thật hiển
nhiên đó đang phủ nhận một cách phũ phàng cái thứ tư duy mông muội,
là tư duy hai phe. Cái lý luận máy móc : “Ðịch khen thì là ta xấu, địch
chê thì là ta tốt” quá lạc hậu này vẫn còn ngự trị ở một số đầu
óc. Những đầu óc này không chịu được ai chê mình nhưng lại sợ người
ta khen mình, vậy không biết họ muốn gì. Như đối với Việt Nam, có
người chê là thiếu dân chủ. Theo logic trên, thì ta “Thiếu dân chủ”
là ta rất hay rất tốt rồi hay sao?
Trong chiến
tranh, công tác tư tưởng làm sao phân biệt bạn, thù, ta là cực kỳ
quan trọng, mà cũng khá dễ dàng. Còn ngày nay, ai là bạn, ai là
thù? Bạn ở đâu thù ở đâu, cần làm cho rõ. Khẩu hiệu “Việt Nam
muốn làm bạn với tất cả mọi người” là một khẩu hiệu thực, hay chỉ
là nói cho hay thôi, còn không cần làm bạn với ai cả?
Ðất nước Việt
Nam có 4000 năm lịch sử có những thành tích dựng nước và giữ nước,
có những giá trị văn hóa tinh thần cao đẹp. Ðó là những điểm rất
đáng kính trọng, và thế giới đã từng ngưỡng mộ. Trong thế kỷ XX,
dân tộc Việt Nam và Ðảng Cộng Sản đã lập những công tích rực rỡ
xứng đáng với cha ông. Mặt thành công, thắng lợi, ta đã nói khá
nhiều, sự khen tặng của thiên hạ, của bản thân ta cũng đã khá
nhiều. Nhưng hình như ta chưa quan tâm đúng mức với các mặt trái của
cuộc sống. Ví dụ thắng lợi vĩ đại của cách mạng và chiến tranh đã
có một hậu quả hết sức nặng nề. Sự tàn phá, sự kiệt quệ tài
nguyên, sự tổn thất và mất mát của hàng triệu gia đình, hàng triệu
bà mẹ. Ngày nay, sau thắng lợi ta phải chịu một gánh nặng hết sức
lớn về những vết thương và tổn thất chiến tranh, gánh nặng phải đền
bù những hy sinh, phục hồi những tàn phá, tổn thất. Và đó là một
điều kiện khó khăn rất lớn cho việc phát triển kinh tế xã hội, và
sự hàn gắn đoàn kết dân tộc.
Sự hạn chế
về trình độ, về kinh nghiệm của lực lượng lãnh đạo trong phát triển
kinh tế xã hội, không được coi trọng phân tích và nghiêm túc khắc
phục. Cái kiểu tư duy : “Ðã anh hùng trong chiến tranh và đã thắng
được kẻ thù hùng mạnh, thì bất kể khó khăn phức tạp nào cũng dùng
chủ nghĩa anh hùng đó khắc phục dễ dàng”. Ðó là một thứ men say nguy
hiểm!
Hiện nay ta
đang đứng trước một loạt nghịch lý của đời sống xã hội, và sự quản
lý xã hội.
Những nghịch
lý này đang làm đau đầu bộ phận lãnh đạo và làm day dứt, trăn trở
hàng chục triệu con tim. Một loạt vấn đề về lý luận cơ bản và tư
tưởng chính trị đặt ra mà chưa có phương hướng lý giải. Ý định của
lãnh đạo là phải xác định mấy nguyên tắc và định từ trước, rồi
thôi không thảo luận nữa, ai tuân theo thì được, không tuân theo thì
bị trừng phạt. Tôi vô cùng lo sợ cho ý tưởng này. Và điều đáng lo
sợ không phải là lo sợ cho lực lượng lãnh đạo không làm việc dẫn
dắt đất nước đi lên, mà đưa đất nước đến bên bờ vực thẳm
Tình hình đất
nước phải là một cảm xúc đầu xuân lớn nhất.
Ta đang sống
trong một loạt nghịch lý hay mâu thuẫn như sau :
a) Trước hết
là nghịch lý càng chống tham nhũng bao nhiêu thì tham nhũng vẫn tồn
tại và phát triển ngày càng nghiêm trọng.
Về mặt chống
thì sự lên án đã hết sức nghiêm trọng : “Quốc nạn” “Nội xâm”... Về
mặt tổ chức thì có các ban chống tham nhũng gồm những người quan
trọng. Về luật pháp thì đã có luật, pháp lệnh. Quốc hội thì kỳ họp
nào cũng đầy dư luận phẫn nộ.
Thế mà nạn
tham nhũng càng ngày càng rộng, lan ra khắp các ngành kể cả những
ngành xã hội tốt đẹp của ta là giáo dục, y tế. Lan ra các địa
phương, các ngóc ngách. Những vụ án tham nhũng ngày càng lớn. Tiền
mất vào tham nhũng gần ngang ngân sách quốc gia : hàng chục nghìn tỷ
đồng, nạn tham nhũng còn leo lên ở cấp bậc cao nhất, ở đây có
những vụ việc, nhân dân đòi giải trình mà chưa ai giải trình, hoặc
chỉ giải trình nội bộ. Trong khi lại có những vụ kỷ luật rất ghê.
Chưa ai đụng
được đến nguồn gốc nguyên nhân của tham nhũng. Không tìm đến nguồn
gốc thì không chống được. Tôi mới được một tin ở một xã ở Nam Ðịnh
có mấy nghìn dân mà từ năm 1990 đến 1998 tham nhũng đã vét của dân
hai nghìn tấn thóc, một trăm cây vàng (kém 2 chỉ), 6,2 tỷ đồng bạc.
Ðây có phải là bóc lột không? Có nặng không? Và ai bóc lột ai ở
đây? Có phải chống tham nhũng là chống bóc lột không?
b) Ta hô hào
và kêu gào mãi tinh giản biên chế cho bớt cồng kềnh, đỡ cho ngân
sách, thì từ năm 1993 đến 1998 biên chế nhà nước lại tăng 11%. Nhà
nước biết là lương cán bộ nhân viên bị thiệt nhiều : hơn 30%, nhưng
ngân sách chỉ bù được 20%. Cần giảm biên chế, nhưng yêu cầu giảm
người mà tổ chức cứ mãi tăng lên. Thêm đầu mối, thêm đơn vị lại
thêm xây dựng và mua sắm. Một bài báo ở báo Nhân Dân 1991 có nói
về tình trạng tài sản cố định của khu vực hành chính sự nghiệp cho
biết số tài sản này chiếm 27% so với khu vực kinh doanh sản xuất,
nhưng có những nhà cửa hư hỏng chưa sửa chữa được chiếm 700.000 m2,
2,25% tổng diện tích nhà cửa. Thế mà học sinh trung học có được 2,4
m2 đầu học sinh, còn học sinh tiểu học thì chỉ có 0,15 m2 mỗi đầu học
sinh. Mới đây nghe nói Thủ tướng lại quyết định cho mỗi huyện đều
được xây nhà tạm giam (có người cho là đó cũng là nhà tù) thì sẽ
có ít nhất là thêm 500 nhà tù. Ngày xưa ta đã lên tiếng chửi đế
quốc Pháp cai trị là “Nhà tù nhiều hơn trường học” Bây giờ ta lại
làm cái việc mà ta đã chửi.
Ta hô hào
nhân dân tiết kiệm : “Tiết kiệm là nghĩa vụ của toàn dân”. Tôi nghĩ
dân nói chung có gì đâu mà tiết kiệm. Còn chỗ nhà nước có tiền thì
cứ tiêu vô tội vạ mà tiền đó cũng là của dân đóng góp.
Tại sao bộ
máy đã cồng kềnh lại cứ phình ra. Ngân sách đến bao giờ mới chịu
đựng nổi sự tốn phí của bộ máy. Gốc gác vấn đề là ở chỗ cơ cấu
bộ máy. Sao chưa bàn tới? Lại nữa, ta nêu khẩu hiệu cải cách hành
chính thực hiện “Một cửa, một con dấu” mà bộ máy lại quá nhiều
cửa, nhiều con dấu. Thế thì làm sao???
c) Càng ngày
xã hội càng nhiều tệ nạn, ta càng chống tệ nạn càng phát triển,
các tệ nạn phổ biến là : Buôn lậu, trộm cắp, ma túy, thất nghiệp,
mại dâm, trẻ em lang thang ăn mày
Mỗi tệ nạn
lại có một quyết định chống, lại có tổ chức chống, và kinh phí
chống. Ðặc biệt có hai tệ nạn : thất nghiệp và mãi dâm, trước đây
ta cho nó là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản.
Ở ta không có
chủ nghĩa tư bản mà hình như tệ nạn ấy phát triển không kém (có khi
còn hơn) các nước tư bản chủ nghĩa. Nghịch lý này có là tại sao?
d) Tại sao xã
hội ta nhiều sự khiếu kiện, tố cáo. Ðó là chưa kể ý kiến đóng góp
kiến nghị mà đại diện chính phủ nói là mỗi năm có hàng chục nghìn.
Rất nhiều giai
thoại và “bi thoại” về đơn từ khiếu tố. Số đơn được giải quyết quá
ít, số đơn lâu không giải quyết bị “hóa bùn” quá nhiều.
Hiện tượng
khiếu kiện, tố cáo ngày càng nhiều nói lên tình hình gì? Rõ ràng đó
là tình hình “Lòng dân không yên”. Các nhà tư tưởng “Nói lấy được”
sẽ giải thích “đó là hiện tượng, Hiện tượng ấy không phản ánh bản
chất chế độ ta”. Ô! Thế nó phản ảnh bản chất gì? và “bản chất tốt
đẹp” của chế độ ta nó biểu hiện ra hiện tượng gì?
Tôi không
muốn và không dám, cũng không thể nói hết cảm xúc đối với toàn
diện tình hình đất nước. Tôi chỉ muốn nói đến một số điểm nổi bật,
rõ ràng, hiển nhiên ai cũng thấy, cũng day dứt lo lắng và muốn lý
giải.
Trước tình hình
phức tạp như vậy, tình hình tư tưởng chính trị của xã hội không thể
ổn định. Nó tất yếu phải có diễn biến và diễn biến phức tạp. Tôi
cũng đã biết có nhiều cách nhận xét, đánh giá. Ðại khái có cách
nhận xét đánh giá theo công thức cổ điển:
Ðại đa số yên
tâm, phấn khởi, tin tưởng. Có một số ít ở nơi này nơi khác, lúc này
lúc khác chao đảo, dao động, giảm lòng tin. Kẻ địch lợi dụng tuyên
truyền chống ta
Công thức này
mơ hồ nhưng rất cần thiết đối với một số người, không ai bác bỏ
được và do đó nó rất không đúng và không dùng vào việc gì được.
Tôi nghĩ có
lẽ có nhiều người có thể có nhiều ý kiến khác nhau nhận xét đánh
giá. Tôi có được đọc một bản ý kiến của một vị lão thành tôi
không quen biết. Vị ấy có cách đánh giá, tóm tắt như sau.
Tình hình tư
tưởng chính trị trong Ðảng viên có năm loại như sau :
- Loại nhiệt
tình
- Loại ngoan đạo, chỉ biết yên tâm theo cấp trên
- Loại giảm lòng tin
- Loại cơ hội
- Loại đi ngược
Ông cho rằng
loại nhiệt tình là người tuyệt đối tin tưởng vào lý tưởng và học
thuyết. Nhưng những người này quá trớn một tý vì rơi vào loại đi
ngược. Loại đi ngược quá đi một chút thì trở thành thù địch, cả năm
loại đều có sự xen kẽ và chuyển hóa. Chứ không thể phân biệt rạch
ròi. Ông ước lượng :
- Loại nhiệt
tình có được khoảng 10-15%
- Loại ngoan đạo có đến 50%
- Loại giảm lòng tin có 10-15%
- Loại cơ hội có đến hơn 20%
- Loại đi ngược có rất ít.
Tôi thấy cách
đánh giá này có một hệ quy chiếu cũ và cứng nhắc, và cũng không
giúp ta rút ra được vấn đề gì!
Tôi thì tôi
thấy tiêu chí để đánh giá nhận thức, tư tưởng chính trị hiện nay phải
là tình hình nhận thức và suy nghĩ, có sự đối chiếu với tình hình
thực tiễn xã hội ta và thực tiễn diễn biến của thế giới. Những
thực tiễn đó cần đối chiếu với những nguyên lý và dự đoán mà ta
đã học tập và thấm nhuần.
Sự đối chiếu
này sẽ làm bật ra những sự khập khểnh nghiêm trọng. Nó đặt vấn đề
ta phải nhận thức thực tiễn như thế nào. Tôi quan sát và theo dõi
thì tôi thấy, có ba loại nhận thức:
a) Có người
đã thấy rõ là những nguyên lý và dự đoán cũ đã sai lạc hoàn toàn
với tình hình thực tiễn trước mắt. Những màu sắc lý tưởng đẹp đẽ
trước kia đã bị phai lạt hết và bị thay thế bằng những hiện thực rất
chua chát và mỉa mai. Cách nhận thức này đi đến tâm trạng phẫn nộ
và xuất hiện yêu cầu phải lý giải chính xác tình hình, dựa vào kho
tàng trí thức của loài người cả ở Tây và ở Ðông, cả kim và cổ để
tìm hướng đi tương đối chính xác và thiết thực không thể bám vào
những giáo điều cứng nhắc và cũ kỹ.
b) Loại thứ
hai là có những người nhận thấy những mặt, những bộ phận, những
khía cạnh thực tiễn mâu thuẫn với các giáo điều. Nhưng lại cho rằng
đó là do những thực tiễn mới diễn biến và phát triển không đúng
như những nguyên lý đã có, nên nảy sinh tiêu cực. Những nguyên lý
cũ vẫn đúng. Phương hướng khắc phục hiện nay là phải kiên trì trở
lại các nguyên lý đã có.
c) Có những
người chỉ có một hệ quy chiếu duy nhất và cố định là những nguyên
lý giáo điều đã hình thành từ ít nhất 50 năm trở về trước. Họ
tuyệt đối và thành thật tin vào hệ quy chiếu đó, và do vậy chỉ có
khả năng khuôn khổ tất cả thực tiễn hiện nay vào những nguyên tắc,
quan điểm đã có. Có thực tiễn nào khác với nguyên tắc và quan điểm
cũ và do lỗi của thực tiễn. Họ muốn bắt thực tiễn phải được sửa
chữa cho phù hợp với nguyên tắc và quan điểm đã có. Những người
này có điểm giống với những người ở điểm b nên chiếm một số đông
tuyệt đối. Còn thái độ của các người nói trên cũng có chỗ khác
nhau.
Trong các
người loại a và b thì có người nhận thấy những sai lệch giữa nguyên
lý và thực tiễn, thì thẳng thắn và phẫn nộ nói lên những điều đó.
Có những người thì ấm ức trong lòng, nhưng không nói ra, giữ im lặng,
để chôn chặt trong lòng tâm sự của mình.
Có người
không dám nói ra, không muốn nói ra, vì phải giữ vững các điều kiện
tồn tại và tăng tiến của mình. Cũng có người thì không thèm nói ra,
vì cho rằng nói ra không có ai nghe, nói ra vô ích và có hại cho mình.
Thế nhưng những người này cứ ôm lấy mối day dứt trong lòng, cứ có
những câu hỏi “tại sao,” làm thế nào? và không lời giải đáp. Thế
là có một sự im lặng đáng sợ. Sự im lặng này cứ tiếp tục tiếp
nhận các sự giảng giải giáo điều và dốt nát. Những người này cũng
khó xếp vào loại “ngoan đạo” hay “cơ hội”. Có người ngoan đạo chăng,
thì cũng ngoan đạo giả vờ, mà ngoan đạo giả vờ thì cũng ít nhiều cơ
hội rồi. Tôi không thể ước lượng được tỷ lệ các loại nhận thức. Nhưng
qua sự quan sát và tiếp xúc của tôi, tôi đoán chắc rằng thực sự
có những loại nhận thức khác nhau như vậy. Tình trạng tư tưởng chính
trị như vậy, không được giải quyết đúng đắn, thì hậu quả của nó rất
khó lường trước được thế nào?
Cho nên vấn
đề quan trọng, then chốt và thiết yếu là vấn đề đối chiếu thực
tiễn với lý thuyết. Sự đối chiếu này không thể thực hiện tùy tiện
và không thể giao cho bất cứ một người nào hoặc một nhóm người nào
nhất là những người mà trong thực tiễn tỏ ra bị hạn chế và thậm chí
ngu dốt. Làm việc này, chỉ có thực hiện một sinh hoạt dân chủ đúng
đắn và trung thực. Bất cứ một sự không trung thực nào đều không tìm
được ra chân lý và chắc chắn sẽ bị trừng phạt.
Ta đang ở năm
1999, Kỷ Mão, là năm cuối cùng của thế kỷ XX. Ta chờ năm 2000. Năm
2000 là năm giao thừa giữa hai thế kỷ. Thông thường, ta đều mong muốn
và chúc tụng nhau năm sau tốt đẹp hơn năm trước, gấp năm gấp mười
lần. Năm 2000 là năm con Rồng. Theo biểu tượng thì từ con Mèo mà trở
thành con Rồng, sự lớn mạnh đó phải gấp 100, gấp 1000 lần. Ta không
nên ảo tưởng như vậy, mà ta thử nhìn lại một cách bình tĩnh và thực
tế xem Việt Nam ta trong năm con Mèo như thế nào?
Tôi được biết
và được tiếp xúc với nhiều ý tưởng nhận định đánh giá thực trạng
nước ta, thực trạng bộ máy lãnh đạo và quản lý của ta. Tôi chưa
tổng hợp được, tôi muốn ghi lại một số ý tưởng đáng chú ý để
tiếp tục suy nghĩ và trông chờ có sự thảo luận tổng hợp cho cẩn
thận. Ðây là những ý tưởng của sự khái quát tóm tắt, chứ không
phải sự nhận định mô tả.
Về bộ máy
lãnh đạo và quản lý xã hội thì có nhận định rằng : Bộ máy của ta
có 3 đặc điểm :
1) cồng kềnh
quá,
2) quan liêu quá,
3) bất lực quá.
Tôi quan sát
thấy đúng như vậy. Chả thế mà nó tốn kém quá, nó chiếm nhiều tài
sản của nhà nước quá (nhà cửa, trụ sở, phòng họp, nhà khách,
thiết bị giải trí, xe cộ sang trọng, đồ dùng hàng “Xịn”). Có người đã
quan sát thấy quan chức nước ta sống sang hơn cả nhà tư bản của các
nước lớn. Chả thế mà nó không đủ sức nắm được thực trạng tình
hình, không phân tích và dự đoán được tình hình một cách chính xác,
nó cứ phải thay đổi ý kiến luôn luôn. Nó cứ tồn tại, trong khi
nhân dân ta gặp những khó khăn của mình, phải kêu oan khiếu tố, nó
không giải quyết hoặc không giải quyết được. Thì ra Nó (bộ máy) chỉ
vì nó thôi, nó ít tác dụng vì dân, do dân.
Ðó là thực
trạng đáng buồn. Trong bộ máy, nạn tham nhũng rất phổ biến. Mà tham
nhũng thì có thể có 3 cấp : Cấp thấp là những người lương không đủ
sống, phải xoay xở, kiếm chác ít nhiều để sống và để nuôi gia đình. Cấp
vừa, là đã đủ sống rồi, nhưng muốn xoay xở để đời sống được cải
thiện hơn, sung túc hơn một chút.
Cả hai cấp
này đều có thể nguyên lượng và thông cảm, chỉ cần khiển trách cảnh
cáo và phải có phương sách cải thiện đời sống toàn diện, chứ không
phải chống tham nhũng mà giải quyết được. Cấp cao là những người có
đời sống đủ cao rồi, nhưng còn muốn cao hơn, còn muốn chu cấp cho họ
hàng, muốn dành cho con cháu của cải dồi dào. Bản thân thì có nhà
rồi muốn nhà sang hơn, có xe rồi muốn có xe nữa “Xịn” hơn. Ðồ dùng
cũng cần nhiều và sang hơn, tiếp khách cũng cần tiếp khách sang
trọng, hào hiệp hơn, làm ăn thì cần thu lợi nhuận càng ngày lớn hơn,
tài sản tích trữ ngày càng nhiều hơn.
Trọng điểm
chống tham nhũng là ở cấp cao này, nhưng lại rất khó chống vì những
người này bản thân đã cấp cao, ít nhất cũng là thân tín của cấp
cao. Cho nên không tính đến nguồn gốc thì dứt khoát là không chống
tham nhũng được, đành nhìn bọn tham nhũng phá đất nước đến tan tành
rồi cùng nhau... chết hết! Muốn chống được tham nhũng phải cải cách
bộ máy từ cơ cấu, vận hành và chất lượng, nhân sự.
Lại nói về
tính chất của xã hội Việt Nam hiện nay :
- Có phải là
nước XHCN không? Hiển nhiên là chưa phải, chỉ là một nước lạc hậu,
nghèo đói, đang bắt đầu phát triển thôi.
- Có phải là
nước đang đi theo con đường tư bản không? Cũng không phải. Lực lượng
lãnh đạo hiện nay đang cương quyết định hướng cho nó tránh con đường
TBCN.
Nhưng trong xã
hội hiện nay rõ ràng là đang có những yếu tố tư bản, lại có những
yếu tố XHCN. Quả thật nước ta có những thành tích về giáo dục, y tế
mà thế giới kiêng nể. Những thành tích đó đã xếp nước ta kinh tế
thì nghèo nàn vào loại nhất nhì, nhưng về xã hội thì lại vào loại
trung bình. Chúng ta lại có rất nhiều chủ trương trong các vấn đề xã
hội như đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo, từ thiện, lá lành đùm
lá rách. Nhà tình nghĩa, quỹ tình nghĩa, quỹ cứu đói, quỹ cứu nạn...
Ðó là những
yếu tố xã hội chủ nghĩa rất đáng trân trọng. Ta chủ trương kinh tế
nhiều thành phần kinh tế thị trường, học tập và sử dụng nhiều phương
pháp tư bản chủ nghĩa, làm cho kinh tế trong một số năm phát triển
khá nhanh. Ðặc biệt ta có một thành tích kỳ diệu là từ chỗ thiếu
gạo ăn trở thành nước xuất cảng gạo thứ nhì thế giới. Ðiều đó
thực chất là do nông dân được làm ăn tự do hơn, họ được tự làm
chủ trong làm ăn hơn. Quyền đó của nông dân được lãnh đạo chấp
nhận. Cho nên ở đây cần thấy là lãnh đạo thấy được quyền làm ăn
của dân mà công nhận quyền đó thì sẽ có thành tích lớn ngay. Bác
Hồ xưa kia đã nói đến mấy chữ “Tự do làm ăn”. Bảo đảm quyền ấy cho
dân thì lĩnh vực nào cũng sẽ có những thành tích phi thường cả, đặc
biệt trong khoa học và văn học nghệ thuật. Chứ lãnh đạo có tài
thánh cũng không làm ra được một tấn gạo hay một bài hát, thậm chí
có tài thánh cũng không định hướng, hướng dẫn cho từng ngành, cho
các ngành được. Cái quyền tự do làm ăn ấy là kiểu tư bản hay kiểu
XHCN. Tôi thấy nó là cả hai và nó cũng không phải là cả hai. Nó
là đạo lý thông thường của người đời mà thôi.
Gần đây tôi
tình cờ gặp một ý tưởng và một khái niệm thú vị : Ðó là khái niệm
“Tư bản quyền lực” và có người nói : “Tư bản quan chức” (Capitalisme
momen klatura).
Thì ra ngoài tư
bản là tiền của ta, có cái quyền lực cũng trở thành tư bản (vốn)
được. Là quan chức thì có quyền lực, mà quyền lực lại là cái vốn
để làm ăn!
Nước ta hiện
nay chưa XHCN được, nhưng có những yếu tố tốt đẹp của CNXH; không
phải tư bản, nhưng rõ ràng là có cái thứ tư bản quyền lực và tư
bản quan chức và đó là thứ tư bản quan liêu, tư bản hoang dã, dã
man. Ðó cũng là một sự thật. Có lẽ nhiều người sợ cái sự thật
này. Nhưng tôi không có lý do gì để sợ nó cả.
Nhìn nhận tình
hình đất nước hiện nay nhất thiết phải tìm kiếm phân tích cái sự
thật này!
Tôi đã được
biết rất nhiều người sốt ruột với những lời kêu ca và lên án các
hiện tượng tiêu cực, cho rằng “Biết rồi, khổ lắm nói mãi!” vấn đề
là phải làm thế nào? Có giải pháp nào để ra khỏi tình trạng này.
Ðúng, đây là vấn đề hết sức bức xúc. Các cơ quan lãnh đạo cũng đã
nhiều lần cảnh cáo rằng tình hình sẽ càng ngày càng khó khăn hơn,
nhiều thử thách nghiêm trọng hơn, gay gắt hơn. Tình hình đất nước đứng
trước thử thách gay gắt thật. Mỗi người đều có một số ý kiến về
giải pháp. Nhưng xét ra các ý kiến giải pháp (kể cả ý kiến giải
pháp của lãnh đạo) đều khó thực hiện và khó có hiệu quả, vì nó
chưa xuất phát từ những phân tích khoa học mới mẻ, sâu sắc và chính
xác. Nó còn xuất phát từ sự nôn nóng, bức xúc, sốt ruột và nó
còn mang nhiều nét tư duy cũ. Cho nên nó chưa hứa hẹn một triển vọng
nào và nó chưa đưa ra lại cho mọi người một hào hứng nào. Tôi không
thể không có điều kiện để đề xuất một ý kiến giải pháp nào. Tôi
chỉ ghi lại hai ý kiến cảm xúc xuân như sau:
1- Giải pháp
sắp đưa ra, phải là giải pháp chiến lược, nó phải là vấn đề đường
lối khái quát bao trùm, nó sẽ làm phương hướng cho sự giải quyết
các vấn đề cụ thể như phát triển kinh tế, quan hệ đối ngoại, cải
cách bộ máy chống tham nhũng...
Ðường lối mới
ấy phải là đường lối xây dựng và phát triển đất nước, lấy đất
nước, dân tộc tổ quốc là đối tượng cao nhất, mục tiêu cao nhất, nó
phải thoát ra khỏi những loay hoay về định tính : XNCH hay TBCN, tả hay
hữu, đỏ hay trắng, phản động hay cách mạng. Ðường lối ấy là một
đường lối đưa đất nước vượt qua thử thách, thoát khỏi khó khăn để
đi lên. Ðường lối đó phải đưa được đất nước đi lên phù hợp với đặc
điểm phát triển của thế giới, hòa nhập với những bước đi của khu
vực và thế giới, phát huy được những yếu tố tốt đẹp XHCN đã có ở
trong nước và những phương pháp, những công nghệ và kinh nghiệm của
thế giới TBCN, của các nước dân chủ xã hội, khắc phục kiểu tư duy
biệt phái : “Không phải là ta thì là địch”. Phải thực sự tôn trọng
và thực hiện khẩu hiệu rất hay đã có là “Việt Nam muốn làm bạn
với tất cả mọi người”.
Mục tiêu
chiến lược và tư duy chiến lược đó là cao nhất, nó cao hơn và bao
hàm cả những nguyên tắc đã có như là : kiên trì lý tưởng XHCN; kiên
trì chủ nghĩa Mác-Lênin; vai trò của Ðảng Cộng Sản..., chứ không ra
ngoài và không ngược lại. Ðảng Cộng Sản cần phải thu hút trí tuệ
toàn dân để bồi bổ cho trí tuệ của Ðảng và làm cho Ðảng xứng đáng
vai trò tác giả, tiền phong và tham mưu cho toàn dân tộc. Tôi cho đó
là phương hướng tốt đẹp nhất.
Mục tiêu
chiến lược và tư duy chiến lược phải đi đôi với vấn đề chiến lược
nhân sự, chiến lược nhân tài. Chiến lược phải bảo đảm sự tuyển
chọn được người có thực tài ở những vị trí thích hợp. Hiện nay ở
rất nhiều vị trí có những người không xứng đáng, trái ngành nghề,
không được đào tạo chuẩn bị, thậm chí có nhiều chỗ người kém lại
lãnh đạo chỉ huy người giỏi. Ðó là vì công tác tổ chức nhân sự chỉ
tập trung vào cơ quan tổ chức của Ðảng, lại quá phụ thuộc vào tiêu
chuẩn chính trị và yêu cầu chính trị. Chiến lược nhân sự mới nên
phát huy truyền thống của dân tộc : thực hiện phổ biến chế độ khảo
thí, sát hạch, thi tuyển, nghe ý dân, dành cho dân quyền giám sát,
quyền có ý kiến, có thông tin nhân sự quyền nhận xét và tham gia
chọn lọc. Nhân sự không nên là vấn đề bí mật của một nhóm người.
2- Sau khi đã
xác định mục tiêu chiến lược và tư duy chiến lược rồi, thì nó sẽ là
căn cứ, là chỗ dựa vững chắc để chỉ đạo tư tưởng cho các chính sách
cụ thể : Về kinh tế, về đối ngoại, về văn hóa, về an ninh quốc
phòng, về các vấn đề xã hội và những chính sách cụ thể về hòa
hợp, đoàn kết dân tộc, một cách nhất quán cả nói và làm.
Ðược như thế,
sẽ mau chóng khôi phục lòng tin và tinh thần đoàn kết toàn dân, tạo
nên hào hứng mới và sức mạnh mới.
Trong tình hình
có rất nhiều mặt mâu thuẫn, có rất nhiều mối quan hệ phức tạp, ta
phải dự đoán mỗi chính sách, mỗi giải pháp đều sẽ có mặt được,
mặt không được (hoặc là mặt thiệt, mặt mất) mặt phải trả giá. Có
khi mặt được lớn hơn, mặt mất nhỏ hơn. Nhưng cũng có khi mặt được
nhỏ hơn, nhưng lại không có không được, thì vẫn phải chấp nhận. Cần
có những dự đoán như vậy để cân nhắc mỗi chính sách, có đạt được
mặt được lớn tối đa và mặt mất, thiệt nhỏ đến mức thấp nhất. Phải
dự đoán mỗi chính sách của ta được cái gì đó, thì cũng phải trả giá
một cái gì đó. Ta cần cân nhắc tính toán để sự trả giá là nhỏ ở
mức ta chịu đựng được, xứng đáng với cái ta được. Cái được và cái
phải trả giá phải có sự đồng thuận của nhân dân và của đối tác.
Tuyệt đối không nên ảo tưởng là mỗi chính sách ta đưa ra là chỉ có
được và hoàn toàn được, không muốn trả giá chút nào. Ví dụ tự do ngôn
luận có nhiều cái được, nhưng cũng phải trả giá là có nhiều khó
chịu. Tự do bầu cử cũng có nhiều cái được và cũng phải có cái
phải trả giá là ta không thể tự tung tự tác 100%...
Trần Ðộ