MỘT CÁI NHÌN TRỞ LẠI
Trần Ðộ
**
Ðây không phải là một luận văn, mà là một thiên bút ký thổ lộ nỗi niềm của một người 76 tuổi đời, 58 tuổi Ðảng.
Tháng 9 này tôi tròn 75 tuổi (1923-1998). Thấy cũng cần ghi lại những suy nghĩ về cuộc sống và về sự đời, mà lâu nay tâm tư lúc nào cũng bị xáo trộn.
Thế là gần hết thế kỷ 20 rồi. Thế kỷ đã diễn ra những sự kiện lớn làm xáo động cả sinh hoạt của nhân loại:
* Trước hết là chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), tìếp đến Cách mạng Tháng Mười ở Nga.
* Tiếp theo là sự hình thành một loạt nước xã hội chủ nghĩa, hình thành một phe lớn trong hai phe của thế giới, diễn ra cuộc đấu tranh về hai hệ tư tưởng, kèm theo các mặt đấu tranh khác (kể cả quân sự).
* Một sự kiện quan trọng là (cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật dẫn tới sự bùng nổ thông tin toàn cầu và)1 hoạt động của loài người mở rộng ra không gian vũ trụ: những chuyến thám hiểm, những vệ tinh, những cuộc lên mặt trăng, sao Hỏa. Những vấn đề loài người ra sống ngoài vũ trụ và ở các hành tinh khác cũng đã được đặt ra (di dân, du lịch).
* Cuối cùng, sự kiện quan trọng nhất, là sự xóa bỏ thế giới "xã hội chủ nghĩa hiện thực", việc này làm đảo lộn hoàn toàn các suy nghĩ, các mối quan hệ của loài người giữa các nước.
* Riêng ở nước ta, có một biến động hết sức quan trọng: sau hơn 50 năm tranh đấu dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, nhân dân ta đã giành được độc lập và thống nhất đất nước, đưa cả nước Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, hòa bình, xây dựng và phát triển.
Do đó, cuộc sống và những suy nghĩ về cuộc sống lúc đầu thế kỷ và lúc ở cuối thế kỷ này hoàn toàn khác nhau. Vì thế kỷ 20 đem lại cho loài người nhiều thắng lợi, nhiều vẻ vang, nhưng cũng đem lại cho loài người nhiều bài học vừa cay đắng, vừa đau đớn.
***
Tôi đã sống 75 năm trong 100 năm sôi động vừa qua. Tôi đã trải và nghiệm ra nhiều điều, nhiều lẽ. Những trải nghiệm này có nhiều điều hay và tốt. Nhưng cũng có những điều đau. Tôi ghi lại để tôi ngẫm cùng tôi, nhưng những điều suy ngẫm ấy có thể giúp ích cho con cháu sau này, cho dù chúng cũng có những trải nghiệm của chúng.
Trải nghiệm một cuộc đời ngót nghét trăm năm không phải là ít, lại càng không phải là sự trải nghiệm một chiều. Nhưng trong những trải nghiệm trong chính cuộc đời tôi làm tôi phải suy ngẫm và trăn trở nhiều có lẽ có hai điều sâu sắc và phức tạp nhất, có tính chất học thuyết và nguyên lý.
Ðó là vấn đề "giai cấp" và vấn đề "Ðảng cộng sản".
I. Về vấn đề giai cấp
Từ những năm tuổi 14-15, còn đang thời học trò cấp 2 (so với hiện nay), tôi và các bạn tôi đều có một trạng thái tinh thần rất giống nhau: chúng tôi rất sục sôi yêu nước, rất căm phẫn trước tình hình mất nước, tình hình dân tình đau khổ và sống đời nô lệ. Những cụm từ "nước mất nhà tan", "vong quốc", "hồn nước non"... đều lay động dữ dội tâm hồn chúng tôi. Chúng tôi thấy hết sức tự nhiên coi mình như đã là những phần tử của một phong trào, một thiên hướng tư tưởng "cứu nước". Mặt khác, hàng ngày, trong đời sống bản thân, trong quan hệ họ hàng và xóm giềng và rộng ra nữa, trong quan hệ hàng tổng, hàng tỉnh, chúng tôi đều trông thấy, nghe thấy biết bao nhiêu điều bất công, tủi nhục và oan khuất. Chúng tôi đều là con nhà nghèo, từ góc độ con nhà nghèo nhìn thấy tình hình xã hội như thế thì tâm tư càng đau khổ nhức nhối. Nhưng chỉ biết đến thế, chứ chưa giải thích được tình hình và tìm ra phương hướng, chưa giải đáp được những vấn đề được đặt ra. Cho nên cũng chỉ lặng lẽ cùng nhau đọc sách và mơ ước. Mơ ước những năng lực phi thường, mơ ước những phương sách lý tưởng và mơ ước đến tương lai huy hoàng của dân tộc. Những mơ ước ấy không thoát ra ngoài những điều đã được viết trong các tiểu thuyết, nhất là những tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc, mơ ước có những vị vua anh minh, những tướng quân tài cao chí cả.
Trong trạng thái tâm hồn như vậy, chúng tôi gặp gỡ và tiếp xúc với những ý tưởng mới của chủ nghĩa Mác, trong đó nổi bật là vấn đề giai cấp.
Chúng tôi tiếp xúc với vấn đề giai cấp như một sự bừng sáng mạnh mẽ và rực rỡ trong tinh thần.
Nhờ chủ nghĩa Mác chúng tôi hình dung được những nét lớn trong việc lý giải tình trạng xã hội, lý giải hoàn cảnh mất nước của mình, trên cơ sở nhận thức: "phân rõ giai cấp".
Chúng tôi không còn căm thù chung chung "giặc Tây", lòng căm thù của chúng tôi hướng rõ rệt vào cái gọi là đế quốc Pháp, mà đế quốc Pháp là con đẻ của giai cấp tư sản Pháp và chủ nghĩa tư bản Pháp. Ðó là một ánh sáng lớn soi rọi vào vấn đề giai cấp.
Nhìn vào trong xã hội nước nhà, chúng tôi không còn bối rối nhiều. Vì chúng tôi đã nhìn rõ tất cả những bất công, tủi nhục, oan khuất... của nhân dân trong xã hội là kết quả tất nhiên của một xã hội có phân chia giai cấp: giai cấp áp bức bóc lột và giai cấp bị áp bức bóc lột. Cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp đó tác động mọi mặt vào xã hội và là động lực thúc đẩy xã hội tiến lên. Con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc, mang lại hạnh phúc cho nhân dân là con đường "phải tiêu diệt cho được giai cấp bóc lột", mà giai cấp ấy giờ đây thể hiện rõ ở thế lực của đế quốc Pháp và bè lũ tay sai (Việt gian). Chúng tôi nhìn vấn đề như vậy từ chỗ đứng và với tư cách người bị áp bức bóc lột, thành ra nhận thức nói trên có một ánh sáng và một sức mạnh đặc biệt.
Dưới ánh sáng của nhận thức về giai cấp, mọi vấn đề, mọi quan hệ xã hội, mọi hiện trạng xã hội đều có thể lý giải.
Chúng tôi sung sướng, chúng tôi cảm thấy hạnh phúc như có được trong tay một bảo bối quý giá để nhìn đời và bước vào đời: đó là sự giác ngộ giai cấp và ý thức giai cấp. Chúng tôi thực sự có ý thức về vị trí giai cấp của chúng tôi. Chúng tôi tôn trọng và thần tượng hóa vai trò của giai cấp bị áp bức bóc lột: công nhân và nông dân, dân nghèo vv... Chúng tôi nhìn những giai cấp bị áp bức với cảm tình và niềm khâm phục. Họ là động lực thay đổi cuộc sống ngột ngạt hiện tại.
Chúng tôi có một sức mạnh tinh thần mới rất lớn, rất lớn. Càng đi sâu vào cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và quyết liệt (trong chiến tranh), chúng tôi càng thấy rõ thêm, sâu thêm và rộng thêm sức mạnh tinh thần đó. Ý thức của chúng tôi cũng có những biến chuyển từ thấp đến cao. Trong những chuyển biến đó, tôi chú ý đến những chuyển biến sau đây:
- Từ ý thức và tình cảm tự nhiên là "thương người nghèo", chúng tôi đã tiến đến tình cảm và ý thức tôn trọng những người lao động (người nghèo), từ thương cảm đến tôn trọng, đến nhận thức rõ hơn vai trò cách mạng và năng lực cách mạng của công nhân và nông dân. Ðặc biệt trong chiến tranh cách mạng, chúng tôi được chứng kiến vô vàn thí dụ về tinh thần hy sinh cao cả và năng lực chiến đấu dũng cảm bền bỉ của những người nông dân, công nhân. Thành ngữ "công nhân lãnh đạo và nông dân là chủ lực" cho cách mạng cứ hiển hiện rõ từng ngày, không cần phải bàn cãi. Nhu cầu cần bồi dưỡng văn hóa, chính trị và năng lực lãnh đạo cho các đồng chí thành phần công nhân, nông dân cũng hiển nhiên rõ ràng. Do đó cần phải có những chính sách ưu tiên, tạo điều kiện cho các đồng chí ấy tiến bộ cũng là điều hiển nhiên và tất yếu.
- Sự chuyển biến thái độ đối xử với người nghèo diễn ra trong toàn xã hội. Tôi biết có gia đình một nhà trí thức cao cấp yêu nước đi ra chiến khu kháng chiến. Gia đình nhiều con nên có hai người giúp việc: một vú già, một "con sen" (con ở gái), hồi trước còn thêm một "anh xe" (kéo xe) nữa. Khi ra chiến khu, hai người nữ giúp việc cùng sống chung với gia đình nhà trí thức. Người vú già được coi như người mẹ thứ hai của lũ trẻ, còn cô gái thì được coi như con gái lớn trong nhà. Bà vú già khi mất được ma chay báo hiếu trọng thể. Cô gái lớn được đựng vợ gả chồng và được coi trọng đúng như cô chị cả trong gia đình. Sự chuyển biến cái quan hệ xã hội này tốt đẹp biết bao nhiêu.
Nó là kết quả tinh thần của Cách mạng Tháng Tám.
Sự tiếp nhận ý thức giai cấp trong chúng tôi cũng nẩy sinh vấn đề tình cảm: tình cảm giai cấp. Mọi tình cảm đều xoay quanh khái niệm giai cấp, phù hợp với ý thức giai cấp được coi là tốt đẹp, cái gì không phù hợp với tình cảm ấy thì không thể chấp nhận. Ðiều được coi như cao cả và thiêng liêng là "tình thương yêu giai cấp". Các thứ tình cảm khác như tình yêu, tình bạn, tình gia đình, tình họ hàng... đều phải lấy tình thương yêu giai cấp làm cơ sở và phải phụ thuộc vào nó. Những người thuộc giai cấp không phải nông dân, công nhân, mà tự nguyện nhận ý thức giai cấp, nhận lập trường giai cấp công nông là của mình, thì được khen ngợi, được biểu dương, được người ta lặng lẽ trao tặng một cái như là một danh hiệu tốt đẹp: những người biết "đầu hàng giai cấp", biết bỏ bóng tối tìm ra ánh sáng. Ðiều này tác động cả vào quan niệm thẩm mỹ. Trong chiến tranh chúng tôi sống ở nông thôn nhiều, thực lòng chúng tôi thấy vẻ chất phác và vóc dáng khỏe mạnh của thôn nữ là đẹp. Mỗi khi về sống lại ở thành phố, thời gian đầu chúng tôi thường dè dặt và xa lánh các cô gái thành thị "áo ve sầu, đầu súp-lơ" với những dáng vẻ ẻo lả mượt mà, mà chúng tôi cho là không đẹp. Ðịnh kiến ấy cũng tồn tại một thời gian.
Rồi nữa, chúng tôi đã từng sống nhiều chục năm trong một trạng thái tinh thần hứng khởi, cao thượng và trong sạch. Trạng thái tinh thần này phổ biến trong đa số nhân dân, nó là nền tảng cho những mối quan hệ, đặc biệt quan hệ giữa người và người rất tốt đẹp: giữa cán bộ và nhân dân, giữa quân đội và nhân dân, giữa cấp trên và cấp dưới... Tình trạng đó kéo dài suốt từ trước năm 1945 đến 1975.
Thế mà tại sao đến bây giờ, rất nhiều người, ít nhất là theo tôi thấy được và nghe được, đều than tiếc những điều tốt đẹp của mấy chục năm quá khứ. Những mối quan hệ nói trên cứ dần dần có sự biến đổi. Trong chiến tranh, sự biến đổi không rõ lắm, nhưng từ sau khi sự nghiệp cách mạng giành độc lập và thống nhất đất nước đã hoàn thành, thì sự biến đổi ấy càng rõ rệt và nhanh chóng. Nó đã diễn ra một sự "biến dạng". Nó đã biến dạng thế nào, từ cái gì trở thành cái gì và tại sao?
Qua sự suy ngẫm về diễn biến ý thức của bản thân, qua sự nhớ lại các hành xử của mình và của người khác mà mình thấy được, qua sự quan sát và nghe được chuyện từ nhiều nguồn, tóm lại là qua sự trải và sự nghiệm của bản thân, tôi thấy được mấy điểm:
1. Trước hết hãy so sánh hai bức tranh: ngày xưa (trước 1945 và trước 1954,1975) và ngày nay (những năm 1990). Hai bức tranh biểu hiện hai thời kỳ, hai tình trạng, từ đó xuất hiện một "ước mơ giật lùi": "bao giờ cho đến ngày xưa?"
Ngày xưa, khi những ý tưởng về giai cấp và đấu tranh giai cấp được lan truyền đã làm bùng lên trong lòng mọi người một ánh sáng và tạo nên một sức mạnh tinh thần, thúc đẩy tinh thần yêu nước và cứu nước của toàn thể nhân dân. Tất cả những cái đó trở thành một chất keo tinh thần gắn bó mọi người lại với nhau trong một tinh thần đoàn kết đấu tranh trong sáng và đơn giản, nhằm một mục tiêu lớn và rất rõ rệt: giải phóng đất nước, giải phóng nhân dân lao động khỏi nô lệ, khỏi áp bức.
Chủ nghĩa Mác-Lê đã giác ngộ mọi người một cơ sở lý lẽ như sau: xã hội có nghèo đói, bất công là do có sự áp bức bóc lột của giai cấp thống trị cầm quyền, do có sự chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
Muốn "đổi đời" (giải phóng những người bị áp bức bóc lột) phải đẩy mạnh đấu tranh giai cấp, vừa lấy lại đất nước độc lập, vừa xóa bỏ giai cấp bóc lột, xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Như thế mới có một xã hội vừa độc lập vừa công bằng dân chủ, chính quyền thực sự về tay nhân dân. Những điều đó đã nhân lên bội phần tinh thần cứu nước và tinh thần xây dựng xây dựng một đất nước độc lập, tự do, hạnh phúc. Tinh thần đấu tranh cách mạng nhờ sự giác ngộ đó được nhân cao lên nhiều lần. Lúc đó Ðảng cộng sản (nói cho rõ hơn là những người cộng sản) hòa mình trong nhân dân, nhân dân tìm đến những người cộng sản như tìm đến những người thân. Họ là những người vừa hướng dẫn đấu tranh vừa là những người cần được che chở bảo vệ và cứu giúp (về cả ăn, mặc, cũng như nơi ở an toàn). Trong nhiều hồi ký viết về nhà tù Sơn La, các tác giả miêu tả lại những hình ảnh rất cảm động, khi tù chính trị (những người cộng sản) bị đày từ Hỏa Lò (Hà Nội) lên Sơn La đi qua Suối Rút. Nhân dân Chợ Bờ, Suối Rút đã đón tiếp, chào mời và tự nguyện giúp đỡ từ bát cháo, điếu thuốc, cái chiếu, chỗ nằm. Cho nên, lúc ấy Ðảng ở trong dân, Ðảng với dân là một. Dân đi tìm Ðảng, Ðảng cũng đi tìm dân như tìm những người có ân có nghĩa.
Ngày nay Cách mạng đã thắng lợi: đất nước đã thống nhất và độc lập. Chính quyền đã về tay nhân dân. Và những người cộng sản là người thay mặt nhân dân nắm giữ chính quyền. Từ chỗ nhận thức như vậy tất cả những chức vụ quan trọng từ cấp cơ sở đến cấp toàn quốc đều phải do các đảng viên cộng sản nắm giữ. Tất cả những người cộng sản này phải có mức thu nhập và mức sống cao (từ nhà ở, phương tiện đi lại, phương tiện sinh hoạt) để đảm bảo sức khỏe và có điều kiện tốt để làm việc cho dân cho nước. Gia đình các vị này, con cái các vị cũng phải được bảo đảm điều kiện thuận lợi trong đời sống từ việc học hành, chữa bệnh. Phải cho các cháu học hành đầy đủ để có đủ năng lực nối tiếp truyền thống của cha anh mà giữ vững chính quyền nhân dân. Như thế là xuất hiện một tầng lớp người (chưa gọi là một giai cấp) làm việc trong những chức vụ cai trị, chủ yếu là những đảng viên Ðảng cộng sản. Chức vụ càng cao thì càng phải do những đảng viên quan trọng (cao cấp) nắm giữ.
Vậy là Ðảng với dân đã tách thành hai: một số người (chủ yếu là của Ðảng) làm việc cai trị dân. Mà đã cai trị thì phải có chức, đã có chức là có quyền, đã có quyền ắt có lợi. Quyền lực lớn thì có lợi lớn. Ðảng đâu còn "hòa trong dân, cùng với dân là một" như trước. . Trên danh nghĩa, chính quyền của Ðảng khi làm việc gì cũng là thay mặt dân và nhân danh dân, vì lợi ích của dân (chính quyền do dân, vì dân, của dân). Thế mà dân hiện nay đi tìm Ðảng là đi tìm những ông bí thư, chủ tịch, bộ trưởng, đại biểu Quốc Hội, ủy viên Trung ương, để khiếu nại tố cáo, kêu oan và cầu xin sự cứu giúp. Có những ông đảng viên già (nhưng không có chức vụ gì, thì cũng như là dân) xếp các đơn kêu xin của mình vào một cái túi nặng hàng chục ki lô, đi lại các cấp các ngành hàng chục năm trời mà vấn đề của ông ấy vẫn không được giải quyết (vì nó phức tạp quá). Khi ông già này còn trẻ bắt đầu giác ngộ và hăng say đấu tranh ông ấy không thể tưởng tượng nổi tình cành ông ấy lúc về già.
Không những Ðảng với dân đã là hai, mà ngay trong Ðảng cũng thành hai. Một Ðảng gồm những người không có chức vụ hoặc chức vụ thấp. Một Ðảng gồm những người có chức vụ cao và quyền lực, quyền lợi cao. Hàng triệu chiến sĩ và nhân dân khi hy sinh đều không nghĩ rằng một kết quả quan trọng của sự hy sinh của họ lại là tình trạng thế này. Nhà thơ Bùi Minh Quốc đã phải thốt lên:
Trọn tuổi xuân ta hiến dâng cuồng nhiệt
Lại đúc nên chính cỗ máy này !
Và hễ ai muốn nêu vấn đề để tìm ra phương thức lãnh đạo và tổ chức của Ðảng trong điều kiện mới cho có hiệu lực và quan hệ tốt đẹp "như ngày xưa" thì lập tức cũng bị bộ máy tư tưởng gán cho tội "phủ nhận Ðảng" và bộ máy công an coi là có tội "làm hại đến an ninh quốc gia", cho người theo dõi, canh giữ, giám sát và bỏ tù.
Kẻ viết những dòng này trong năm 1998, từ 25 tháng 7 vào ngôi nhà của con trai út số nhà 116/ 33 Hoàng Hoa Thám, phường 12, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Ở đó dự định cho đến hết tháng 10. Trong hơn 100 ngày đó, trước ngôi nhà này luôn luôn từ sáng đến tối, mỗi ngày đều có từ một đến ba nhân viên an ninh mặc thường phục, hóa trang làm người chữa xe đạp, lái xe ôm, lái xe tắc xi... coi chừng, giám sát, ghi chép, và cả chụp ảnh nữa. Khi kẻ này đi chơi ơ Huế cũng có những nhân viên an ninh từ Hà Nội bay vào Huế ở cùng khách sạn để theo dõi những người quen đến thăm kẻ này.
Rất nhiều triết gia Ðông và Tây, từ cổ chí kim, đều thừa nhận rằng trên đời này không có sự vật, hiện tượng nào đứng im, nó luôn luôn chuyển động và biến hóa. Vì vậy sự chuyển động và biến hóa (hoặc biến dạng) của xã hội và của Ðảng là điều rất tất nhiên, chỉ có điều ta phải xem sự biến dạng đó có kết quả ra sao, tốt hay xấu?
Tình hình xã hội và con người trong thời chống Pháp khác với thời chống Mỹ. Thời chống Mỹ nước ta có hai miền nên cũng có nhiều vấn đề Ðảng và dân phải giải quyết, phức tạp và khó khăn hơn thời chống Pháp, nhưng trình độ tư tưởng và tổ chức của Ðảng, của dân đã cao hơn, làm việc hiệu quả tốt hơn. Tuy vậy, cũng có một số mặt kém đi: trong quân đội hiện tượng đào ngũ (B quay) xuất hiện, quan hệ quân dân không tốt hơn, những vụ kỷ luật về vi phạm đến quyền lợi của dân cũng nhiều hơn.
Sự chuyển động và biến dạng kể trên là sự chuyển động và biến dạng lớn nhất, quan trọng nhất, bao trùm nhất. Chính nó chi phối các sự chuyển động và biến dạng bộ phận nối tiếp sau. Mỗi sự vật sự việc đều có hai mặt: một mặt phải (tích cực), một mặt trái (tiêu cực). Trong chuyển động và biến hóa cả hai mặt đều chuyển động và biến hóa khác nhau, khi thì tiến lên, khi thì thụt lùi.
2. Về ý thức giai cấp.
Từ chỗ có ý thức thương yêu tôn trọng, tin cậy những người ngèo khổ bị bóc lột (là công nhân và nông dân), đánh giá cao khả năng cách mạng của họ, ý thức này dần trở thành cực đoan, đi tới chỗ không tin cậy các thành phần khác, chỉ đề cao công nông. Sự tuyệt đối hóa những ưu điểm cách mạng của công nông đã dẫn tới chỗ đánh giá thấp khả năng cách mạng của các tầng lớp khác. Có một dạo đã xuất hiện những từ khinh miệt gọi cánh học sinh và những người thuộc tầng lớp trung lưu là "tạc tạch sè" (tiểu tư sản), và những người này cũng vui vẻ tự gọi mình như thế. Ý thức này đã được chính thức công khai thể hiện trong cái gọi là " đường lối công nông về công tác cán bộ". Chính kẻ viết những dòng này cũng đã từng thuyết giảng nhiều lần về đường lối này và phê phán một cách đầy thuyết phục những hiện tượng vi phạm đường lối công nông.
Trong khi ấy, trong thực tiễn đấu tranh cách mạng có hai hiện tượng rõ rệt: một là, tinh thần dũng cảm chiến đấu và hy sinh rất quyết liệt của các cán bộ và chiến sĩ xuất thân từ công nông, số này chiếm đa số. Mặt khác, phần lớn các đồng chí lãnh đạo ở cấp cao nhất đều không phải xuất thân từ công nông, mà xuất thân từ những tầng lớp trung lưu hoặc tầng lớp trên của xã hội. Các đồng chí đó là những chiến sĩ cách mạng trung kiên, có một ưu thế mà những người xuất thân công nông không có, đó là trình độ học thức cao, ngoại ngữ giỏi. Nhưng tình hình này không được coi là thí dụ của một khả năng cách mạng của những người thuộc tầng lớp phi công nông.
Vấn đề đường lối công nông dẫn đến một số hiện tượng gọi là "thành phần chủ nghĩa", và "chủ nghĩa lý lịch". Hiện tượng này dẫn đến những định kiến, phân biệt đối xử, bỏ qua và lãng phí nhiều khả năng cách mạng, bỏ qua nhiều tài năng, làm cho nhiều tài năng bị thui chột, tổn thương đến tinh thần đoàn kết dân tộc để đấu tranh giành độc lập. Ðường lối này và "chủ nghĩa thành phần" tác động vào mọi mặt sinh hoạt của xã hội, làm tổn thương tính công bằng xã hội và tổn thương chính sách xóa bỏ hận thù trong quá khứ để đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước. Càng trong hoàn cảnh thắng lợi lớn và trong hòa bình xây dựng thì tổn thương và tai hại do "chủ nghĩa thành phần" thể hiện thành chính sách của Ðảng càng to lớn và không gì bù đắp được. Sự tai hại không chỉ tác động đến những thành phần lớp trên mà còn tác động đến toàn dân kể cả công nông. Hiện tượng nhiều người bỏ nước ra đi sau đại thắng 1975 là sự rạn nứt không chối cãi được của khối đoàn kết toàn dân. Có nhiều người tuy bỏ nước ra đi, nhưng trong lòng vẫn có cảm tình với cách mạng. Họ phải ra đi, bởi vì nếu họ ở lại thì họ không có cách gì sinh sống, trong khi tài sản của họ cũng không còn. Họ ra đi còn kéo theo hậu quả là hàng trăm lao động và gia đình mà trước đây bị họ "bóc lột", nay không còn đường sinh sống. Như thế là có những người ra đi là bị buộc phải ra đi, chứ họ chẳng chống ai, chẳng thù ai. Những người này và cả những người mất việc đều thấy có một sự "khó hiểu" trong chính sách của cách mạng, mà không ai giải thích được cả.
3. Mỗi triết thuyết đều có cái lý của nó. Nhưng cứ giản lược hóa nó, rồi nhấn mạnh vai trò của nó quá mức cần thiết thì tất sẽ dẫn đến hậu quả tai hại khôn lường. Tôi nay đã ngoài 70 tuổi, nhờ đọc thêm được một số sách, nghe thêm được nhiều ý kiến, cũng mới nhận ra được điều này. Vấn đề ý thức giai cấp cũng thế thôi. Từ chỗ tuyệt đối hóa vấn đề giai cấp trong sự bộn bề của đời sống con người và xã hội sẽ đi tới chỗ nguy hiểm do giải quyết nhiều vấn đề không còn chừng mực của nó nữa. Một hệ quả quan trọng của chủ nghĩa thành phần là vấn đề chuyên chính vô sản. Tôi đã trải qua nhiều lần sinh hoạt ở Trung ương (Ðảng) các khóa, và tôi nhớ là nhiều lần Trung ương đã thảo luận vấn đề này. Nhưng quả thật sự thảo luận đã không đi đến được sự lý giải rõ ràng và nó dừng lại ở chỗ thỏa thuận với nhau và trở thành tư tưởng chỉ đạo cho đến bây giờ, là:
* Phải chuyên chính với kẻ thù (giai cấp) và dân chủ với nhân dân lao động.
* Phải có bộ máy mạnh để chuyên chính với kẻ thù.
* Vì chế độ ta là một chế độ dân chủ, cho nên sự thực hiện chuyên chính chỉ nói trong nội bộ, chứ không công khai nói ra làm gì!
Như vậy là cứ làm mà không nói, trong một phương châm hành động cũng không nói ra là: "nói một đàng, làm một nẻo". Như vậy đây là trường hợp làm mà không nói. Có trường hợp khác thì lại cứ nói, nói càng nhiều càng tốt, nhưng chỉ cần nói thôi, chứ không làm. Ðiều này làm cho nhân dân gặp rất nhiều điều khó hiểu. Ðiều đó trở thành một đặc điểm của chính quyền cộng sản. Mà không phải chỉ có kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản mới nhận xét thế. Có nhiều người bạn trung thực của phong trào cộng sản, nhiều lý thuyết gia thế giới, cũng nhận xét như thế. Những dẫn chứng cho nhận xét trên đây có rất nhiều trong sinh hoạt hàng ngày của xã hội ta.
Khi có sự thảo luận, tôi phải tìm hiểu vấn đề, do vậy tôi đã tìm đọc Lênin trong những đoạn ông nói về chuyên chính vô sản. Về khái niệm này Lênin có nói ở nhiều chỗ, nhưng nội dung không giống nhau. Tôi nhớ có hai loại ý khác nhau:
a) Có chỗ Lênin cho rằng đó là chính quyền cách mạng của giai cấp vô sản, nó có nhiệm vụ xóa bỏ và triệt tiêu mọi tồn tích của chính quyền cũ (tư sản) vừa bị đánh đổ. Cho nên chuyên chính vô sản không dùng và không dựa vào bất cứ pháp luật nào của chính quyền cũ, mà chỉ hành động vì lợi ích của cách mạng, vì lợi ích của giai cấp vô sản.
b) Có chỗ thì Lênin nói rằng: chuyên chính vô sản là dân chủ vô sản. Mà dân chủ vô sản thì cao hơn dân chủ tư sản. Vì vậy chuyên chính vô sản không bao giờ coi đàn áp là quan trọng, thậm chí coi đàn áp là chủ yếu cũng không chấp nhận được. Phải coi trọng sự tổ chức và giáo dục.
Do không có điều kiện để tìm và trích nguyên văn, nhưng tôi bảo đảm là tôi đã nhớ đúng hai tinh thần đó. Nghĩa là: thực hiện chuyên chính vô sản là thực hiện một cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt để xóa sạch mọi tàn dư của chính quyền cũ vừa bị đánh đổ theo ý "a" nói trên. Ðó là chuyên chính vô sản trong hoàn cảnh mới giai cấp vô sản mới giành được chính quyền. Nhưng đến khi ta đã xây dựng được chính quyền rồi thì chính quyền mới này phải là một chính quyền dân chủ cao hơn hẳn chính quyền tư sản. Chính quyền dân chủ mới này quản lý xã hội bằng tổ chức và giáo dục chứ không phải bằng đàn áp, bằng bạo lực. Vì vậy mà lâu nay trong lý thuyết mới có sự đề cập tới việc xây dựng một "nhà nước pháp quyền" và quản lý xã hội bằng một hệ thống luật pháp ăn nhập cả với các thông lệ luật pháp quốc tế. Một nhà nước dân chủ giữa các nhà nước dân chủ của thế giới. Hay biết bao! Và ta sẽ có dịp tỏ rõ tính ưu việt của nền dân chủ vô sản.
Tôi đã từng biết, từng gặp những đồng chí luôn luôn biểu thị khí thế đấu tranh giai cấp quyết liệt, hò hét tiêu diệt mọi kẻ thù. Quan niệm "kẻ thù giai cấp" đã ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động của các cơ quan pháp luật. Hầu hết những người làm việc trong các cơ quan pháp luật đều cho rằng hễ ai mà đã phạm luật, hoặc bị nghi ngờ là có vi phạm đều phải coi là kẻ thù của cách mạng và các đồng chí đó đều đối xử với đối tượng ấy như đối với kẻ thù: từ cách nhìn khi gặp gỡ, tiếp xúc, cách hỏi cung, cách dẫn đi, cách cho ăn cho uống... Tôi đã được đọc một số hồi ký của một số người bị bắt và bị tù, nghe lời kể trực tiếp hoặc gián tiếp của thân nhân những người bị tù. Những người bị tù trong chế độ ta không được đối xử như một người "nhân dân", như bất kỳ một công dân nào, mà như một kẻ thù. Số người được đối xử đặc biệt cũng có, nhưng ít ỏi.
Tôi có một bà chị có chồng là tù nhân trong thời đế quốc phong kiến, nay có con rể là tù cách mạng. Chị có kể chuyện về hai cuộc đi thăm tù: trước đi thăm chồng, nay (sau năm 1975) đi thăm con rể. Chị có một ấn tượng rất nặng nề khi phải so sánh hai cuộc đi thăm ấy: tù nhân thời nay cực hơn thời đế quốc. Trưóc nhận xét thẳng thắn của chị, tôi buồn rầu nghĩ rằng ta đã công bố nhiều chính sách hay, cũng đã có một số việc làm tốt được tuyên truyền rộng rãi. Chẳng lẽ ta không có cách gì xóa bỏ được ấn tượng nặng nề của tinh thần thù địch hay sao?
4. Sự nhấn mạnh quá mức cần thiết về ý thức giai cấp hay tính giai cấp còn có một hệ quả tai hại và ngày càng tai hại cho xã hội. Gần đây Ðảng có đề ra khẩu hiệu liên kết công nông với trí thức, mà có người phấn khởi đã gọi tắt là liên kết "công nông trí". Một số trí thức đã hoan nghênh và coi đó là dấu hiệu tốt của con mắt Ðảng khi nhìn vào trí thức. Nhưng công thức này vẫn đặt trên nền tảng là công nông. Trí thức chỉ được coi như một bộ phận không thể không có. Cái "ý thức giai cấp" coi thường và không tin cậy đối với trí thức xuất phát từ quan điểm cho rằng khả năng cách mạng của trí thức quá thấp, nhất là trong đấu tranh bạo lực. Ðiều này là rõ và hiển nhiên. Nhưng ngoài ra cái nhìn về trí thức còn hao hàm ý nghĩa: trí thức thuộc tầng lớp trên, tầng lớp bóc lột. Hình ảnh của họ là những người không thể tin cậy, những người cần phải cảnh giác, nhất là trí thức văn nghệ sĩ. Một bậc đàn anh của tôi đã có lúc ân cần thân mật dặn tôi: "Mày phải cẩn thận, văn nghệ sĩ nó hay xỏ xiên lắm đấy!"
Tài năng không có ý thức để chọn chỗ đầu thai. Cho nên những tài năng có không chọn chỗ đầu thai vào công nông là chuyện bình thường. Nhìn lại lịch sử ta thấy những nhân vật lẫy lừng của cuối thế kỷ thứ XIV đầu thế kỷ XX của ta đều xuất thân từ các gia đình khoa bảng hoặc bản thân là trí thức, kể cả Hồ Chí Minh. Cái nguyên lý đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội không thể khi nào cũng đúng với mọi thời đại và mọi dân tộc được. Nhưng những con người tài giỏi, có trí thức đóng vai trò quyết định số phận của đất nước và của dân tộc thì hình như rất đúng với Việt Nam, cả trong lịch sử xa cũng như lịch sử gần. Thời đại nào, dân tộc nào cũng nổi bật lên vấn đề người tài, và cũng chỉ có người tài mới để lại được những giá trị và ấn tượng tốt đẹp cho các đời sau.
Tôi thấy hình như cái ý thức công nông không có khả năng thấy rõ được vấn đề này. Và khi ai đó đề cập đó vấn đề mà ý thức giai cấp buộc phải lên tiếng thì y như rằng có những người trình bầy như thể các tài năng đều của công nông, đều từ công nông mà ra, đều phải dựa vào công nông mới phát triển được.
Tôi thì tôi thấy ngược lại. "Ý thức giai cấp" công nông không thể nhận biết được hai nguyên lý đơn giản mà tôi học được ở các nhà khoa học, đó là:
a/ Tài năng là của hiếm.
b/ Tài năng là của tất cả nhân dân.
Vì vậy phải đối xử với tài năng như là của hiếm, và của hiếm đó là tài sản quý của tất cả mọi người. Ngày xưa, vua chúa còn có khi tha tội hoặc xóa tội cho những người tài.
Nhưng "ý thức giai cấp" thì không. Từ "ý thức giai cấp" quá mạnh dẫn đó nhận thức cứng nhắc và mơ hồ chung quanh vấn đề "đức" và "tài". Khi nêu lên quan hệ "đức" và "tài" thì cho rằng "đức" phải là gốc. Hơn nữa, khái niệm "đức" được nói đến chỉ với ngụ ý về một số phẩm chất đặc trưng của công nông. "Ðức" chỉ là yêu quý và tích cực lao động (chân tay), không tham ô, hủ hóa, mà ít có gắn đức với những phẩm chất khác như trung thực, khiêm tốn, nhân ái, thương người, làm việc có hiệu quả. Vì vậy rất khó tìm đúng người đặt đúng việc.
Năm 1978, trong cuộc gặp gỡ giữa đồng chí Nguyễn Văn Linh với các văn nghệ sĩ, một nhà lý luận văn học đã phải thốt lên: "văn nghệ sĩ bị khinh bỉ sâu sắc". Còn nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện thì phàn nàn: "Có những thành kiến như những bản án, mà là án chung thân, treo lơ lửng trên đầu một số văn nghệ sĩ ".
Tôi, thì tôi thấy rõ: "Cái ý thức giai cấp trong xã hội ta có những đặc điểm sau:
* Không có khả năng và phương pháp để phân biệt tài năng, vì nó không cần đến tài năng, không muốn có tài năng.
* Không có khả năng và không biết sử dụng tài năng, vì nó cho rằng tài năng thường có hại, tài năng không chịu ngoan ngoãn phục tùng.
* Nó lại càng không có khả năng phân biệt tài năng thật và tài năng giả. Nó chỉ thích nghe những điều xuôi chiều và xu nịnh. Nó không thể chịu được những cái độc đáo và không dung tha sự độc lập. Có những hiện tượng tác phẩm được giải thưởng nhưng không ai muốn đọc, muốn xem. Ngược lại, một số tác phẩm càng bị cấm, càng nhiều người tìm đọc. Tôi cho đây là một điều cần nghiêm túc xem xét, chứ không phải chuyện nói đùa chơi.
Ðáng buồn là như vậy. Nó (cái ý thức giai cấp) mất luôn cả khả năng phân biệt và nhận biết những lẽ phải thông thường. Có một hiện tượng hết sức nguy hại cho vận mệnh của dân tộc và quốc gia. Ðó là hiện tượng học giả, bằng giả, học hàm, học vị mua được bằng tiền. Những tác động nào đã đẻ ra tình trạng đó? Ðó có phải là chính sách văn hóa của nhà nước công nhân không? Có cần phải có những chính sách hạn chế được cái giả mà khuyến khích được cái thật không? Riêng một người, hoặc một nhóm ai đó, thì không thể nghĩ ra cái chính sách ấy được. Khuyến khích nghĩ sâu, khuyến khích nói thẳng thì sẽ không thiếu gì giải pháp chính sách. Nhưng khổ nỗi, với cái ý thức giai cấp xơ cứng thì không sao làm được.
Gần đây, và cả hiện nay, có một từ được lưu hành một cách bán chính thức. Ðó là từ kẻ sĩ hoặc sĩ phu. Không biết ông trí thức, tác giả một số bài luận văn ký tên Hà Sĩ Phu có ý muốn bộc lộ nỗi lòng mà cất cao giọng hỏi: "Còn ai là sĩ phu nữa hay không? Sĩ phu thời nay là ai và họ ở đâu rồi?". Tôi thấy hiện tượng lưu hành từ kẻ sĩ và sĩ phu là một sự phản ứng tế nhị nhưng dữ dội của giới trí thức trước tình hình bị đánh giá không đúng. Hai từ ấy có tác dụng giúp người ta phân biệt và nhận mặt kẻ giả và người thật.
Kẻ sĩ hay bậc sĩ phu có ngụ ý chỉ người hiểu sâu, học rộng (trí thức), nhưng lại là người trung thực và khảng khái, dám nói và nói thẳng. Như vậy từ kẻ sĩ có ngụ ý kêu gọi mọi người trí thức dù cao dù thấp, hãy xứng đáng là một kẻ sĩ, xứng đáng là một sĩ phu mà làm tròn trách nhiệm với đời như các bậc sĩ phu tiền bối. Nó cũng có ngụ ý lời tâm huyết của tầng lớp trí thức nói với giới lãnh đạo và quản lý: "Hãy để cho kẻ sĩ tự do nghĩ và tự do nói lời của mình". Mà lời của kẻ sĩ (thật) thì thường khác với lời chính thống. Ðó là dấu hiệu tốt để phân biệt thật giả. Mà hiện nay thật giả bị trộn lẫn, khó phân.
Cần khắc phục cái "ý thức giai cấp quá mức cần thiết", cần đánh giá lại vai trò của trí thức, của kẻ sĩ trong sự phát triển của đất nước. Càng nhiều kẻ sĩ góp lời và thi thố tài năng thì đất nước càng có điều kiện phát triển và mới phát triển được. Ðiều này không hề làm giảm vai trò của Ðảng cộng sản, mà trái lại, nó làm rõ thêm, sáng thêm đôi mắt và tấm lòng của Ðảng đối với đất nước, đối với kẻ sĩ. Ðó mới là chính trị sáng suốt. Ý thức công nông đúng đắn là phải tôn trọng và biết ơn giới trí thức (kẻ sĩ) là những người phát minh, sáng chế, tạo điều kiện cho công nhân sản xuất ra những giá trị vật chất ngày càng cao và cũng chính họ sản xuất ra những giá trị tinh thần cho xã hội rất cần thiết cho sự sinh tồn của một xã hội văn minh. Không thể để cho sự biến dạng ý thức giai cấp này kéo dài thêm nữa!!!
5- Có một điều lạ là để giải quyết các vấn đề của một dân tộc, một xã hội, phải có sự hiểu biết kỹ và sâu của xã hội đó, dân tộc đó. Ðến nay, Cách mạng Tháng Tám 1945 đã được hơn 50 năm, thắng lợi độc lập, thống nhất độc lập dân tộc đã được hơn 25 năm, mà chưa có một ý kiến nào đề ra việc phân tích xã hội ta hiện nay, tuy nhiều người vẫn thấy mình đứng trên lập trường giai cấp rất vững vàng. Riêng tôi, tôi nghĩ lập trường phải phù hợp với thực tiễn đời sống cụ thể, chứ không thể chỉ dựa vào kinh điển và những thứ "kinh điển" cần có dấu hỏi. Hình như hiện nay, khi phân tích xã hội Việt Nam về giai cấp vẫn còn những ý kiến từ trước Cách mạng Tháng Tám, khi đồng chí Trường Chinh còn là tổng bí thư. Bằng chứng là cho đến nay có người vẫn còn sử dụng những ý kiến phân tích giai cấp của xã hội ngày đó.
Còn ngày nay, giai cấp nông dân đang biến động thế nào, trong nông thôn xuất hiện thêm những tầng lớp nào? Tâm lý và nguyện vọng của nông dân hiện nay ra sao? Công nhân đang phát triển thế nào ? Có bao nhiêu thứ công nhân ? Bao nhiêu tầng lớp nông dân ? Ý kiến cho rằng tất cả công nhân viên, cán bộ các cơ quan nhà nước đều thuộc giai cấp công nhân có thỏa đáng không ? Những người làm thuê cho các doanh nghiẹp tư nhân, liên doanh với nước ngoài có hoàn toàn giống như công nhân các doanh nghiệp nhà nước không ? Có thể hiện nay có những lớp người không thể quy là nông dân hoặc công nhân ? Dân nghèo thành thị có phải là một giai cấp không ? Có cần phải thừa nhận có một lớp người làm các nghề tự do như nhà báo, thầy thuốc, văn nghệ sĩ..., và những người đó có phải là nhân dân lao động hay không ? Rõ ràng hiện nay xuất hiện nhiều nhóm xã hội khác nhau ở nông thôn cũng như ở thành thị. Ta cần phân tích và miêu tả nó như thế nào để làm nền tảng cho ý thức giai cấp hiện nay cho thật phù hợp. Không làm việc này mà chỉ hò hét lập trường quan điểm để rồi có người chê là giáo điều, bảo thủ thì lại giận.
Tóm lại, phải thể hiện rõ sự tôn trọng lý thuyết giai cấp của Mác-Lênin ở vấn đề này một cách thiết thực như vậy. Ðảng cần tập trung tinh lực, thời gian, trí tuệ, và tiền của vào những công việc nghiên cứu mà kết quả của nó đem lại điều kiện tốt đẹp cho sự lãnh đạo chính trị của Ðảng, nâng cao chất lượng lãnh đạo của Ðảng.
***
Chủ nghĩa Mác-Lê về vấn đề giai cấp gồm nhiều vấn đề sâu rộng. Có thể có nhiều cách diễn giải tốt hơn (tôi không nói đúng hơn, vì có nhiều cách giải thích đúng và cái gì là đúng nhất là điều chưa thể có câu trả lời). Tôi đã được biết những ý kiến thảo luận chung quanh vấn đề giai cấp vô sản và sức mạnh của giai cấp vô sản quốc tế. Có ý kiến cho rằng cái lý thuyết của Mác dẫn Mác đến chỗ Mác phải có kết luận như vậy. Chứ thực ra xã hội loài người đang biến động, và sự biến động này chắc chắn không khớp với những tiên đoán của Mác.
Thật là mênh mông. Tôi chỉ dám đứng ở ngoài ngõ mà nhìn vào thôi. Tôi không đủ sức diễn giải được. Nhưng những gì tôi đã trải qua và nghiệm thấy, tôi thấy rõ trong xã hội ta có một sự hiểu biết vấn đề này quá giản lược và trong quá trình vận dụng sự hiểu biết ấy vào cuộc sống thì có nhiều biến dạng. Những biến dạng đều sinh ra những tai hại trong quan hệ xã hội và chính sách. Tôi cũng là người góp phần vào sự biến dạng đó. Nay tôi viết bài bút ký này với tinh thần phê bình rất thành thật, tôi mong có thể tìm được một bài học chung cho đời. Giờ đây, tôi thấy rất rõ là nếu chỉ biết chủ nghĩa Mác thôi thì chưa đủ, dù cho nó có hay đến bao nhiêu đi nữa, thì vẫn cứ cần phải đọc thêm để có được những hiểu biết về các học thuyết, các triết học khác, của cả phương Ðông lẫn phương Tây.
(Hết phần I, xem tiếp Phần II)
TRẦN ÐỘ