![]() |
|
Đối Thoại Năm 2000 Dân chủ: Vấn đề của dân tộc và thời đại (b) |
|
|
Trần Khuê - Nguyễn Thị Thanh Xuân Trong bài "Chính đốn để tồn tại và phát triển" chúng tôi đã nói rằng chúng ta phải xem xét nhận thức lại cái cơ chế : "Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý". Trước đây, chúng ta đã nhất trí hoàn toàn với nhau về cơ chế này. Nếu tất cả đều suôn sẻ, xuôi chèo mát mái, chẳng có gì cần bàn thêm. Nhưng thực tiễn hoạt động và thực tế xã hội chứng tỏ rằng nếu không duyệt lại nhận thức và sửa lại cơ chế thì dứt khoát không ổn. Trước hết, hãy nói về sự cầm quyền của Đảng. Từ xưa tới nay, vai trò độc quyền lãnh đạo được chúng ta nhấn đi nhấn lại, coi đó là một chân lý tuyệt đối, nhất thành bất biến. Đó là một điều đúng, nhưng rất tiếc có nhiều người lại nhận thức một cách rất sai. Trong khi họ vẫn tự nhận rằng họ trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng trong suy nghĩ và hành động, họ đều tỏ ra phi biện chứng Mácxít. Mác cũng như tất cả các nhà duy vật chân chính đã khẳng định rằng trên đời này không có cái gọi là chân lý tuyệt đối. Và có lẽ chỉ có nhận thức đó là mang ý nghĩa chân lý tuyệt đối. Còn lại tất cả chỉ là chân lý tương đối mà thôi. Kiến thức sơ đẳng nhất mà ai đã học về phép biện chứng đều phải biết : mọi vật đều biến chuyển theo hướng hoặc đi lên (phát triển) hoặc đi xuống (suy vong). Đó là qui luật của muôn đời. Các quá trình phát triển, suy vong có thể nhanh hay chậm là tùy thuộc vào chủ thể và vào môi trường. Trong môi trường xã hội loài người thì chủ thể đó là con người. Không nói thì ai cũng biết, con người hiện nay là kết quả của quá trình phát triển tiến hóa của hàng triệu năm. Nếu tính nguồn gốc của người cũng như mọi thứ sinh vật trên hành tinh này thì nguồn gốc và quá trình phát triển sự sống lại phải tính đến hàng chục, hàng trăm triệu năm. Điều đó chưa rõ vì khoa học còn đang tiếp tục khảo sát. Điều mà khoa học đã chứng minh được đó là sự sống bắt đầu bằng tế bào. Mặc dù tế bào chưa hề có cái gọi là ý thức hay tư duy thì cũng đã "ý thức" được rằng phải tách đôi, lại phải cứ thế mà tách đôi tiếp. Nhờ có quá trình tách theo cấp số nhân liên tục của tế bào một cách tự nhiên như thế mà có chúng ta ngày nay và đủ các thứ chúng ta chén được để mà tồn tại và phát triển. Ngừng phát triển có nghĩa là ngừng tồn tại và là hủy diệt hoặc tự hủy diệt. Việt Nam ta không chịu bị hủy diệt và cũng không ngớ ngẩn đến mức tìm cách tự hủy diệt mình nên đã không ngừng tìm đường để có thể phát triển. Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cho Việt Nam phát triển. Tất nhiên phải trả giá bằng 30 năm xương máu, đó là những điều chúng ta không muốn. Nhưng chúng ta không thể làm khác. Chính những sử gia thế giới trong đó có sử gia người Pháp nổi tiếng De Villers trong tác phẩm của mình (Sài Gòn - Paris - Hà Nội), bằng những dữ liệu chính xác và đầy đủ đã chứng minh rằng năm 1946, Cụ Hồ Chí Minh bị giới chính trị và quân sự Pháp dồn vào thế buộc phải phát động cuộc chiến tranh vệ quốc. Cụ Hồ là người yêu hòa bình và không muốn chiến tranh. Thế mà đến năm 1995, tại hội nghị quốc tế Việt Nam học ở Aix-En-Provence, trong tham luận của mình, tiến sĩ thần học Nguyễn Văn Trung lại có ý bác bỏ cuốn sách với những luận điểm đúng của De Villers mà không đưa ra chứng cứ gì. Trong nghiên cứu khoa học, người ta không chấp nhận chuyện hồ đồ như thế. Một lần nữa cũng xin thưa với tiến sĩ triết học Đỗ Huy và những ai còn cho rằng 30 năm kháng chiến của chúng ta là cản trở sự phát triển văn hóa thì cũng nên nghĩ lại. Vừa qua, Đại hội VI cũng đã tìm ra được con đường phát triển. Chỉ tiếc rằng nếu biết nghe đ/c Kim Ngọc và nhân dân Vĩnh Phú sớm hơn thì đâu có phải trả giá một cách vô ích như thế. Cũng có những nhà lý luận cãi rằng : do hoàn cảnh kháng chiến nên buộc phải giữ lại hợp tác xã mặc dù biết nó có nhiều khuyết tật. Vậy, chúng tôi xin thưa rằng nếu biết khoán như Kim Ngọc là đúng thì tại sao sau ngày đại thắng không khoán ngay để đến nỗi cuộc khủng hoảng trì trệ kéo dài 10 năm liền (1976-1986). Phải nói thẳng rằng khoán chậm cũng như làm 5 thành phần kinh tế chậm và nhiều thứ chậm chạp khác là do nhận thức sai lầm về mặt lý luận chứ không thể chỉ đổ cho khách quan, hoàn cảnh thế này, hoàn cảnh thế nọ. Cũng đáng tiếc cho đ/c Trường Chinh vĩ đại, giá như khi nhận ra sai lầm, đ/c Trường Chinh dám công khai xin lỗi đ/c Kim Ngọc, tỉnh ủy và nhân dân Vĩnh Phú thì hẳn là đ/c còn vĩ đại hơn nhiều. Nhân dân ta vốn rất độ lượng, các cụ đã từng dạy : trước không phải, sau phải vẫn nên coi là phải", "đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại". Nhân đây, chúng tôi cũng nhắc đ/c Tố Hữu và những ai đã tham gia đánh vụ nhân văn giai phẩm cũng nên can đảm xin lỗi những người bị đánh oan. Không nên để những người còn sống như Lê Đạt, Hữu Loan, Thái Vũ, Hoàng Cầm, Phù Thăng, Văn Tâm .... và những người đã mất như Văn Cao, Trần Dần, Phùng Quán .... cùng với gia đình con cháu họ cứ phải ngậm hờn, ai oán mãi mãi. Tiếc rằng đ/c Lê Đức Thọ và những người tham gia vụ tiêu diệt "nhóm xét lại Hoàng Minh Chính" hầu hết đều đã không còn nữa. Vậy thì Trung ương hiện nay của ta nên giải quyết cho rành mạch. Vừa qua, nhân chuyến đi công tác Hà Nội, chúng tôi có dịp tiếp xúc với ông Hoàng Minh Chính và các ông Trần Độ, Lê Hồng Hà, Hoàng Hữu Nhân, Hoàng Tiến, Thanh Giang, Nguyễn Kiến Giang v.v. . . nghĩa là những người từng bị bắt giam hoặc mới bị khai trừ Đảng, với mục đích tìm hiểu xem họ đúng sai ra sao. Về mặt quan điểm tư tưởng, phương pháp và cách thức trình bày những quan điểm của họ có điểm chúng tôi tán thành, có điểm chúng tôi không tán thành. Chúng tôi đã thẳng thắn tranh luận với họ và nghĩ rằng còn cần phải tiếp tục tranh luận. Nhưng cần phải công bằng mà nhận định rằng, họ đều là những con người trung thực, có trí tuệ, có tâm huyết đối với dân tộc và cách mạng. Có thể họ sai, có thể chúng tôi sai. Cần có thời gian, biết lắng nghe nhau và biết chờ đợi thuyết phục nhau. Không ai có thể giữ độc quyền đúng hoặc độc quyền sai. Không được phép áp đặt cho nhau. Trong lĩnh vực tư tưởng càng phải tôn trọng nguyên tắc và luật pháp. Không được dùng biện pháp hành chính hoặc hình pháp một cách tùy tiện. Ngay giai cấp tư sản và chế độ tư bản cũng không dám tùy tiện. Nếu không thì đ/c Mác và đ/c Ắnghen của chúng ta làm sao ngồi yên mà viết sách chống họ và xuất bản ngay trước mũi họ. Và chắc nhiều người chưa quên khi bộ máy chuyên chính của giai cấp tư sản Pháp động đến nghị sĩ cộng sản Jacque Duclos thì cả nước Pháp làm ầm lên như thế nào. Cả thế giới tiến bộ lên tiếng phản đối như thế nào. Anh còn nhận anh là dân chủ, bắt buộc anh phải chùn tay. Còn khi anh đã đi vào con đường phát xít hóa như Đức, Ý, Nhật thì anh tiêu vong. Giai cấp tư sản Pháp và đảng cầm quyền ở Pháp lúc bấy giờ hiểu rằng phải dừng lại ở đâu, không dám làm bừa làm tới. Cũng lạ cho các đảng cộng sản trong phe ta, nhiều khi không tính rõ tương quan rồi cũng chẳng biết nên dừng ở chỗ nào. Liên Xô, Trung Quốc trước đây cũng thế. Cứ bắt bớ, tù đày, bắn giết, thủ tiêu ngầm .... không đếm xỉa gì đến lẽ công bằng, đạo lý và pháp lý. Chuyện Nga thì còn xa xôi, thôi thì lấy ngay dẫn chứng ở cái nơi "núi liền núi, sông liền sông" với ta đây này. Thân danh làm đến ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, làm đến chủ tịch nước, công lao hãn mã mấy ai bì kịp, thế mà Lưu Thiếu Kỳ được các chiến hữu chí thiết của mình giam cầm, đánh đập, hành hạ đến chết. Lúc hấp hối chỉ còn nắm da bọc xương và trút hơi thở cuối cùng dưới một mảnh bao tải rách giữa một mùa đông giá lạnh Trung Quốc. Đ/c Lưu Thiếu Kỳ và hàng chục triệu đảng viên cộng sản Trung Quốc khác chết đau đớn nhục nhã còn kém thân phận của những kẻ ăn mày. Càng xót xa hơn khi nghĩ đến tình cảnh gia đình, con cái cháu chắt họ bị ngược đãi. Chuyện Stalin và những thủ hạ của Stalin ngược đãi, giết hại những người đảng viên cộng sản Liên Xô như thế nào, những người có lương tri ở đó đã nói quá đủ rồi, ở đây không nói nữa. Điều đáng nói là cho đến những ngày cuối thế kỷ, chúng ta vẫn chưa hết giật mình kinh hãi khi nghĩ đến một bộ máy cầm quyền vĩ đại như Đảng cộng sản Liên Xô mà phút chốc sụp đổ tan rã một cách thảm hại. Chúng tôi đã từng chê trách những người làm lý luận ở ta không chịu nhìn thẳng vào sự thật, khảo sát lơ mơ, phân tích theo kiểu khuôn sáo nên không giúp cho ta rút ra được những bài học thích đáng. Ngoài ba nguyên nhân chủ yếu mà chúng tôi đã phân tích trong bài trước (bệnh chống qui luật, bệnh chống trí tuệ, bệnh kiêu ngạo cộng sản), chúng tôi xin nêu thêm một nguyên nhân nữa đã khiến cho Đảng cộng sản Liên Xô sụp đổ nhanh. Đó chính là điều 6 ghi trong Hiến pháp của nhà nước Xô Viết mà chúng tôi đã trích dẫn ở phần trên. Đảng cầm quyền thì cứ việc cầm quyền chứ ghi vào Hiến pháp thế nào được. Giai cấp tư sản vốn bản chất là thô bạo nhưng phải công bằng mà khen họ ở điểm này là rất tế nhị. Thử hỏi khi họ không ghi vào Hiến pháp cái sự cầm quyền của họ nhưng có quyền lớn, quyền nhỏ nào trong thế giới tư bản lại vuột khỏi tay các ông chủ của những tập đoàn tài phiệt, quân phiệt, các công ty xuyên quốc gia. Giai cấp tư sản cũng thừa khôn ngoan để hiểu rằng bất cứ đảng Cộng hòa hay đảng Dân chủ, đảng Tự do hay đảng Xã hội thiên chúa giáo; đảng Xanh hay đảng Vàng ... dù cầm quyền thì cũng không bao giờ đủ số đảng viên có năng lực để rải khắp từ cấp chính phủ trung ương cho đến cấp phường xã cơ sở. Vả lại cái gương tày liếp cũng vẫn còn treo đó : các vị hoàng đế từng vỗ vào ngực : "Nhà nước là ta, pháp luật là ta" đều đã tiêu vong rồi. Dại gì mà làm trò quay ngược bánh xe lịch sử. Chẳng nhẽ các đ/c lãnh đạo Liên Xô trước đây lại không biết rằng : mình ở cấp trung ương mình hiểu biết, còn có thể tự kiềm chế; còn các vị đảng viên cấp cơ sở, lúc nào cũng giơ quyền ra rồi tùy tiện lạm quyền, lộng quyền thì ai ngăn cản nổi, dân nào dám động đến họ. Chúng tôi tin chắc rằng nhân dân Liên Xô không hề chán ghét lý tưởng cộng sản. Nhưng họ thật sự gớm mặt ba vị đảng viên hằng ngày hoạnh họe, bóp nặn, khinh khi họ. Dân chán đến mức thấy mặt đã ghét mà lại không sụp đổ thì mới là chuyện chưa từng có trong lịch sử loài người. Vậy phải truy xét xem ai là người đã tham mưu cho Trung ương đưa điều 4 vào Hiến pháp của ta năm 1980 ? Họ nhầm : Họ không hiểu rằng chép lại cái điều 6 từ Hiến pháp Liên Xô thành điều 4 ở Hiến pháp Việt Nam là tạo điều kiện cho tiêu cực, tham nhũng mặc sức sinh sôi nảy nở. Chúng tôi trân trọng đề nghị Đại hội IX và Quốc hội khóa mới của ta nghiêm túc duyệt lại điều này, bàn xem có nên để điều 4 ở trên Hiến pháp nữa hay không. Hồ Chí Minh của chúng ta tuyệt vời lắm. Hỏi nước ta ai có quyền to hơn Cụ, không những thế uy của Cụ còn vượt cả biên giới. Thế mà lúc nào cũng : "Tôi chẳng qua chỉ là một người lính được quốc dân giao phó trách nhiệm ra trận". Mà Dân ta biết Cụ nói chân thật. Cho nên Cụ bảo gì, ra lệnh gì mà không vâng theo. Cụ bảo phải đánh Pháp ta đánh Pháp. Cụ bảo lên Điện Biên Phủ, ta lên Điện Biên Phủ. Cụ bảo đánh Mỹ, ta đánh Mỹ. Cụ bảo phải cứu bà con ruột thịt miền Nam, phải hỗ trợ cho anh em bè bạn quốc tế, ta đi B, đi C. Cụ bảo miền Bắc có trách nhiệm chi viện miền Nam, thế là mẹ ta gạt nước mắt tiễn chồng, tiễn con lên đường và bát cơm mẹ xẻ làm tư. Cụ Hồ thực thi quyền lực một cách có lương tâm, có đạo lý để phục vụ lý tưởng cao cả của dân tộc, đáp ứng nhu cầu của thời đại, làm sao những người có lương tri lại không tuân theo được. Còn nhiều đảng viên rất nhố nhăng, được giao phó một chút ít quyền lực thế là đã tưởng rằng mình thành ông vua con, ông giời con, coi thường nhân dân, coi thường tập thể, coi thường Trung ương, mặc sức hoành hành ngang ngược, xem địa phương, xem đất nước như một chốn rừng hoang, không kỷ cương, không luật pháp. Quyền lực nhỏ mà đã láo lếu chơi luật rừng. Láo lếu chán rồi rủ nhau "ngự" Đường Sơn quán. Nhưng khi họ nắm được quyền lực lớn mới kinh khủng. Cứ xem như trường hợp đ/c Lê Đức Thọ thì biết. Cho đến giờ phút cầm bút viết những dòng này, chúng tôi - và chắc rằng rất nhiều người khác - vẫn tin rằng Đảng ta không bao giờ nỡ đối xử với các thành viên của mình một cách quá đáng. Trung ương ta cũng không bao giờ nỡ đối xử với đồng chí, với cấp dưới của mình một cách nhẫn tâm, tàn bạo như thế. Hồi các ông được gọi là trong "nhóm xét lại chống Đảng" như Hoàng Minh Chính (viện trưởng Viện Triết học), Đặng Kim Giang (thiếu tướng quân đội nhân dân Việt Nam), Vũ Đình Huỳnh (vụ trưởng Vụ Lễ tân), Lê Liêm (thứ trưởng Bộ Giáo dục), Chu Văn Tấn (thượng tướng) bị xử trí, người thì bị tù đày, người thì bị khai trừ, quản thúc. Nhân dân, trong đó có chúng tôi cứ yên chí họ là những phần tử chống Đảng thật sự, toan tổ chức vũ trang lật đổ chính quyền cách mạng hoặc thông đồng với ngoại bang chơi trò cõng rắn cắn gà nhà. Cháy nhà mới ra mặt chuột. Nhờ đổi mới mà nhiều sự thật mới lòi ra. Chính nhờ đ/c Nguyễn Trung Thành, người hồi đó được đ/c Lê Đức Thọ và Trần Quốc Hoàn giao cho trực tiếp phụ trách tra xét vụ này, dư luận mới hiểu rằng mấy ông "xét lại" này chẳng qua có những quan điểm lý luận khác với các đ/c Lê Đức Thọ, Lê Duẩn chứ chẳng có tổ chức, có mưu đồ lật đổ ai. Mà những quan điểm lý luận này cũng chỉ mới tranh luận với nhau bằng mồm chứ chưa viết thành văn bản. Tất nhiên cũng chưa phạm tội tán phát tài liệu chống Đảng. Có thể chúng tôi nhầm vì thiếu thông tin. Nhưng thực tế đã xác nhận rằng rất nhiều người, kể cả giới nghiên cứu KHXH không hiểu tường tận vụ việc này, nhưng vì nhát sợ nên cũng không dám điều tra tìm hiểu để đi đến kết luận chính xác. Chỉ biết rằng khi tiếp xúc với ông Hoàng Minh Chính, tranh luận một cách thân ái và thẳng thắn với ông cựu viện trưởng Viện Triết học này về chủ nghĩa xã hội và về vai trò của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới, thì trước mắt chúng tôi là một con người tuy cao tuổi (80 tuổi) nhưng vẫn hết sức minh mẫn, cứng cỏi, hiểu biết rộng rãi sâu sắc cả sách vở lẫn cuộc đời. Chia tay với con người thanh nhã lịch thiệp này, ấn tượng còn lại vẫn là đã gặp một triết nhân đầy nhiệt huyết với dân tộc và cách mạng. Quái, một con người hồn hậu, dung dị lại giữ được bản lĩnh, bản sắc Việt Nam như thế, sao lại có thể thành phần tử xét lại chống Đảng được nhỉ. Mà về mặt lý luận xem ra ông còn có phần "chống xét lại". Thế mới biết việc đời, người đời không phải là điều dễ hiểu ! Với chúng tôi, ông Hoàng Minh Chính vẫn là một bậc cách mạng lão thành chân chính đáng cúi đầu thi lễ, nhưng vấn đề chủ yếu không phải ở chỗ đó. Vấn đề chủ yếu là ông Hoàng Minh Chính và tất cả những người đã bị bắt bớ giam cầm hay quản thúc trong thời kỳ đ/c Lê Đức Thọ làm trưởng ban tổ chức Trung ương Đảng và đ/c Trần Quốc Hoàn làm bộ trưởng Bộ Công an, họ có tội hay không có tội. Nhân dân cần biết rõ sự thật. Vấn đề không thuộc của riêng ai mà nó thuộc về công lý của Dân tộc và Thời đại. Chính trên bình diện đạo lý và pháp lý mà chúng tôi thẳng thắn đặt lại vấn đề này. Trong thời đại Hồ Chí Minh, không ai có quyền chỉ vàomặt nhau : "anh là kẻ chống Đảng, chống chế độ !" rồi tùy tiện bắt, tùy tiện giam, tùy tiện thả, không cần chứng cứ, không cần xét xử. Sự tùy tiện liên tục xảy ra đến nỗi, trong một bữa giỗ, ngay em ruột đ/c Lê Đức Thọ (Phan Đình Khải) là đ/c Đinh Đức Thiện (Phan Đình Dinh) cũng phải nổi khùng với anh mình : "Anh không thể làm những việc thất đức như thế được. Anh đừng có làm nhục dòng họ Phan, anh không lo rồi họ đào mả bố chúng ta lên à ?". Khi người ta là thành viên của cộng đồng (một Dân tộc vĩ đại, một Đảng vĩ đại) mà người ta quên mất danh dự của Dân tộc, của Đảng, quên mất cả danh dự của dòng họ và bản thân mình thì thật là cực kỳ hết ý rồi. Sở dĩ còn phải lục ra bàn lại vì nó có ảnh hưởng đến các thế hệ con cháu chúng ta. Theo chỗ chúng tôi biết thì trên đời này chưa có một đảng phái nào dám ra văn bản qui định việc bắt bớ tù đày, bắn giết đảng viên của mình. Trước khi từ biệt thế kỷ cũ, chúng ta có trách nhiệm phải làm sáng tỏ những hành động phi lý và phi pháp này để khi bước vào thế kỷ mới, toàn Dân, toàn Đảng ta mang một tâm thế mới, mới hy vọng phát triển được. Nếu không, mọi người cứ sống trong tâm trạng nơm nớp lo sợ bị hoạnh họe, bị chèn ép, trù dập, bị bắt bớ tù đày .... Một người dân sống trong thôn xóm, xã, phường .... ngay cả những công dân nhỏ tuổi trong nhà trường mà lúc nào cũng bị thằng thúc đóng hết khoản lệ phí nọ đến khoản lệ phí kia. Thử hỏi làm thế nào để có thể sống yên ổn, no đủ. Vừa qua, đ/c Nguyễn Văn Yểu, phó chủ tịch Quốc hội dẫn một đoàn đại biểu về kiểm tra TPHCM về tình hình bắt oan, xử tù oan những người vô tội. Không thấy công bố số lượng người bị bắt oan, xử tội oan cụ thể là bao nhiêu. Chỉ thấy báo đưa tin đ/c Yểu đã biểu dương tình hình có nhiều tiến bộ, nghĩa là tỷ lệ bắt oan đã giảm được 5% so với cùng kỳ năm ngoài. Dư luận đặt dấu hỏi : Vậy mỗi phần trăm ấy là bao nhiêu người ? Chẳng lẽ đ/c Yểu lại không hiểu rằng dù còn bắt oan đến một người cũng vẫn là nỗi đau đớn, nhục nhã cho bản thân và gia đình người ta rồi, vẫn là nỗi xấu hổ cho nền pháp chế dân chủ của ta. Sao lại còn có chuyện biểu dương và đánh giá cao thành tích ở đây ? Đã đến lúc chúng ta phải nhận thức lại toàn bộ vấn đề, đổi mới những phần cơ bản trong nhận thức của chúng ta về mặt pháp chế. Ta thử đặt địa vị mình vào địa vị một đ/c cán bộ cách mạng nguyện suốt đời tận tụy vì đất nước và cách mạng, hay địa vị một văn nghệ sĩ nguyện suốt đời sáng tác để phục vụ nhân dân và cách mạng, một nhà khoa học nguyện suốt đời nghiên cứu để phục vụ khoa học và đất nước .... chỉ vì sự bất đồng ý kiến hoặc quan điểm, hoặc vì những lý do vu vơ nào khác mà đột nhiên bị đấu tố, bị vô hiệu hóa, bị loại trừ danh dự và mất tư cách công dân trong cộng đồng trong vài ba chục năm trời liên tục thì bản thân họ và gia đình họ đau khổ nhục nhã đến thế nào. Rồi cũng lại đột nhiên lẳng lặng trả tự do cho họ, không công khai xin lỗi, không công khai phục hồi danh dự cho họ. Như thế liệu có được không ? Ở nước ta cũng có một hiện tượng rất lạ : đối với những người bị coi là "nhân văn giai phẩm" hoặc phần tử "xét lại" thì lên án rất mạnh mẽ, bài bản, có sách vở, có nghị quyết hẳn hoi, tạo nên một phong trào rất sôi nổi dữ dội. Mà trên thực tế, họ là những người vô tội. Nếu ai có khuyết điểm sai lầm nào đó thì cũng chưa gây nên một hậu quả tác hại lớn lao nào về mặt tinh thần cũng như vật chất. Trong khi đó, nhưng phần tử giáo điều đã gây nên những thiệt hại trầm trọng cho Nhân dân, cho Đảng cả về mặt tinh thần và vật chất, lại không hề bị lên án hay kết tội. Chưa hề có một nghị quyết nào lên án những phần tử giáo điều tương đương như Nghị quyết 9 lên án những phần tử xét lại. Nếu chúng tôi không nhớ nhầm thì chính các đ/c Cuba đã có nêu thắc mắc về vấn đề này. Họ ngạc nhiên khi thấy chúng ta chỉ có "nghị quyết chống xét lại" mà không có "nghị quyết chống giáo điều". Và cả họ lẫn nhân dân chúng ta đều không ngớt ngạc nhiên khi thấy Đảng và Nhà nước ta lại còn tiếp tục giao quyền lực lãnh đạo và quản lý cho nhiều phần tử giáo điều để họ tiếp tục hưởng đặc quyền đặc lợi và tác oai tác quái. Thế là đám gọi là "xét lại" chưa gây thiệt hại cụ thể gì thì coi là có tội và tuy chưa hưởng quyền được xét xử vẫn bị trừng phạt rất nặng. Ngược lại, đám giáo điều (không phải là "giáo điều" mà chính cống là giáo điều) gây thiệt hại một cách cụ thể có chứng cứ rõ ràng, cả nước cả thế giới đều biết thì đã không bị kết tội lại còn được o bế. Như thế là công bằng chăng ? Thiết tưởng, trước khi bảo nhau đi tới một xã hội công bằng văn minh, chúng ta phải thực tập dần dần để củng cố nhận thức : thế nào là công bằng ? Lại nhớ đến một bài thơ giàu ý nghĩa triết lý của nhà thơ kiêm triết gia Ba Tư là ông Xa-a-đi : Lẽ công bằng Một anh chăn cừu hỏi cha : - Thưa cha, thế nào là lẽ công bằng ? Người cha trả lời: - Con nên nhớ rằng khi con muốn công bằng với chó sói tức là con đã bất công với cừu ! Hội nghị Trung ương vừa qua thi hành kỷ luật cảnh cáo hai ủy viên Trung ương là đ/c Ngô Xuân Lộc và đ/c Cao Sĩ Khiêm, đó là lẽ công bằng, đó là kết quả của những ý muốn tốt đẹp, muốn thực sự lập lại kỷ cương công bằng. Có dư luận cho rằng cảnh cáo là còn nhẹ, nương tay quá. Xin thưa với quí vị rằng đừng quên các cụ xưa đã dạy : "Có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ", chớ có nóng vội ! Không bao giờ nên quên nước ta là một nước tiểu nông, căn bản vẫn là một nền sản xuất nhỏ, bất cứ việc gì cũng không được đốt cháy giai đoạn, phải tiến mạnh nhưng phải tiến thật vững chắc, nhất là trong lĩnh vực nhận thức cũng cần phải dần dần, càng phải biết chờ đợi nhau. Đến như đ/c Hữu Thọ, trưởng Ban tư tưởng - văn hóa Trung ương có vấn đề còn nhận thức chưa ra, nói gì đến người khác. Một quyết định kỷ luật của Trung ương mạnh mẽ như thế khiến dư luận rung động xôn xao như một luồng gió mới mang lại phấn khởi cho đất nước, thế mà đ/c Hữu Thọ lại cho rằng : "Việc công khai đó cũng là điều bình thường". Trời ạ ! Một việc kỷ luật công khai những người tưởng như không thể kỷ luật được, lần đầu tiên được ghi trong văn bản nghị quyết của Trung ương công bố cho toàn Đảng, toàn Dân và toàn thế giới biết. Thế mà đ/c lại bảo là việc bình thường thì quả là kỳ lạ thật. Xin đ/c vui lòng cho biết từ khi thành lập Đảng ta đến nay đã có văn bản nghị quyết nào ghi kỷ luật những ủy viên Trung ương một cách cụ thể như thế chưa ? Chúng tôi chưa hề thấy một nghị quyết nào như thế. Mới đến như thế mà đ/c Hữu Thọ lại bảo rằng : "Đây cũng không phải là điều gì mới đâu !" (Trích trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ TPHCM số 133/98 ngày 13-11-99). Đối với những người có cái kiểu suy nghĩ như đ/c Hữu Thọ thì cuộc đời này chẳng có gì đáng gọi là mới cả, chẳng có gì là khác thường cả. Đ/c Hữu Thọ còn đưa dẫn chứng : "Tôi còn nhớ khi Bác Hồ còn sống, lúc vỡ đê Mai Lâm, Bác đã kiên quyết cách chức Bộ trưởng thủy lợi vì liên quan đến trách nhiệm của đ/c ấy, dù chỉ mới nhận chức bộ trưởng được mấy tháng". Dẫn chứng như thế là chính xác và lập luận như thế quả là khó bác bỏ, đầy sức thuyết phục. Chẳng thế mà đ/c Hữu Thọ trả lời hôm trước ở báo Tuổi trẻ thì hôm sau báo Sài Gòn giải phóng đã tung hô ngay. Đúng là "tâm phục, bút phục" ! (Xem báo SGGP ngày 15-11-99). Trước hết, hãy xin phép thảo luận với đ/c Hữu Thọ thế nào là bình thường và thế nào là không bình thường. Thảo luận theo nề nếp tư biện thì chúng ta lấn sang sân của Viện Triết học và Hội đồng lý luận của Trung ương. Chúng ta cứ tuân theo lời Bác Hồ dạy là "lý luận liên hệ với thực tiễn" để bà con ta dù học ít hay học nhiều đều có thể hiểu được. Đ/c Hữu Thọ cho rằng việc Trung ương thi hành kỷ luật công khai hai đ/c ủy viên Trung ương Cao Sĩ Kiêm (cựu thống đốc Ngân hàng quốc gia và đương kim phó trưởng Ban kinh tế Trung ương) và Ngô Xuân Lộc (đương kim phó thủ tướng Chính phủ) là điều bình thường. Vậy, việc Trung ương ta chưa công khai thi hành kỷ luật ủy viên Trung ương Nguyễn Thiện Luân (đương kim thứ trưởng Bộ Nông nghiệp) có là điều bình thường không ? Trước khi được đề bạt thứ trưởng, ông Luân còn là giám đốc nhà máy bột ngọt Thiên Hương. Do một báo cáo dối trá của ông mà 51 tấn bột ngọt trong kế hoạch hoàn thành của nhà máy chỉ có trên giấy, sau đó được báo cáo là bị mất trộm. Thế là Công an, rồi Viện kiểm sát, và suýt nữa cả Tòa án đều phải vào việc. Phúc đức làm sao ông Sấm bà Ao và những người có liên quan khác đang bị giam giữ chờ ngày ra tòa thì được Công an TPHCM cứu thoát. Theo Công an TPHCM điều tra thì chẳng có một ký bột ngọt nào bị mất trộm cả nên những người bị bắt bớ giam cầm oan uổng đều được phóng thích. Chắc đ/c Hữu Thọ hồi đó đang đương chức đương quyền ở báo Nhân dân còn nhớ rõ : Báo chí ở thành phố và một vài tờ báo Trung ương thông cảm với nỗi oan ức đau khổ của những người cùng giai cấp đã làm om lên như thế nào. Rồi Ban thanh tra TP và tiếp đến là Ban thanh tra Trung ương đã ra tay như thế nào và đều kết luận nhất trí với Công an ra sao. Rồi dư luận nhân dân phản ứng ra sao, rồi Đoàn đại biểu Quốc hội TP lo ngại vụ việc bị chìm xuồng hoặc để lâu thì "hóa bùn" tất cả nên kỳ họp Quốc hội nào cũng lên tiếng kiến nghị. Thế mà đột nhiên có một lệnh riêng nào đó từ Hà Nội (chúng tôi đang điều tra để có chứng cứ đích xác là ai đã ra lệnh phi pháp này), báo chí im tịt luôn, đoàn đại biểu Quốc hội cũng im tịt luôn và mọi người thì không dám bàn tán công khai nữa. Miệng thì không được nói, nhưng lòng nhức nhối, mà đ/c Hữu Thọ biết đấy, lòng dân đã nhức nhối không yên thì lôi thôi lắm, sao lại coi là bình thường được. Đức Nguyễn Trãi đã dạy : Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo (Bình Ngô đại cáo) Nếu chúng ta không nỗ lực giúp đỡ Trung ương ra tay trừ bạo nghịch, bạo ngược để làm sáng tỏ nhân nghĩa Hồ Chí Minh, nhân nghĩa cộng sản thì thật là vô trách nhiệm biết chừng nào. Hãy giả thiết, bản thân ông Nguyễn Thiện Luận hoặc những người bao che có đủ chứng cứ để chứng minh rằng ông Luân và đồng bọn đều vô tội thì chúng tôi yêu cầu cũng nên công khai minh oan cho họ. Và vấn đề buộc phải chuyển hướng : cần truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Công an TP, Ban thanh tra TP và Ban thanh tra Trung ương. Vu cáo, bôi nhọ danh dự một đ/c ủy viên Trung ương, Thứ trưởng lại là chuyện đùa giỡn với pháp luật được chăng ? Xin hỏi thêm đ/c Hữu Thọ, vậy việc bà con nông dân ta ở Thái Bình, vừa qua nổi dậy chống lũ cường hào quan lại tham nhũng, như thế là bình thường hay không bình thường? Xét theo logic lịch sử thì bình thường quá đi chứ. Phải không đồng chí ? Thế sao các đ/c lại hoảng lên rồi kẻ thì bàn việc đánh dẹp, người thì bàn việc né tránh, còn đ/c thì lại làm bộ đứng giữa để chữa đôi bên, lại còn cao giọng khuyên bảo những vị lão thành cách mạng và những vị cựu chiến binh không nên "cầm đầu" cuộc nổi dậy của Thái Bình. Thế hóa ra "sống chết mặc bay" à ! Trong văn bản "Chỉnh đốn để tồn tại và phát triển", chúng tôi đã khẳng định : Nhân dân Thái Bình không chống Đảng, Đảng này do người ta đẻ ra, người ta yêu thương bao nhiêu cũng chưa đủ, sao lại nói chuyện "chống" ở đây. Nhân dân Thái Bình cũng không chống chế độ, chế độ này do bao nhiêu xương máu, mồ hôi người ta đổ ra mới tạo dựng nên, sao lại nói chuyện chống ở đây ! Lại đưa luận điệu do bị xúi giục, kích động thì cũng là trí nhớ và thần kinh không bình thường. Hãy mở lịch sử coi lại xem. Thế thì các ông Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Hoàng Công Chất ...., rồi trước đó là các ông Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Nguyễn Trãi không nắm vững chính nghĩa, không hiểu nỗi oan khổ và nguyện vọng của dân thì các ông "kích động" nổi ai để làm nên nghiệp lớn và tiếng tăm lưu sử xanh. Nếu anh là phi nghĩa, anh có ý đồ xấu thì giỏi lắm anh kích động được dăm ba chục người, vài ba xã. Chứ khi hàng vài trăm xã người ta đồng tình nổi dậy thì mong đ/c Hữu Thọ cũng như bất cứ ai chớ có đánh giá thấp bà con nông dân ta như thế. Theo chỗ chúng tôi khảo sát lịch sử, trong khoảng vài ba ngàn năm qua, bà con nông dân ta chẳng bao giờ nổi dậy nhầm cả. Và tất cả những ai thiếu tài năng và bản lĩnh cũng chẳng bao giờ dám đứng ra kích động và cầm đầu ai cả. Gần đây (30-10-1999), chúng tôi đọc được trên báo Sài Gòn Giải Phóng bài "Bài thuốc cứu nguy" của đ/c Trần Trọng Tân, cựu trưởng Ban tư tưởng văn hóa Trung ương Đảng. Có thể nói không quá đáng rằng đây là một bài báo đầy tâm huyết có nhiều ý kiến sâu sắc, táo bạo. Chỉ hơi tiếc, có vài điểm đ/c Tân chưa kịp đổi mới tư duy lý luận. Hạn chế này có lẽ do đ/c chưa quan tâm vận dụng phương pháp so sánh lịch sử, phần khác là do đ/c Tân cũng như nhiều đảng viên liêm khiết khác, vì quá lâu ngày tự khuôn mình vào những "tín điều" đã bị thực tiễn và đời sống loại bỏ. Khi đ/c viết : "Nhiều người dân ở thành phố này, qua nhiều năm, đã biết Đảng cộng sản là đảng duy nhất dám lãnh đạo nhân dân đương đầu đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược hung bạo, đã thấy được tận mắt nhiều cán bộ đảng viên của Đảng từng sống chết vì dân nên họ còn quí Đảng, không chịu mang tiếng chống Đảng". Quái ! Tại sao chống lũ đảng viên tiêu cực, tham nhũng lại là "chống Đảng" ? Đ/c Tân sớm quên rằng xưa kia chống vua có nghĩa là phạm tội đại nghịch, ngoài tội chết chém còn thêm cái họa "tru di tam tộc". Chưa nói đến chuyện vua đó lại còn là dòng dõi của những dòng họ công lao hiển hách như họ Trần, họ Lê v.v. Ơn nghĩa cứ ghi nhận ơn nghĩa, chứ dân ta đâu có ngán cái chuyện "mang tiếng". Còn vùng đất Lục tỉnh này, nhất là vùng đất Sài Gòn - Gia Định một thời đã phò giúp chúa Nguyễn Ánh dựng nghiệp lớn, lại còn là đất quê ngoại của nhà vua từng được hưởng bao ơn mưa móc, cơm nặng áo dày, tình nghĩa lắm đấy chứ ! Ơn nghĩa với vua cha (hoàng đế Gia Long) nhưng vua con (hoàng đế Minh Mệnh) lại cứ ban hành chính lệnh hà khắc để dung dưỡng cho lũ tham quan ô lại, cường hào ác bá thì nhân dân Lục tỉnh cũng phải bảo nhau nổi dậy thôi. Chỉ tiếc người cầm đầu là Lê Văn Khôi chưa đủ tài năng và bản lĩnh để đưa một cuộc khởi nghĩa lớn như thế đến thắng lợi. Chuyện trăm năm gần đây lại càng rõ. Nhân dân Gia Định và cả dân Gò Công nữa cũng chẳng sợ mang tiếng gì cả : Viên đạn nghịch thần treo trước mắt Lưỡi gươm địch khái nắm trong tay. Nếu dân vùng đất này chỉ vì sợ mang tiếng mà không nắm chắc lưỡi gươm địch khái thì chắc chắn hồn nước rồi bản lĩnh, bản sắc cũng tiêu lâu rồi, lấy đâu ra Nam Kỳ khởi nghĩa, Nam Bộ kháng chiến, lấy đâu ra Thành đồng Tổ quốc và những ngày vẻ vang tốt đẹp như hôm nay. Đ/c Tân lại lo dân đất Thành đồng này vì sợ "mang tiếng" mà chịu thua kém Thái Bình chăng ? Không ! Theo chỗ hiểu biết cạn hẹp của mình, chúng tôi chưa thấy nhân dân ở đâu lại yêu Đảng của mình như nhân dân mình. Cũng là lẽ tự nhiên thôi. Có bậc cha mẹ nào lại không yêu thương con cái của mình ? Nhưng con không chịu học hành lại rượu chè, buôn lậu, ma túy rồi về nã tiền bố mẹ, hở đâu lấy đấy, còn thông đồng với cả trộm cướp dọa nạt hành hạ bố mẹ. Thử hỏi có bố mẹ nào chịu đựng được mãi không ? Chúng tôi cho rằng nhân dân Liên Xô cũng chẳng bao giờ chán ghét lý tưởng cộng sản hoặc chán ghét Lênin. Và khi họ đồng lòng bảo vệ Đảng thì đừng có lực lượng nào hy vọng động đến Đảng. Nhưng khiếu tố, khiếu nại mãi mà vẫn cứ bảo nhau ôm ấp, bao che cho bọn quan liêu, tham nhũng, cưỡi đầu cưỡi cổ, đục khoét nhân dân thì ai chịu nổi. Lý tưởng thì thấy còn xa vời mà hàng ngày mặt giáp mặt chỉ thấy một lũ hống hách, tham lam, bỉ ổi . . . hỏi ai chịu nổi mà không sập tiệm ? Nói cho ngay, dân ta hiện nay cũng chưa chán Đảng mình đâu. Nhưng với lũ đảng viên tiêu cực thoái hóa quan liêu tham nhũng thì thực sự dân mình đã ngấy đến tận cổ rồi.Ta phải thực sự xúm lại mà bàn bạc cho ra nhẽ, chứ không thể để cho lũ này lại còn nhung nhăng phê với tự phê ! Dân ta có một bộ phận rất đông mắc bệnh sĩ diện do lây nhiễm từ giới nho sĩ thời Nguyễn chịu ảnh hưởng Tống nho, nhưng nói chung khi đã lâm vào tình thế nước sôi lửa bỏng thì cũng chẳng còn "sĩ " nữa, chẳng sợ "mang tiếng" gì hết ! Đã chơi là chơi. Được làm vua, thua làm giặc. Làm giặc cũng chẳng xấu. Thất nghiệp, chết đói mới là "đại sự" (đối với các nho sĩ Tống nho thì chết đói là "tiểu sự", thất tiết mới là "đại sự"). Trong lịch sử, cứ khi nào dân đói quá khổ quá thì lập tức vứt trả mọi thứ "dầu bôi trơn" - đói khổ là do số phận, do mệnh trời hoặc do tiền kiếp - rồi rùng rùng nổi dậy. Nho sĩ bình dân thì chưa đến nỗi đói nhưng nhục quá không chịu được thì đi làm trách nhiệm "cầm đầu". Hai bên gặp nhau thế là khởi nghĩa bùng nổ, triều đại suy sụp. Và thế là lịch sử phát triển. Tất cả các giới thống trị phong kiến, thực dân, phát xít, đế quốc. . . đều muốn ngăn cản sự phát triển này nhưng bánh xe lịch sử cứ lăn tới và nghiền nhừ hết. Ô hay, sao đ/c Trần Trọng Tân lại lo ngại vô cớ như thế này : "Khó thứ ba là dân chống bọn cầm quyền thống trị trước đây trong chế độ xã hội cũ thì có Đảng lãnh đạo, nay không có ai lãnh đạo cho nên đã bị bọn cơ hội chính trị lợi dụng kích động thì có nguy cơ lớn hơn. Cấp trên ở xa không hiểu thấu, đảng viên tốt ở cơ sở, sát dân có muốn xông vào tiếp sức với dân thì sợ bị qui là đi xúi giục dân gây rối, vi phạm kỷ luật Đảng". Không nên đánh giá thấp nhân dân. Lối nhìn nhân dân theo kiểu các tác giả phim "Chuyện làng Nhô" là lối nhìn quáng gà. Không đáng nói nữa. Chắc đ/c Trần Trọng Tân và rất nhiều người còn nhớ thời kỳ 45, dân mình vừa mù chữ, vừa đói mờ cả mắt, thế mà Việt Quốc, Viết Cách, Đại Việt .... đầy cả đường, lại thêm cái loa ở đường Quan Thánh ra rả suốt ngày suốt tháng nói xấu Cụ Hồ, nói xấu Việt Minh. Ở Thủ đô, ở Huế và nhiều tỉnh khác, chúng còn xuống đường diễu hành hô đả đảo. Thế mà dân mình cũng có nhầm đâu ! Huống chi bây giờ, người nào tốt, kẻ nào xấu, người nào chân chính, kẻ nào cơ hội qua làm sao nổi mắt dân ! Còn chuyện đ/c Tân lo "nay không có ai lãnh đạo cho" thì đó là lo xa quá đấy thôi, nói theo kiểu các cụ xưa : đó là chuyện "lo bò trắng răng, vội vàng mua thuốc nhuộm răng cho bò". Cấp trên của ta bây giờ luôn luôn xuống sát cơ sở để nắm vững dân tình, đâu có như vua chúa ngày xưa năm thì mười họa mới vi hành, đâu phải chỉ "đảng viên tốt ở cơ sở" mới nắm vững tình hình. Thế đ/c không tin rằng những "đảng viên tốt" ở Trung ương cũng nắm vững tình hình à ? Đảng viên tốt ở cơ sở muốn xông vào tiếp xúc với dân thì sợ bị qui là đi xúi giục dân gây rối đã đành, chẳng lẽ những "đảng viên tốt" ở Trung ương lại cũng sợ thế chăng ? Nếu đảng viên tốt ở cơ sở và đảng viên tốt ở Trung ương lại đều bảo nhau đánh vần chữ "sợ" như thế thì hỏi các vị có còn xứng đáng là học trò Cụ Hồ nữa không ? Và nếu trên dưới đều sợ và mang tâm lý bất lực trước bọn quan liêu, cường hào, tham nhũng thì Đảng ta phải đổi tên thành Đảng gì ? Nói cho hết nhẽ thế thôi, nhận thức nhầm thì ta tự điều chỉnh lại chứ chẳng có gì đáng phải bi quan cả. Chúng tôi tin rằng còn nhiều đảng viên tốt ở mọi cấp đều nhớ rằng mình là cộng sản. Lãnh đạo nhân loại bị áp bức bóc lột, đấu tranh giành quyền sống, quyền hưởng tự do và hạnh phúc trong thời đại hiện nay, chẳng lẽ không còn phải là trọng trách không thể thoái thác của bất kỳ ai ý thức được rằng mình là cộng sản ? Tất nhiên, ở đời, thật giả khó phân : ông tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu quả là đáng ghét nhưng trước khi hốt hoảng bỏ chạy khỏi đất nước cũng được một câu nói đáng cho ta ngẫm nghĩ : "Không nên nghe cộng sản nói mà nên xem cộng sản làm". Ta cũng thường nói : thực tiễn là thước đo chân lý. Cứ xem việc làm thì biết ngay ai là cộng sản chân chính, ai là cộng sản giả hiệu. Có điều đáng buồn là, không hiểu mắt nhắm mắt mở thế nào mà trong một thời kỳ dài, những Phạm Nhật Hồng, Phùng Long Thất, Lê Minh Xư, Nguyễn Xuân Trường .... và một lô một lốc lũ cướp ngày, trộm ngày khác lại được bầu và duyệt là đảng viên 4 tốt. Thậm chí có những kẻ còn được báo chí ca tụng, được truyền thanh, truyền hình phỏng vấn, nêu gương cho đời học tập, và chúng không lên chức lên lương sao được, không cưỡi hẳn 1000 con trâu sao được. Đúng như Cụ Hồ đã nói : "Không phải cứ dán hai chữ cộng sản vào trán họ là họ thành cộng sản" (Hồ Chí Minh toàn tập, tập ....... trang ....). Thế mà trong đợt phê bình, tự phê bình này, Trung ương đã bảo phải làm thật nghiêm chỉnh mà có những vị vẫn cả gan dán lên trán mình mấy chữ "đảng viên loại 1". Mà có mấy cái tập thể đảng bộ chẳng hiểu nhận thức ra sao, hữu khuynh a dua như thế nào mà lời Cụ Hồ cũng chẳng nhớ, lời ông Phiêu cũng chẳng chịu nghe. Lại nhất trí bầu nhau loại 1. Đến nỗi toàn là 80% đến 90% loại 1, lại đúng vào những địa chỉ bê bối mà nhân dân cứ nghe đến đã đủ lắc đầu cười khảy rồi. Chúng tôi cũng không muốn nói nhiều đến bọn quan liêu tham nhũng nữa. Không cần phải quan trọng hóa chúng nó chỉ vì chúng đang giữ một chức hoặc một quyền nào đó trong bộ máy nhà nước ta. Không nên nghĩ một cách mặc cảm tự ti rằng số phận của chúng ta là đang nằm trong tay chúng mà phải khẳng định dứt khoát rằng chính số phận chúng đang trong tay Dân ta, Đảng ta. Dân đã kiên quyết, Đảng cũng kiên quyết, vậy thì chúng độn thổ đi đằng nào ? Xin phép hỏi thẳng, những đảng viên nào còn giữ được chất cộng sản mà lại nói rằng chúng đông lắm không chống được đâu. Vô lý thật ! Chúng lại đông bằng Nhân dân à ? Chúng lại mạnh ngang với vua chúa và thực dân đế quốc à ? Chắc các đ/c lại cho là còn vướng ô dù chứ gì ? Mà chắc những ô dù này còn mạnh hơn cả siêu cường Mỹ chăng ? Cho nên nói thẳng ra là : Dân thì dứt khoát chống và dứt khoát thắng. Còn Đảng mà không lãnh đạo nhân dân trong cuộc này thì rõ ràng Đảng tự loại mình ra khỏi đời sống dân tộc. Nỗi lo lắng của đ/c Lê Khả Phiêu là đúng : Đảng không lãnh đạo chống quan liêu tham nhũng thắng lợi thì Đảng mất vai trò lãnh đạo. Ai đồng tình với Tổng bí thư Lê Khả Phiêu thì tiến lên đi - "Tiến lên toàn thắng ắt về ta". Dân thì ký cả hai tay rồi. Còn Đảng viên nào chần chừ do dự là tự đánh mất phẩm chất của mình. Vị trí của bọn tham nhũng là vành móng ngựa và nhà tù. Vị trí của người cộng sản là đi tiên phong trong mọi cuộc đấu tranh. Không cần sợ tai tiếng gì cả. Vì lý do cơ bản của sự có mặt của những người cộng sản, của những đảng cộng sản chân chính trên đời này là để cầm đầu mọi cuộc đấu tranh chống áp bức bất công. Chính những ai định lái Đảng đi chệch con đường này mới đúng là "mang tiếng". Không chỉ "mang tiếng" mà còn là "mang tội" trước lịch sử. Còn nói như Fidel Castro : "Nếu xét xử tôi một cách oan ức thì đã có lịch sử minh oan cho tôi". Hãy giả thiết lại thêm một lần nữa những người chân chính bị ném vào tù hay phải dẫn ra pháp trường thì đâu có phải vì thế mà mất nhuệ khí đấu tranh. Lời đ/c Trần Phú chẳng hãy còn văng vẳng bên tai chúng ta hay sao : "Hãy giữ vững chí khí chiến đấu !". Và xin phép được nhắc thêm một lần nữa lời Cụ Hồ : "Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì". Chúng tôi cũng không tán thành ý kiến đ/c Trần Trọng Tân, cho đến hôm nay, sắp chào từ biệt thế kỷ này mà đồng chí vẫn còn đồng nhất cá nhân với tập thể Đảng : "Đ/c Tổng bí thư ngồi học lại bài "Dân vận" (...). Làm việc đó, chứng tỏ Đảng ta không bao giờ quên ơn, không phụ lòng những liệt sĩ, thương binh, những bà mẹ anh hùng, những người dân đã có công theo Đảng giành chính quyền về tay nhân dân, chứng tỏ Đảng ta muốn dân ta được làm chủ thực sự, không phải là lời tuyên bố suông" (Vẫn bài báo trên). Nhận thức đồng nhất giữa cá nhân và tập thể như thế sẽ làm cho tư tưởng Dân chủ không phát triển được và cũng sai thực tế. Đảng ta có bao giờ quên Dân và Đảng này không bao giờ tuyên bố suông cả. Lịch sử xác nhận như thế chứ không phải vì yêu quí Đảng rồi bốc Đảng lên. Đảng không quên, vậy những đảng viên nào quên, những tổng bí thư nào quên, thì mang họ ra mà phê bình kiểm điểm. Họ phải nhận lỗi chứ không thể đổ lỗi cho Đảng được. Còn đ/c Lê Khả Phiêu nhớ và học tập tử tế lời Bác Hồ thì khuyên cho đ/c một dấu son vào trang sử hiện nay. Từ nay, chúng tôi kiến nghị : - Chấm dứt hoàn toàn và triệt để sự đồng nhất giữa cá nhân đảng viên với tập thể đảng. Một bí thư cấp cơ sở nói đúng sai phải trái chưa phân tích để nhận thức cho rõ lại bảo nhau : Đảng đã chỉ thị như thế, ta phải phục tùng. Thử hỏi Đảng nào ở đây ? Ông bí thư tỉnh ủy tổ chức việc buôn lậu thì phải phản đối và báo cáo ngay cho Trung ương biết. Ông bí thư huyện ủy thông đồng với bọn lâm tặc thì phải phản đối ngay cho tỉnh ủy biết và tỉnh ủy phải lập tức điện theo đường dây nóng báo cho Trung ương và Chính phủ biết. Tập trung dân chủ đúng theo nguyên tắc như thế thì làm gì có vụ Tánh Linh với Tân Trường Sanh hay Epco Minh Phụng, thủy cung Thăng Long ... Tuy nhiên, đó cũng là chuyện nhỏ thôi. Chuyện đáng nói là nếu tập trung dân chủ có tính nguyên tắc (không phải theo cái kiểu vô nguyên tắc như xưa nay ta vẫn làm) thì làm sao nẩy nòi ra được những hiện tượng "cộng sản" quái gở như Goócbachốp, như Enxin. Cần rà soát lại một cách nghiêm khắc, không thể chấp nhận lối phê bình, tự phê bình một cách qua loa tắc trách vì đây là vận mệnh của Đảng, của Chế độ, của Dân tộc, không phải chuyện đùa ! Chúng tôi thấy đ/c Hữu Thọ có một ý rất đúng : "Trong nghị quyết Trung ương 7, chúng ta có nhận ra một thiếu sót. Đó là nhiều chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo, rồi chế độ, qui định trách nhiệm chưa được rõ ràng, cho nên nhiều người có trách nhiệm hiện nay lại chưa có đủ quyền hạn thực thi nhiệm vụ của mình. Do vậy, tôi nghĩ rằng thi hành kỷ luật về chế độ trách nhiệm thì phải đồng thời thực hiện nghị quyết Trung ương 7 trong việc phân định trách nhiệm rõ ràng. Người ta có quyền đầy đủ thì mới có trách nhiệm đầy đủ". (Vẫn trích bài phỏng vấn). Rất tiếc, đ/c Hữu Thọ nói đúng ý nghị quyết nhưng lại không gắng giải thích cho "rõ ràng và đầy đủ". Chế độ ta đã kéo dài một tình trạng không hay. Thủ tướng chính phủ là người có quyền lực cao nhất trong bộ máy hành pháp mà không thể ký lệnh cách chức bất cứ ai dưới quyền mình. Vì trên thực tế, Thủ tướng có được hưởng quyền bổ nhiệm đâu mà có quyền cách chức. Do đó, thấy có những Bộ trưởng làm hỏng việc, Thứ trưởng phạm pháp, Phó thủ tướng phạm tội cũng phải làm ngơ. Bộ trưởng thấy người phó giúp việc mình không có năng lực, có Cục trưởng, Vụ trưởng bê bối cũng phải làm ngơ. Tình hình ở các địa phương cũng tương tự. Ông chủ tịch tỉnh hay chủ tịch thành phố cũng chẳng bao giờ dám cách chức ai hết. Thủ tướng và các Bộ trưởng quyền được giao lớn như thế mà khi về kiểm tra địa phương, kiểm tra ngành lại không dám khiển trách một ai cả, dù rằng dư luận nhân dân cũng như dư luận báo chí đã nêu rõ những địa chỉ phạm pháp. Điều tai hại là những người có quyền hạn trong bộ máy hành pháp không thể thực thi quyền hành của mình, cũng không ai nói gì. Lâu ngày, người ta cảm thấy không thể cách chức hoặc kỷ luật một ai và cấp dưới làm đúng, làm sai mình cũng chẳng chịu trách nhiệm gì. Do đó, không biết từ lúc nào nảy sinh một tình hình kỳ lạ vào loại số 1 trên hành tinh : ai cũng có thể được cử làm chủ tịch, bộ trưởng, tổng cục trưởng, thống đốc ngân hàng .... mà những người được cử cũng không hề từ nan, không thấy ai băn khoăn, lo lắng về năng lực của mình đối với trọng trách quản lý một địa phương hoặc một ngành chuyên môn. Thậm chí làm Phó thủ tướng, Thủ tướng hoặc Chủ tịch nước ở đất nước ta nhiều người còn quan niệm đơn giản hơn nhiều. Nghe đâu Trung quốc cũng có thời kỳ tương tự như ta nhưng họ có thận trọng hơn. Thử hỏi tình hình vì sao nên nỗi ? Bây giờ lại đi trách Thủ tướng, Bộ trưởng, các chủ tịch tỉnh, chủ tịch huyện, .... cũng là oan cho họ. Họ có được toàn quyền bổ nhiệm ai đâu ? Bản thân họ cũng "bị" bổ nhiệm. Vì ở ta do quan niệm đề cao tập thể và ý thức làm chủ tập thể nên việc gì cũng do tập thể quyết định hết. Tập thể lãnh đạo cấp trên bổ nhiệm các cá nhân cấp dưới mà danh sách bổ nhiệm lại nằm trong tay phòng tổ chức hay ban tổ chức. Ban tổ chức chính quyền cấp nào thì tham mưu cho chính quyền cấp đó. Cán bộ ta dù là đảng viên hay không đảng viên đều hiểu rõ quyền lực của ban tổ chức (phòng, vụ) là rất lớn. Vì thế những phần tử cơ hội muốn tiến thân đều "chạy chọt" ở cửa này. Tuy nhiên, ban tổ chức Chính quyền, tiếng rằng quyền hạn to như thế vẫn phải nằm dưới ban tổ chức Đảng. Tất nhiên, ban Tổ chức Trung ương có quyền lực cao nhất. Ông trưởng ban Tổ chức Chính phủ cũng phải thỉnh thị ý kiến của ông trưởng ban Tổ chức Trung ương. Nếu các vị trưởng ban tổ chức cao cấp này đều biết khiêm tốn học tập Phụng Dương công chúa đời Trần thì thực là đại hồng phúc cho Đảng ta và Nhà nước ta. Như phần trên chúng tôi đã nói, do Bộ Giáo dục ta có sơ khoáng trong việc thi cử, nhiều năm không cho thi môn lịch sử. Mặt khác lại cũng do các đồng chí ta mải mê "công tác tổ chức" nên cũng ít thời giờ học lại các bài học lịch sử nước ta nên nhiều người quên biến hoặc không biết Phụng Dương công chúa là ai ? Xin thưa rằng : Phụng Dương công chúa là con vua Trần Thánh Tông là phu nhân của thượng tướng Trần Quang Khải, một vị tướng giỏi võ hay thơ nhưng lười tắm táp. Bà Phụng Dương cùng với Linh từ Quốc mẫu (phu nhân Thái sư Trần Thủ Độ) đều là những người phụ nữ quí tộc giỏi nhất vào thời Trần. Nói theo ngôn ngữ hiện nay, một người được giao làm Tổng cục trưởng Tổng cục hậu cần, một người là trợ thủ đắc lực trong việc quản lý và điều khiển gia trang nhà Trần. Công lao của hai bà lớn quá đến mức dẫu các sử gia phong kiến sẵn máu khinh thường phụ nữ cũng thấy vẫn cần phải chép vào Quốc sử. Riêng bà Phụng Dương với thành tích tổ chức và quản lý đã được Trần Quang Khải tạc công đức vào bia đá. Văn lòng bia chính tay thượng tướng Trần Quang Khải viết. Và bia hiện còn nguyên vẹn tại xã Mỹ Thành, huyện Mỹ Lộc (cũ), tỉnh Nam Định, là đất Thái ấp của ông bà Thượng tướng (*1). Ở đây, chúng tôi chỉ nêu vắn tắt cái nguyên tắc làm việc của bà : "Ai không có tài thì không thể cho chức vụ, nếu thiếu tiền thì cho tiền. Đối với người trong hoàng tộc hay ngoài hoàng tộc cũng thế". Đấy, học người xưa là học cái thần, cái cốt tử của nếp nghĩ, nếp hành động của người xưa. Xin thưa với các nhà nghiên cứu văn hóa, nếu tất cả chúng ta bảo nhau, từ công dân cho đến chủ tịch nước, học tập kế thừa có phê phán nếp cảm, nếp nghĩ, nếp sống .... của ông bà ông vải thì lo gì mà không đậm đà bản sắc dân tộc. Cổ động cho việc phục hồi y phục, ẩm thực, lễ hội .... cũng nên vừa phải thôi. Chứ chẳng giúp cho dân tộc phát triển thêm đâu. Còn việc phục hồi hương ước giả phả, gia lễ , xây nhà thờ họ, xây mồ mả .... cũng nên vừa phải thôi. Xin mời các nhà nghiên cứu quá bộ về nông thôn mà khảo sát tình hình. Quan niệm về dòng họ không đúng nên đã có chuyện tương đối phổ biến : "Chi bộ họ ta và chi bộ họ chúng nó", "chi bộ họ ta dứt khoát phen này phải nắm cái bí thư, còn bên chi bộ họ chúng nó thì cao nhất là chân phó bí thư". Mặc dù trên thực tế "chi bộ họ ta" không ai giỏi bằng người bên các chi họ khác. Cũng mang tiếng là đảng viên cộng sản, thật đáng xấu hổ với hương hồn Phụng Dương công chúa, Thái sư Trần Thủ Độ và bao bậc tiên liệt anh hùng khác. Trách các đ/c ta ở nông thôn một phần thôi. Người đáng trách nhất là các nhà nghiên cứu lý luận và các nhà quản lý văn hóa. Tế lễ thần thánh là việc thiêng liêng không bao giờ có thể bỏ được, nhưng khi quí vị đã đi tiên phong trong việc ẩm thực và tế lễ thì các cụ Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan hẳn là không thể yên nghỉ dưới mộ được rồi. Sợ nhất là các vị lại đồng tình với những quan điểm đáng ngờ của giáo sư Léon Vandermessh (Pháp) và tiến sĩ Tu Weiming (Đỗ Duy Minh) (Đài Loan), nhất là quan điểm của ngài Lý Quang Diệu (Singapore) trong việc ca ngợi và phục hồi Khổng giáo. Mà cũng lạ, không rõ ngài Lý Quang Diệu nghiên cứu ra sao mà trong phương châm tu, tề, trị, bình, ngài lại giải thích rằng bình thiên hạ là đem lại hòa bình cho thiên hạ. Chẳng lẽ các hoàng đế Trung Quốc từ xưa đến nay đều hiểu rằng bình thiên hạ nghĩa là bình định, dẹp yên thiên hạ để đặt được được ách thống trị lên đầu lên cổ các chư hầu và tứ di lại là hiểu sai cả chăng ? Xin thưa đó chính là chủ nghĩa bá quyền đấy ạ ! Cũng may vừa qua cơn bão tài chính thổi từ Hoa Kỳ sang vùng Đông Nam Á ta, khiến cho các tiểu long một phen nhào lên lộn xuống, ngay đại long Nhật Bổn tận vùng Đông Á cũng liêu siêu một phen. Thế là nhiều học giả của ta đã có thời kỳ khen nức khen nở các nước rồng, rằng nhờ văn hóa Khổng giáo mà cất cánh được, ta nên mau mau học tập, mau mau phục hồi Khổng giáo, giờ đây đã giật mình và đã có phần nào tỉnh ngộ. Chúng tôi nói phần nào vì có bài thu hoạch của giáo sư Phương Lựu sau kỳ hội thảo quốc tế về Khổng giáo nhân dịp kỷ niệm 2550 năm ngày sinh Khổng tử tại Thủ đô Bắc Kinh. Chúng tôi chưa được đọc toàn văn bài tham luận của ông Phương Lựu nhưng chỉ cần xem cái tinh thần tóm tắt bài tham luận của ông, chúng tôi thấy ngay một điểm cơ bản là ông Phương Lựu chỉ nói chuyện quá khứ chứ không dám đề cập một vấn đề nào của hiện tại. Nghiên cứu khoa học mà không nhằm phục vụ hiện tại, phục vụ cho sự phát triển của dân tộc và đất nước trong hiện tại thì nghiên cứu như thế bổ ích gì ? Mà ngay nói chuyện quá khứ ông cũng né tránh những những chuyện đau buồn của dân tộc ta do chủ nghĩa bá quyền Khổng giáo gây ra. Cũng phải thông cảm với các giáo sư. Các vị được người ta trân trọng mời sang, nói những chuyện đau buồn ấy trên đất nước người ta sao được, cho dù người ta cũng là xã hội chủ nghĩa chứ không còn là phong kiến nữa. Nhưng điều đáng lưu ý là đối với những học giả ngoài Trung Quốc có ý kiến phê phán mặt tiêu cực của Khổng giáo thì nghe giọng văn của giáo sư Phương Lựu cũng thấy ông chẳng đồng tình với họ. Chúng tôi cũng chẳng lạ gì giáo sư Phương Lựu vì toàn bộ phần nghiên cứu của ông từ trước đến nay có bao giờ giáo sư đề cập và giải quyết rốt ráo một vấn đề gì thuộc về lý luận giúp cho đất nước phát triển. Cũng không thể đòi hỏi nhiều hơn ở ông Phương Lựu được. Do đó chúng tôi chỉ thẳng thắn thưa với ông Phương Lựu cũng như tất cả những vị đang nghiên cứu về nho giáo ở nước ta rằng : xin các vị hãy thận trọng ! Dân ta không lạ gì Khổng giáo và trong vài ngàn năm qua, Dân ta đã khôn ngoan thu hút những mặt tốt đẹp tinh hoa của Khổng giáo. Vì thế mà chúng ta có bao nhiêu nho sĩ khí tiết, bao nhiêu nhân tài lỗi lạc nhờ sự tiếp nhận tinh hoa Khổng giáo. Thử hỏi các ông : chúng ta còn bỏ sót không tiếp nhận phần tinh hoa nào ? Còn những phần hủ bại chưa đào thải hết, hãy còn bị dị ứng trong cơ thể tư duy Việt Nam liệu có nên giữ lại hoặc khuếch trương nữa không ? Người ta xây dựng CNXH mang màu sắc Trung Quốc thì người ta khai thác Khổng giáo và những thứ quá khứ cần thiết cho họ. Đó là công việc của người ta. Ngài Lý Quang Diệu và tất cả những người lãnh đạo khôn ngoan nào khai thác được Khổng giáo, lợi dụng được quá khứ để phục vụ cho giai cấp người ta. Đó cũng là công việc của người ta, là cái "thuật" của người ta. Mình háo hức bắt chước thế nào được. Mình cầu viện quá khứ một cách vô nguyên tắc thế nào được ? Dứt khoát chúng ta không thể chủ trương đóng cửa về mặt tư tưởng, cũng như về mọi lĩnh vực khác. Phải lo mà học lấy cái hay của thiên hạ. Phải nghiêm túc học tập Đức thánh Khổng và mọi đức thánh của thiên hạ, nhưng thử hỏi những bài học của Đức thánh Trần và Đức thánh Hồ và các Đức thánh khác của Việt Nam chúng ta đã học đầy đủ và kỹ lưỡng chưa ? Còn bao nhiêu bài học trị nước và đối nhân xử thế của các vua anh minh thời Lý, thời Trần, thời Lê .... chúng ta đã học nghiêm chỉnh chưa ? Đã bảo nhau vận dụng sáng tạo vào đời sống hiện nay chưa ? Chúng ta chớ quên rằng mình đang sống trong thời kỳ toàn cầu hóa, đâu người ta cũng có chiến lược toàn cầu cả, không tinh tường thì nguy. Đừng thấy người ta bắt tay, vỗ tay đã vội mừng. Mình đứng trấn cả một vùng Đông Nam Á, các đại quốc thời nào cũng muốn tràn xuống, muốn mở rộng ảnh hưởng muốn "bình thiên hạ" (ngài Lý Quang Diệu mà không nghiên cứu kỹ cái nghĩa này thì nguy !). Việt Nam mình lúc nào cũng như cái gai trong mắt thiên hạ, như khối đá tảng cản bước tiến "bình thiên hạ" của người ta. Trung Quốc sắp vào WTO rồi đấy ! Mà đến năm 2003 thì thấy nhau ngay chứ đâu xa. Thôi chuyện AFTA và phải đối phó ra sao sẽ bàn sau. Trở lại chuyện quyền hạn của Ban tổ chức các cấp bổ nhiệm đủ thứ người, đủ thứ cán bộ mà rồi cũng chẳng chịu trách nhiệm gì cả. Ở nước ta bây giờ lại phổ biến một lối nói : "chúng ta có khuyết điểm buông lỏng lãnh đạo", "chúng ta" đây là gồm những ai ? Buông lỏng là thế nào ? Dân tin anh, Đảng tin anh giao cho anh quyền quản lý đất nước, anh lại "buông lỏng" để cho chúng nó đục khoét ăn cắp đầu ăn cắp đuôi. Để mất hàng trăm, hàng ngàn tỷ lại kêu là "khuyết điểm". Làm cho dân đói khổ, mất cả lòng tin vào Đảng, làm lung lay cả Chế độ lại gọi là khuyết điểm. Theo luật Gia Long thì phải khép vào tội đại nghịch. Chúng tôi kiến nghị Quốc hội ta nên bổ sung vào luật hình sự rồi giải thích cho rõ "buông lỏng" có nghĩa là vô trách nhiệm, là thông đồng với giặc nội xâm. Kẻ giật hụi ở quận 5 cướp trắng 1 tỷ đồng của các tư nhân thì bị kết án tử hình. Vậy bọn làm mất của nhà nước hàng trăm, hàng ngàn tỷ thì phải xử tử chúng bao nhiêu lần cho đạt lẽ công bằng ? Chúng tôi cũng chẳng chủ trương nên bắn nhiều làm gì. Tiền với người dẫu mất thì cũng mất cả rồi. Vấn đề là đến bao giờ chúng ta bàn với nhau một cách thẳng thắn, nghiêm chỉnh để tìm ra lối thoát khỏi những bế tắc này. Từ trước, chúng ta vẫn phê phán những người theo chủ nghĩa cải lương, thế mà giờ đây chúng ta lại làm nhiều việc rất nửa vời, rất cải lương. Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn phù hợp với thực tế, đúng qui luật. Thế mà nhiều người cứ dật dờ không chịu thực hiện. Họ kéo dài ngày nào thì nhà nước tức là Bộ Tài chính bù lỗ ngày ấy. Hãy hỏi các ông giám đốc đang tạ đủ các thứ lý do để trì hoãn, các ông có khả năng bù lỗ không ? Sao lại vì sợ mất chức, mất đặc quyền đặc lợi rồi cản trở ? và cũng xin hỏi luôn hai ông bộ trưởng Bộ Công nghiệp và Bộ Tài chính : lương giám đốc của họ và lương của cả hai ông có đủ để bù lỗ không ? Dư luận cho thấy rằng : tình hình bù lỗ hàng trăm tỉ, hàng ngàn tỉ cho các xí nghiệp làm ăn thua lỗ đã kéo dài hàng mấy chục năm rồi, không được phép tiếp tục kéo dài hơn nữa. Ai tìm cách kéo dài và ai cho phép họ kéo dài, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Lại nói về vấn đề pháp luật. Chúng ta vất vả bao năm mới xây dựng được một nền pháp chế mới, được gọi tên là pháp chế XHCN. Còn nhớ có thời kỳ cứ nói đến nhà nước pháp quyền là nhao nhao phản đối rồi chụp ngay cho người ta cái mũ "luận điệu tư sản", "quan điểm tư sản". Sau khi chúng ta xây dựng xong các bộ luật, thì vẫn những kẻ ấy, lại quay ra cản trở việc thực thi các đạo luật. Tất nhiên, giờ đây họ không dám to mồm nói ngược mà ngấm ngầm chống phá rất tinh vi xảo quyệt. Bằng rất nhiều thủ đoạn khác nhau, họ tìm cách vô hiệu hóa các bộ luật của Nhà nước chúng ta. Có lẽ một trong những thủ đoạn lớn nhất, công khai nhất và xảo quyệt nhất là thường xuyên mang tình nghĩa đối lập với pháp lý. - Pháp lý, nguyên tắc là như thế nhưng người Việt Nam mình bao giờ chẳng coi trọng tình cảm, tình nghĩa. Không nên cứng nhắc, máy móc để mang tiếng là cạn tàu ráo máng. - Các ông cứ làm như ta đang sống ở phương Tây không bằng. Lúc nào cũng giở lý. Người Việt Nam mình bao giờ cũng đặt tình lên trên hết. Mới nghe thì thấy đúng quá. Nhưng cũng cần phải ngẫm nghĩ suy xét cho kỹ tại sao người Việt Nam ta lại nặng tình nặng nghĩa. Cùng là dân quần cộc, dân áo ngắn với nhau, cùng là chân lấm tay bùn, chân dầu tay mỡ, thân cò cũng như thân chim mà còn không biết thương nhau thì thử hỏi mượn ai đến thương hộ đây ? Cho nên bát canh cua cũng đưa qua bờ dậu, bát cơm hẩm cũng chia đôi sẻ ba, tối lửa tắt đèn có nhau, cùng cảnh nghèo hèn thì dựa vào nhau mà sống, chung lưng đấu cật với nhau mà sống, còn gì dư dả nữa đâu ngoài tình nghĩa. Do đó phải thấy rằng tình nghĩa là sở hữu của những cộng đồng nghèo khổ. Những người nghèo hèn trong xã hội bao giờ cũng thương yêu nhau, an ủi nhau, cố kết với nhau mới có thể tồn tại được. Tình nghĩa trở thành một phương tiện để tồn tại và cũng là phương tiện dùng để đấu tranh. Khi chưa đủ điều kiện cầm vũ khí nổi dậy thì còn gì ngoài lời kêu xin : xin thầy lý thương cho; xin quan lớn thương cho; xin ông lớn đèn giời soi xét, giơ cao đánh sẽ; chúng con là phận dân đen con đỏ, xin bệ hạ rủ lòng thương, ... Nghĩa là bằng mọi cách "mẹ chưa đánh roi nào đã khóc" để tìm một sự độ lượng khó thấy ở giai cấp thống trị, nhưng vẫn có hy vọng hão huyền từ ngàn đời : may ra được ngài thương ! Cái dấu vết xin xỏ hèn hạ đáng thương đó hiện còn đầy rẫy trên các đơn từ gửi đến các "đầy tớ" của mình trong nhà nước dân chủ của ta mà chúng tôi đã nhiều phen đề nghị bằng văn bản, nhưng Quốc hội và Chính phủ ta cũng chưa thấy ra lệnh bãi bỏ. Tuy vậy, chúng tôi cũng chưa bao giờ hết hy vọng rằng một ngày đẹp trời nào đó chữ "xin" sẽ biến hết trên mọi đơn từ giao dịch với cơ quan nhà nước để khỏi gây cho các vị "đầy tớ" trung thành của nhân dân sự ngộ nhận. Có một điều cũng cần phải giải thích. Vua quan nói chung là tham lam tàn bạo, nhưng trong lịch sử nước nhà lại có nhiều ông vua, ông quan tử tế thương dân đến nỗi cho đến nay vẫn là gương sáng cho những người cầm quyền của chúng ta. Cũng là do hoàn cảnh Việt Nam mình thôi. Một đất nước thường xuyên phải cảnh giác với ngoại bang phương Bắc cũng như phương Nam, các ông vua Lý, vua Trần, vua Lê khôn ngoan nào mà không cần phải thương dân, sát cánh với dân. Bởi một lẽ rất giản đơn nếu các ngươi không hết lòng chống giặc thì thái ấp của ta cũng như ngai vàng của dòng họ ta đâu có còn mà mồ mả tổ tiên các ngươi cũng mất. Giá như các vua Nguyễn cũng biết nối tiếp truyền thống thân dân của các ông vua khôn ngoan thời Đại Việt trước thì đâu đất nước Đại Nam nên nỗi ! Khi vua đã xa dân, không thương dân, không tin dân thì làm sao có gan dám phát động chiến tranh vệ quốc. Rồi khi biết mình đã sai lầm thì đành đầu hàng nhượng đất. Đồng thời lại vẫn muốn tỏ ra mình là người sáng suốt, thức thời, có đạo đức nên mới có chuyện làm đủ thứ thơ văn, nói đủ lời ngụy biện, viết thay cả giặc ngoại xâm lời dụ hàng nghĩa quân đang nguyện một lòng sống mái với kẻ thù (người xưa có phần đáng trách nhưng mấy ông giáo sư tiến sĩ bây giờ lại còn cứ ra sức bào chữa cho sự sai lầm và nói liều lĩnh rằng "mất nước là tất yếu" mới thực đáng thương. (Xem thư dụ hàng của Phan Thanh Giản và bài Phê phán hội thảo Gia Long của Trần Khuê). Và có những người còn vẫn cố bào chữa cho các vua Nguyễn và triều đình Huế rằng họ vẫn là những người yêu nước "yêu nước theo kiểu của họ". Cũng là một kiểu ngụy biện thôi. Khi một triều đại đã thoái hóa, chế độ phong kiến đã thoái hóa thì các nhà vua chỉ còn biết yêu cái ngai vàng và quyền lợi của dòng họ mình thôi, làm gì có chuyện yêu nước với thương dân ở đây). Luôn luôn chống lại nhân dân, nhưng các vua chúa phong kiến khôn ngoan sáng suốt vẫn phải nêu bật lên cái chiêu bài "pháp bất vị thân". Đó là một chân lý mà ngay giai cấp tư sản sau khi lật đổ chế độ phong kiến cũng không dám bỏ nguyên tắc này. Vì thế mới có chuyện bộ trưởng, thủ tướng, tổng thống mà có tội vẫn bị khởi tố như thường. Ta mang tiếng là chủ nghĩa xã hội ưu việt mà có thời kỳ một ông giám đốc xí nghiệp hay một ông bí thư Đảng ủy vi phạm pháp luật mà vẫn không dám động tới họ. Nếu có đồng chí kiểm sát nào có công tâm, cương trực dám ký lệnh bắt, dám khởi tố ra tòa thì chánh án lẫn quan tòa ngồi xử mà lòng dạ không yên, ngó trước ngó sau, nghiêng phải nghiêng trái xem ý cấp ủy Đảng thế nào. Thế là họ có căn cứ vào các bộ luật để xét xử đâu, họ chỉ căn cứ vào mấy đ/c cấp ủy. Gặp đ/c cấp ủy nào thẳng thắn cương trực, hiểu biết pháp luật thì họ bảo thẳng : tòa án cứ theo luật pháp mà xử. Còn gặp những đ/c cấp ủy mà không hiểu luật pháp lại tâm niệm rằng người Việt Nam ta trọng tình nghĩa.Thế là vì một vài lý do tế nhị nào đó, dưới danh nghĩa lãnh đạo Đảng phải chỉ đạo sát sao, toàn diện, thế là cứ can thiệp (thư tay hoặc điện thoại) suốt từ đầu vụ án cho đến cuối vụ án khiến cho các tòa án khốn khổ, hoãn đi hoãn lại, thỉnh thị lên thỉnh thị xuống, lúng túng như gà mắc tóc. Thực ra, chuyện "tình nghĩa" cũng là một thứ chiêu bài thôi để dễ bề bao che cho người thân, cho phe cánh hoặc cho bọn đút lót. Vụ 51 tấn bột ngọt của ông Nguyễn Thiện Luân mà chúng tôi phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần là vì, đó là nỗi nhức nhối của nhân dân TPHCM chứ nó đã thấm gì so với hàng trăm hàng ngàn vụ khác. Vấn đề đáng nói là : 51 tấn bột ngọt gian lận làm tù oan bao nhiêu người lại được trả lời dư luận bằng sự khen thưởng, thăng chức và lấy chuyện "tình nghĩa" mà lờ đi hơn chục năm trời. Nhưng năm cháu thiếu niên dại dột ăn trộm 5 con vịt thì lập tức được mở phiên tòa xét xử ngay và kết án thẳng cánh 5 năm tù. Chuyện vịt thì không thấy nói đến "tình nghĩa" mà chỉ thấy nói đến "nghiêm trị" để giáo dục thế hệ trẻ. Ông chủ hụi "Vườn Tre"chỉ giật hụi lường gạt 1 tỷ của nhân dân thì xử tử, ông Kiểm là Tổng giám đốc Dệt Nam Định làm thất thoát 800 tỷ (trong đó có 200 tỷ đi đút lót cấp trên) thì xử 20 năm tù. Thi hành luật pháp một cách coi thường nhân dân và thách thức dư luận như thế thì làm thế nào để bàn dân thiên hạ có thể "khẩu phục tâm phục" được. Đáng lẽ mỗi quan tòa của mình phải là một Bao Công mới xứng đáng là quan tòa XHCN. Thế mà cả Trung Quốc lẫn Việt Nam ta, ngàn năm qua vẫn cứ chỉ một Bao Công. Cứ làm như lý tưởng công bằng cao vời vợi, xa vời vợi, hầu như không bao giờ với tới. Đã mấy chục năm nay, giới lý luận cũng như giới nghiên cứu luật pháp của ta, phần đông vẫn gièm pha chê trách không chấp nhận cái gọi là "tam quyền phân lập" của pháp chế tư sản. Vậy thì ta phải thảo luận với nhau như thế nào để tạo ra được một thể chế, nếu không tốt đẹp hơn thì ít nhất cũng phải tương đương chứ sao lại chịu thua kém được. Dù sao cũng phải công bằng mà nhận định rằng cái thiết chế "tam quyền phân lập" được tạo dựng trên cơ sở bản "khế ước xã hội" (Contrat social của Jean Jacque Rousseau) là một thành tựu, một bước phát triển để đảm bảo quyền sống của con người trong xã hội. Ai dám bảo nó không tốt hơn thiết chế phong kiến ? Tất nhiên, nhiều khi giai cấp tư sản cũng vờ vịt hình thức; nhưng chẳng lẽ ta kế thừa những cái tốt đẹp của nhân loại rồi ta chơi thật, lại không tốt hay sao ? Nếu giới luật pháp cũng như giới quản lý của ta vẫn kiên quyết cho rằng tình hình luật pháp của ta cứ như hiện nay là ổn định được tình hình xã hội, là tốt đẹp và không cần thay đổi thì xin cứ thế mà tiếp tục, chẳng cần bàn bạc gì cả. Những ai quan niệm và chủ trương như thế thì xin nêu rõ tên tuổi chức vụ để cho con cháu ta, lịch sử ta nhận diện cho chính xác. Và tất nhiên, họ phải chịu trách nhiệm chứ không đổ chung chung cho Dân, cho Đảng, cho tập thể và cho khách quan được. Theo ý chúng tôi thì tình hình hiện nay như thế là rất không tốt. Nếu không sửa thì hậu quả là rất không ổn định cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Chúng ta có bộ phận công an điều tra để bắt bằng được mọi loại kẻ thù có hành vi xâm hại đến quyền lợi của nhân dân và cách ly chúng ra khỏi xã hội. Thế mà có những đ/c công an của chúng ta làm ăn tắc trách, điều tra lớt phớt, bắt giam cả người vô tội rồi lại đánh đập, nhục hình, ép cung, mớm cung thế nào đến nỗi người ta không phạm tội giết người mà phải nhận, ký vào bản cung. Chúng ta cũng có những đ/c kiểm sát viên và những đ/c thẩm phán mà chúng ta hết sức tin cậy. Nếu chưa phải toàn vẹn về mặt năng lực thì cũng là về mặt phẩm chất. Thế mà chẳng đ/c nào chịu nghiên cứu kỹ hồ sơ để phát hiện ra những tình tiết chứng cứ đáng ngờ, vô lý rồi chất vấn lại bộ phận công an điều tra. Với những người có lương tâm và trách nhiệm đầy đủ còn phải bố trí thời gian gặp người phạm tội để hỏi rõ ngọn ngành và bằng độ nhạy cảm của tâm linh mà tìm ra sự thật rồi giao Tòa án Nhân dân để tỏa ánh sáng công lý cho đời. Cả ba phía gồm công an, kiểm sát, tòa án họp nhau lại nhất trí đồng thanh kết tội : tù chung thân. Thế là, theo luật sư Lương Vĩnh Kim, đúng vào "một ngày đẹp trời", người bị giết lại lù lù trở về nhà. Thế là các đ/c công an, kiểm sát, tòa án lại họp lại nhất trí với nhau và đồng thanh tuyên bố : phóng thích. (Lương Vĩnh Kim : Một ngày đẹp trời - Báo Tuổi Trẻ số ......./1998). Vấn đề gay cấn nhất của chúng ta hiện nay là : mình với ta tuy ba mà một, ta với mình tuy một nhưng vẫn phải là ba. Tuy có một sự lãnh đạo chung nhưng phải nghĩ cách tạo ra một cơ chế vận hành như thế nào để ba anh lập pháp, hành pháp và tư pháp trong khi cùng chung mục đích phục vụ nhân dân vẫn giữ được vị thế độc lập tương đối với nhau, giám sát và kiểm soát lẫn nhau trên cơ sở hiến pháp và luật pháp. Có như thế mới hy vọng thực thi được những chức năng chủ yếu của nhà nước chuyên chính dân chủ nhân dân. Tất nhiên, cũng không thể mơ hồ rồi lại rơi vào tình trạng dập khuôn. Đừng thấy ông Clintơn ra lệnh đánh hết Irắc lại đến Nam Tư, tiếp tục cấm vận Cuba rồi lại lăm le cấm vận Pakistan, khích hết sắc tộc này đến tôn giáo khác bắn giết lẫn nhau mà tưởng nhầm rằng đó hoàn toàn là ý chí và quyền hành của tổng thống. Không, các vị tập đoàn lái súng ở hậu trường chính trị chỉ đạo cả đấy thôi. Cũng như vụ Monicagate giải quyết theo hướng nào đâu có hoàn toàn phụ thuộc vào tập đoàn báo chí, hay hạ nghị viện, hay thượng nghị viện, hay tòa án tối cao. Không, tất cả đều nhận một lệnh từ các vị tài phiệt ở đường phố Wall đấy thôi ! Chúng tôi cũng chân thành nhắn với những ai có dịp xuất ngoại Đông Tây đừng ngỡ rằng nước Mỹ là dân chủ nhất đời, thế giới tư bản là thế giới tự do nhất trên đời. Phải tinh tường, khảo sát cho kỹ và thường xuyên cập nhật. Nhẹ dạ cả tin trong lĩnh vực này là cực kỳ nguy hiểm. Vả lại, lâu lâu cũng nên giở Truyện và ký của Nguyễn Ái Quốc và Bản án chế độ thực dân của Nguyễn Ái Quốc mà học lại để cho kiến thức giữ được cấu trúc hệ thống. Trước khi đi vào bàn một số vấn đề thực sự nghiêm trọng của đất nước, chúng tôi thiết nghĩ cần nhắc lại một lời chỉ dạy mang tính chất chiến lược của Cụ Hồ : "Nước được độc lập, nhưng dân không có tự do hạnh phúc thì độc lập ấy cũng chẳng có nghĩa lý gì". Nhắc lại như thế không phải là chúng tôi nhất nhất cái gì cũng "Cụ Hồ". Khi Cụ Hồ sai cũng được quyền phê bình Cụ Hồ, nhưng khi Cụ Hồ nói ra những điều chân lý thì không vâng theo sao được. Cho nên trong bài "Chỉnh đốn để tồn tại và phát triển", chúng tôi phê bình đ/c cựu Tổng bí thư Đỗ Mười và cả hai Đại hội Đảng lần thứ VII và lần thứ VIII là căn cứ vào những chân lý đó. Cá nhân đ/c Đỗ Mười nhầm còn có thể hiểu được nhưng sao cả tập thể đại hội Đảng lại có thể nhầm theo ? Độc lập đã hoàn thành từ sau ngày đại thắng 30-4-75 lại nói rằng phải nhắm vào mục tiêu phấn đấu cho độc lập rồi lờ đi mục tiêu dân chủ, tự do. Mà đã không có tự do thì lấy đâu ra hạnh phúc ! Cụ thể là được tự do cầy cấy thì đang đói kinh niên lập tức no ấm ngay, thậm chí còn dự gạo bán để làm giàu. Mới ngày nào đề ra chỉ tiêu 21 triệu tấn mà trầy trật không giải quyết nổi, thế mà "tự do" thì 33 triệu tấn giải quyết dễ như chơi. (Còn chuyện khốn khổ vì lúa chất ngập nhà ngập sân mà vẫn khổ thì sẽ bàn sau nhưng có thể nói ngay rằng vẫn là vấn đề "tự do" thôi. Sẽ có nhiều người cãi : so với trước đây thì ta cũng no ấm hạnh phúc lắm rồi, cái gì cũng phải giải quyết từ từ. Vâng, xin từ từ. Chẳng lẽ dân Thái Bình và một số tỉnh đã có hạnh phúc rồi mà vẫn còn nổi dậy chống đối thì quả là điên thật. Nhưng dân Thái Bình cũng như dân Việt Nam từ thượng cổ đến nay có bao giờ "điên" ? Cũng nên có một cuộc trưng cầu dân ý xem có nên hưởng tự do hạnh phúc từ từ không, nếu cần từ từ thì từ từ ở mức độ nào và giới hạn cụ thể ra sao ? Cứ theo chỗ khảo sát của chúng tôi và những người hiểu biết thì từ từ kiểu ta đang đi bây giờ để đến mục tiêu tự do hạnh phúc là Dân ta không chấp nhận và thời đại cũng không chấp nhận. Thực tế cũng cho thấy một mâu thuẫn : trong khi khuyên Dân cứ an tâm, cứ từ từ thì họ lại hết sức gấp gáp "hy sinh đời bố, củng cố đời con". Họ cũng thấy cần phải làm giàu nhưng họ lại giữ độc quyền làm giàu. Họ cũng thấy thế hệ thanh thiếu niên là quan trọng nhưng nói phát triển thì lại phải ưu tiên cho "con cháu các cụ". Dân cứ yên tâm xếp hàng chờ đấy ! Cho nên chỉnh đốn về mặt tổ chức, nhân sự là rất quan trọng. Nhưng quan trọng trước hết là phải chỉnh đốn về mặt nhận thức và lý luận. Có như thế mới hy vọng chấm dứt được tình trạng đã tồn tại quá lâu đời trên đất nước ta : quan phủ đi quan tri nhậm. Chấm dứt được lối nói châm biếm, mỉa mai của Dân đã thịnh hành từ hồi chưa khoán : - Dù sao thì ông ấy cũng ăn no rồi, xây nhà xây sân đủ rồi. Chớ có thay ông chủ nhiệm khác mà thêm rách việc ! Hồi ấy, nhiều người không hiểu lại tưởng Dân ta "sờ đầu gối nói chân thật", e ngại, cam chịu không muốn thay đổi gì. Có biết đâu đó là một lối kêu thật to, thật vang xa "Ới Trung ương Đảng ơi ! Chúng nó đang tham nhũng quá lắm !". Cũng như gần đây, Dân lại bàn tán : chúng ta nên làm đơn kiến nghị với Trung ương không nên khai trừ các Đảng viên hư hỏng thoái hóa biến chất. Vì cho họ về làm "quần chúng" là Trung ương coi thường Dân. Cứ giữ lại trong Đảng mà giáo dục nhau. Nếu số hư hỏng đông quá thì Trung ương phải kiếm một cái đảo, tổ chức cho họ sống riêng chứ không thể cho họ sống lẫn lộn với nhân dân lương thiện được. Những người cầm quyền và cả những nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nên nghiền ngẫm về cái kiểu : "nói đây nhưng chết cây Hà Nội" của bà con lao động áo ngắn. Đã đến lúc cần phải nhất trí với nhau rằng : Đổi mới ở ta thực chất là một cuộc cách mạng. Cuộc cách mạng này nên làm từ trên xuống chứ không nên để từ dưới làm ngược lên. Trên phải chủ động để tránh mọi sự hỗn loạn, đổ vỡ. Dứt khoát không được dùng những biện pháp, cải lương cải cách nửa vời. Tuyệt đối không dùng những thủ đoạn chắp vá lặt vặt. Sở dĩ chúng tôi đề nghị sửa tận gốc chính là với ý nghĩa như thế. Gốc vững thì nước yên, chế độ vững vàng. Có tự do thì có hạnh phúc. Đã no ấm hạnh phúc mà xã hội lại không ổn định thì ai thấy ở đâu có tình hình như thế xin mách giùm ! Còn không có tự do hạnh phúc mà xã hội vẫn ổn định thì mong các sử gia "trong biên chế" cũng vui lòng chỉ giúp : Có thời kỳ lịch sử nào ở nước ta cũng như ở thế giới có tình hình như thế không ? Đại hội VI yêu cầu toàn Đảng, toàn Dân "nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, nói hết sự thật" đánh dấu một bước tiến quan trọng về mặt nhận thức. Nhưng chúng tôi thấy cần bổ sung : - Còn phải chân thành, dũng cảm, thẳng thắn bàn bạc về sự thật cho ra lý ra lẽ và tìm mọi biện pháp thích hợp giải quyết đạt hiệu quả. - Ai đã chót tham gia giới lý luận mà thấy mình thiếu dũng cảm, thẳng thắn hoặc thiếu trình độ hiểu biết thì hãy vui lòng tạm rút, dành thời gian trau dồi kiến văn, tôi luyện bản lĩnh rồi hãy tham gia. Không được dựa vào quyền được hưởng tự do ngôn luận mà nói nhảm nhí lung tung được. Tự do phải có giới hạn chứ không thể tự do "quá trớn". Các cụ xưa đã dạy : biết thì hãy thưa thốt, và phải chịu trách nhiệm rõ ràng trước pháp luật. Thảo luận về những vấn đề lớn lao và quan trọng như : nhận thức và tổ chức lại Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Tòa án các cấp, .... đâu có thể tùy tiện, khinh suất mà được. Phải nghe nhìn cho thấu, suy ngẫm cho suốt, tâm phải thành, trí phải sáng mới có thể bàn chuyện quốc gia đại sự được. Trước khi bàn cụ thể từng vấn đề và kiến nghị những giải pháp để thực hiện trong thế kỷ XXI, chúng tôi thấy cũng cần phải chỉnh đốn lại một nhận thức đã quá phổ biến và không biết còn đeo đẳng chúng ta tới năm tháng nào trong thiên niên kỷ mới. Đã sống hơn một nửa thế kỷ trong chế độ dân chủ với một nhà nước dân chủ, hằng ngày hằng giờ hít thở không khí dân chủ, thế mà không hiểu sao, không ai bảo ai lại cùng lưu giữ những thứ cấm kỵ hết sức cổ lỗ. Rồi lại mang đủ các thứ cổ lỗ ấy ra để hù dọa nhau và hầu như ai cũng cảm thấy mình khôn ngoan thận trọng chín chắn khi biết tôn trọng hoặc lánh xa những điều "cấm kỵ". Chẳng lẽ họ lại mau quên quá khứ đến thế. Xưa thì vua chúa phong kiến, mới gần đây là chủ nghĩa thực dân cũ, lại gần hơn nữa là chủ nghĩa thực dân mới. Ừ thì chuyện tru di tam tộc tạm cho là đã xa lơ xa lắc, nhưng còn chuyện Hỏa Lò Hà Nội, Khám Lớn Sài Gòn, Côn Đảo và nhất là chuyện ông tổng thống tay sai Ngô Đình Diệm kéo lê máy chém khắp một nửa đất nước, tất cả cũng chỉ chung mục đích khiến cho người ta sợ, ngậm mồm ngậm miệng lại để cho chúng dễ bề đè đầu cưỡi cổ. Nhưng dân Việt ta đâu có ngán. Phải công bằng mà xác nhận rằng về những trò dọa dẫm, bắt bớ, tù đày, tra tấn, thủ tiêu ngầm, nhục hình, bắn giết,... thì các vị phong kiến và thực dân cũ, mới đều đáng mặt bậc thầy cả. Ta cần gì học tập chúng. Và xuất sắc về những mặt ấy để làm gì ? Nó trái hẳn với bản chất nhân văn, nhân đạo của nòi giống ta. Mà KGB Liên Xô, đại cách mạng văn hóa Trung Quốc cũng đã chơi những trò này rồi. Để đi đến đâu ? Còn đ/c nào của ta do nhận thức sai lầm lại đi học đòi những điều xuẩn ngốc đó thì ta liệu lấy lời hơn lẽ thiệt bảo ban, dạy dỗ, giác ngộ cho họ. Hà cớ gì phải sợ ? Ắn không dám ăn, nói không dám nói. Lúc nào cũng dúm dó, nơm nớp, mất cả tư thế của người chủ đất nước. Vào sinh ra tử, mấy chục năm liền quyềt sống mái với kẻ thù dân tộc và giai cấp thì không sợ. Cất lên nói dăm ba câu phải trái thì lại sợ. Thế nghĩa là thế nào ? Chẳng lẽ đi theo cách mạng, đi làm cách mạng bằng ấy năm trời để rồi lại tự nguyện cam tâm ôm cái tâm lý tôi đòi để trở thành những nô lệ mới hay sao ? Thật đáng cười và cũng đáng thương cho những ai cầm bút nghiên cứu khoa học, cầm bút sáng tác văn học nghệ thuật lại ôm ấp cái tâm lý khốn khổ như thế. Dân tộc và cách mạng hẳn phải xấu hổ khi đã sản sinh ra một bộ phận trí thức ươn hèn như thế. Chính những người đó lại mỉa mai rằng chúng tôi lên mặt dạy đời. Xin thưa rằng chúng tôi quả thật không hề muốn học tập những ai không đáng học tập và cũng không dám lên mặt dạy những ai thấy rằng họ chẳng cần phải học tập gì nữa. Nghĩ sao nói vậy. Nghĩ sao viết vậy. Ai thấy rằng những điều trò chuyện dài dòng này có ít nhiều ý nghĩa, có thể chia sẻ được thì đúng là tri âm của chúng tôi. Thủy chung, chúng tôi vẫn thấy rằng đức thánh Khổng dạy là đúng : Học không biết chán, dạy không biết mỏi; lời Lênin dạy là đúng : Học, học nữa, học mãi. Và Hồ Chí Minh của chúng ta chỉ riêng về chuyện học cũng đáng là tấm gương sáng cho muôn đời. Khi chúng tôi nói "Đảng của chúng ta", chúng tôi tự ý thức được rằng lòng mình không hẹp, trí mình không cạn, mà sự thật lịch sử là Đảng này đâu phải của riêng ai. Ôi ! Chẳng lẽ tất cả những nô lệ Việt Nam và nô lệ trên đời này đã chọn lựa Đảng Cộng sản đều là nhầm lẫn cả chăng ? Kẻ nào gây ra sự nhầm lẫn, kẻ đó phải chịu trách nhiệm trước Lịch sử ! Khi Mác từ bỏ mọi học hàm học vị của mình, từ bỏ cả một đời sống yên ổn, hứa hẹn nhiều vinh hoa phú quý để chọn đường này; khi F. Engels từ biệt cha mình và giai cấp của mình, vĩnh biệt cả quyền thừa kế thiêng liêng của mình; khi Hồ Chí Minh thuở đó còn mang tên Nguyễn Tất Thành, nuốt nước mắt bỏ lại cha già nơi đất khách, rời quê hương và Tổ quốc yêu quí dấn thân vào con đường đầy chông gai sóng gió, .... và tất cả những ai mang, bản chất người, có gan từ bỏ cả những gì là thân thiết quí giá của đời mình (kể cả sinh mạng) để chọn con đường này, đâu họ có nhầm ! Có thể có khuyết điểm này nhược điểm khác nhưng chúng tôi vẫn có quyền tự khẳng định rằng : chúng tôi không nhầm. Chúng tôi chân thành chia buồn với những đồng chí nào đã suốt một đời theo cộng sản mà như theo một thứ đạo giáo, giờ đây lại thấy lòng mình "khô đạo", vỡ mộng, sụp đổ lòng tin .... xin các vị vui lòng bớt đi cho những lời chửi đổng hay phàn nàn ca cẩm. Hãy bình tâm "xét lại" xem mình đã từng mộng mị ra sao. Và các vị không được phép quên rằng Nhân dân và Tổ quốc vẫn ghi nhận đầy đủ công lao của quí vị. Phải tin rằng những gì tốt đẹp trên đời được tạo dựng bằng mồ hôi và xương máu không bao giờ có thể trở thành vô ích và bị lãng quên. Cũng như các vị, chúng tôi thấy chúng ta có trách nhiệm đối với đương thời và các thế hệ đến sau. Chúng ta đừng hướng con cháu chúng ta vào những niềm tin vô căn cứ hoặc chỉ mang lại lợi ích nhất thời. Chức quyền, bạc tiền thì quí thật, không được coi thường, nhưng đó chỉ là phương tiện không nên coi là cứu cánh (mục đích cuối cùng). Sắp bước sang thế kỷ mới mà vẫn giữ quan niệm "bất cần danh lợi" là bảo thủ, thiếu hiểu biết hoặc đạo đức giả. Danh hư thì không màng, nhưng danh thực thì cần lắm chứ ! Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông (Nguyễn Công Trứ) Lợi bất chính, thì không thiết nhưng lợi chính đáng, sao có thể bỏ qua ? Cho nên khi Đức Mạnh Tử hỏi có ý trách Lương Huệ vương : nhà vua cứ nói đến lợi làm gì (hà tất viết lợi ?), chỉ nên bàn chuyện nhân nghĩa (nhân nghĩa nhi dĩ hĩ) (Mạnh Tử - Lương Huệ vương). Những lời đẹp đẽ kiểu ấy xưa quá rồi, hỡi các nhà Tân khổng giáo ! - Không theo được đâu ! Phải tiếp tục bàn về nhân nghĩa nhưng không nên vì thế mà quên bàn về lợi ích. Chẳng phải vì lợi ích, lợi quyền của tất cả những người bị áp bức bóc lột mà cần phải có mặt những người cộng sản trên đời này đó sao ? Chúng tôi nói cộng sản thứ thiệt để phân biệt rành rọt với thứ cộng sản mỹ ký. Cộng sản thứ thiệt là những người luôn luôn khuyến cáo nhắc nhở nhau : "Nếu trên đời còn người nghèo khổ Chớ thản nhiên sung sướng riêng mình" (Trần Khuê) Đâu có thể cứ vỗ ngực ta đây là "Việt minh", "Việt cộng" mà qua mắt được nhân dân. Một người có thể nhầm nhất thời và nhầm cho đến hết đời. Nhân dân có thể nhầm nhất thời nhưng không bao giờ nhầm mãi mãi. Điều đáng nói là không hiểu vì sao những "đảng viên thứ thiệt" lại quay ra sợ các "đảng viên mỹ ký". Thậm chí lại mang một tâm trạng bất lực đến nỗi đài chưa báo tin gió mùa đông bắc mà đã vội run lên với nhau cả rồi. Thế là dựa vào tâm lý này các vị "mỹ ký" tha hồ múa may quay nồm, ăn vụng, ăn cắp, trộm cướp ngay giữa ban ngày. Tỉnh ra thì ôi thôi chúng khuân rỗng cả kho hàng, kho bạc, bán giời chán rồi đến bán đất. Xem chừng lại còn đeo công nợ quốc tế vào cổ con cháu không biết đến đời kiếp nào mới trả xong. Thế mà khi bàn về việc sửa tận gốc tức là sửa đổi lại Đảng ta thì lại chúng khẩu đồng từ : ấy chết ! đó là việc của Trung ương chứ đâu phải chuyện "gái góa lo việc triều đình", không cẩn thận rồi lại làm mất ổn định chính trị thì gay". | |