![]() |
| Đối Thoại Hai Ngàn Lẻ Một | |
|
Trần Khuê - Nguyễn Thị Thanh Xuân Tập 4+5
1 - Trước Hết, Phải Trung Thành Với Ai: Tổ Quốc Hay Đảng Cộng Sản ? Đọc báo Nhân Dân, chúng tôi giật mình khi thấy đồng chí Lê Văn Dũng - Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN - trong bài "Bộ Tổng tham mưu, cơ quan trọng yếu của quân đội" (Báo Nhân dân ngày 7-9-2000) viết rằng : "Giáo dục cho mọi quân nhân phát huy truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", "Trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân", sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì độc lập dân tộc và CNXH". Viết như thế này hóa ra đ/c Lê Văn Dũng đặt Đảng ở vị thế trên cả đất nước, trên cả tổ quốc. Vậy, đúng hay sai ? Chúng tôi không rõ đ/c Dũng viết theo ai hay tự nghĩ ra ? Theo sự hiểu biết hạn hẹp của chúng tôi thì chưa có một văn bản hoặc nghị quyết nào của Đảng viết như thế. Cũng chưa có sách vở lý luận nào dạy như thế. Mà có viết và dạy như thế cũng sai, sai cả về lý luận và thực tiễn, đặc biệt là sai với tư tưởng Hồ Chí Minh. Chuyện "trung hiếu" xưa vốn là chuyện của Khổng Mạnh. Chuyện "trung hiếu" nay - trung hiếu kiểu mới - mang nội dung dân tộc hiện đại, đó là chuyện của Hồ Chí Minh. Ai cũng thấy Cụ Hồ rất giỏi trong việc đưa nội hàm mới vào trong các khái niệm cũ để cho mọi người dù học ít hay học nhiều cũng đều hiểu rất nhanh đặng thực hành thắng lợi công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Từ khái niệm hạn hẹp của ngàn xưa : "trung quân" tức là trung với vua, Cụ Hồ mở rộng thành trung với Nước ; từ "hiếu ư phụ mẫu" tức là hiếu với cha mẹ, Cụ mở rộng thành hiếu với Nhân Dân. Nếu chúng tôi không nhầm thì văn bản đầu tiên nói đến vấn đề này là lá cờ thêu sáu chữ trung với nước, hiếu với dân mà chính Cụ Hồ đã tận tay trao tặng cho các học viên trường Lục quân Trần Quốc Tuấn khóa II tại Việt Bắc. Chữ nghĩa như thế khi đã thấm vào lòng người đã trở thành lực lượng tinh thần và vật chất bất khả chiến thắng. Bất kỳ một kẻ thù nào đối đầu với một quân đội như thế đều phải hoặc là giơ tay đầu hàng (chủ nghĩa thực dân cũ) hoặc là cuốn cờ rút lui trong danh dự (chủ nghĩa thực dân mới). Đánh nhau với bộ đội Việt Nam, mọi kẻ thù dứt khoát phải thất bại vì đó là Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Mọi kẻ thù không hiểu hoặc cố tình không chịu hiểu rằng đây là một thứ quân đội do Nhân Dân đẻ ra, Nhân Dân nuôi dưỡng, Nhân Dân che chở bảo vệ. Hãy tiêu diệt Nhân Dân này rồi mới tính được chuyện tiêu diệt quân đội này. Mà Nhân Dân VN đã 4000 năm sừng sững trụ vững trên đất này, tìm đâu ra lực lượng nào tiêu diệt nổi ? Lịch sử đã chứng kiến mọi lực lượng ngu xuẩn đụng đầu với Nhân Dân này đều chuốc lấy thất bại thảm hại. Thù Việt Nam thì cứ thù, còn muốn tính chuyện phục thù, hãy coi chừng ! Xin vui vẻ thân ái nói rõ với nhau như thế. Vậy, tại sao lại có chuyện đang "trung với Nước, hiếu với Dân" lại trở thành "trung với Đảng, hiếu với Dân"? Ai đã từng nghiên cứu lịch sử Nước ta và lịch sử Đảng ta hẳn thấy rõ, đó là chuyện xảy ra vào thời kỳ sau khi Cụ Hồ qua đời. Việc Bộ Chính trị Lê Duẩn duyệt sự thay đổi này đã gây ra một phản ứng không nhỏ. Nó cũng tương tự như chuyện sau ngày toàn thắng 30-4-75, người ta cứ nhấn mạnh công ơn của Đảng đối với Dân. Mãi gần đây, Bộ Chính trị Lê Khả Phiêu mới điều chỉnh được rằng phải nhấn mạnh công ơn của Nhân Dân đối với Đảng. Như thế là trở lại với Hồ Chí Minh, vì đánh giá đúng vị thế của Nhân Dân là một bộ phận quan trọng về lý luận cũng như thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Hình như đ/c Lê Văn Dũng cũng nhận thấy cần phải chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị và trở lại với Hồ Chí Minh. Nhưng sao đ/c lại trở về nửa vời như thế ? "Trung với Đảng, trung với Nước, hiếu với Dân", viết như thế hóa ra Đảng được đặt trên cả Tổ Quốc và Nhân Dân. Đồng chí đã được học qua những học viện chính trị, học viện quân sự nào ? Chẳng lẽ ở những học viện đó người ta lại không giảng hoặc giảng sai một luận điểm hết sức quan trọng của Lê-nin : Theo sự phát triển tất yếu của xã hội thì đến một thời điểm nào đó nhà nước sẽ tiêu vong, giai cấp cũng tiêu vong và đảng cũng không tồn tại nữa, nhưng Tổ Quốc, Dân Tộc vẫn sẽ còn lại, còn lại cho đến khi không còn hành tinh và nhân loại. Cho nên, Cụ Hồ nói : "Tổ Quốc trên hết" là đúng, đúng với truyền thống, đúng với hiện tại và mãi mãi. Vậy thì không được phép quên rằng nhiệm vụ của Quân đội nhân dân là bảo vệ tổ quốc và bảo vệ nhân dân, nghĩa là phải đặt Tổ quốc trên hết, phải "trung với Nước, hiếu với Dân" Từng có nơi, có những người lãnh đạo ra lệnh cho quân đội bắn vào nhân dân, do đó họ phải ra hầu tòa. Hai cựu tổng thống Hàn Quốc, Chung Đô Hoan và Rô Tê U, là những tấm gương tầy liếp. ở phe ta thì có đ/c Đặng Tiểu Bình tuy thoát được tòa án Pháp lý nhưng vẫn phải ra hầu tòa án Lịch sử. Trong Di chúc của mình, đ/c Đặng Tiểu Bình đã nhận tội lỗi về vụ ra lệnh cho quân đội bắn giết nhân dân tại Thiên An Môn và xin dược tha thứ. Tha thứ hay không là quyền của Nhân dân và Lịch sử. Mặc dù chưa bao giờ nguôi lòng căm ghét cái ông cộng sản lão thành Đặng Tiểu Bình từng mở miệng nói một câu đáng tởm : "Phải dạy cho Việt Nam một bài học!" rồi lùa hàng chục vạn quân tràn qua biên giới cướp bóc, đánh phá VN, một đất nước anh em cùng phe XHCN với mình, xóa bỏ tình nghĩa "vừa là đồng chí vừa là anh em", chúng tôi vẫn khâm phục lòng tự trọng của ông và kêu gọi mọi người lãnh đạo nên học tập tinh thần tự trọng đó. Mọi sự ân hận, sám hối đều đáng được hưởng lượng khoan hồng của Nhân Dân và hậu thế. Nói cho mọi người nào đã từng lầm lỗi hoặc đã trót nhúng tay vào tội ác hãy mau tỉnh ngộ. Lưới trời lồng lộng, không một Chung Đô Hoan, một Đặng Tiểu Bình, môt Pinôchê nào có thể trốn thoát. Tất cả những kẻ nào chủ trương dùng vũ lực để tàn sát nhân dân đều sẽ bị Nhân dân và Lịch sử tiêu diệt ! 2 - Đúng Nhưng . . . Đúng Một Cách Rất Sai ! Nhiều vị cứ thắc mắc với chúng tôi : thế ông giáo sư Phạm Minh Hạc xúc phạm đến anh và chị như thế nào ? Chúng tôi xin trình bày vắn tắt như sau : Giáo sư Phạm Minh Hạc, với thái độ niềm nở, lịch sự đã phát biểu ý kiến khá là xúc phạm : - Chúng tôi đã đọc kỹ tác phẩm "Đối thoại năm 2000" của hai đồng chí. Tôi thấy đây là một tác phẩm lý luận quan trọng, đề xuất được nhiều luận điểm lớn có tính cách xây dựng. Nhưng theo tôi có những dòng không nên đưa vào. Ví dụ như mấy dòng ở trang ... Đưa những dòng như thế này vào, nó làm nham nhở tác phẩm. Căn cứ vào những dòng như thế này làm người ta hiểu hình như ở ta luôn tiềm tàng một sự phản đối, Đảng ta vốn mang bản chất nhân đạo, đâu có thể để xảy ra những sự tàn sát như thế. Chúng tôi cảm ơn lời khen của gs. Hạc và thanh minh rằng chúng tôi không chủ trương viết một tác phẩm lý luận, đồng thời cũng thẳng thắn phản bác lối dùng từ xúc phạm : - Trong tác phẩm của chúng tôi, chúng tôi có đưa ra nhiều dự báo. Còn những chuyện như Quang Du, Thiên An Môn mà không xảy ra ở nước ta là điều đáng mừng, có gì cần phải nói. Bản chất nhân đạo của Đảng ta, chúng tôi đâu có lạ nhưng chúng tôi phản đối đ/c Phạm Minh Hạc đã dùng từ nham nhở. Thế nào là nham nhở ? Chúng ta không được dùng những từ như thế trong một cuộc thảo luận nghiêm túc ? Đ/c Hạc vội vàng ngắt lời chúng tôi : - Các đ/c đừng hiểu lầm, tôi dùng từ nham nhở này là trong ngoặc kép. - Không ! Dù ngoặc kép hay không ngoặc kép thì vẫn là nham nhở. Chúng tôi coi đó là một sự xúc phạm. Chúng tôi sẽ phản bác bằng văn bản và chúng tôi cũng yêu cầu đ/c trả lời bằng văn bản. Chúng tôi không có quyền xúc phạm đ/c và đ/c cũng không được quyền xúc phạm chúng tôi. Mọi sự xúc phạm đều phải đưa ra tòa án dư luận, nếu cần đưa ra tòa án pháp lý. Cho đến hôm nay, chúng tôi vẫn không hiểu đ/c Phạm Minh Hạc dùng từ nham nhở như thế là vô tình hay cố ý. Vô tình tức là không hiểu văn học dân gian. Còn cố ý là thiếu văn hóa trong tranh luận học thuật. Một chuyên gia nghiên cứu tâm lý học vào loại kỳ cựu như đ/c Hạc không thể không biết chuyện này. Về bản chất nhân đạo của Đảng Cộng sản, chúng tôi chẳng có lý do gì để không nhất trí với đ/c Phạm Minh Hạc. Không nhân đạo thì việc gì mà phải đi tiên phong sẵn sàng vào nhà tù, lên máy chém chỉ để cho tất cả những nô lệ trên thế gian này đứng thẳng dậy để làm người tự do. Cũng nên lấy làm buồn khi hàng vài chục năm nay, khi họp đảng, người ta quên cả việc hát "Quốc tế ca". "Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian, Vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn". Đáng buồn hơn nữa là "một bộ phận không nhỏ" đảng viên không thuộc Quốc tế ca, thậm chí không biết mặt mũi, không hiểu giai điệu hào hùng của Quốc tế ca ra sao. Tình hình này chắc chẳng phải chỉ riêng ở Ta mà ở Tàu, ở Tây cũng rứa ! Gần đây, ta đã phải có chỉ thị chấn chỉnh tình hình hát Quốc ca và Quốc tế ca nhưng xem ra việc chấp hành vẫn còn lác đác nhu nhơ lắm. Đây là trách nhiệm của các tổ chức nhà trường, tổ chức đảng, tổ chức đoàn thể hoặc tất cả các ban tổ chức hội nghị nói chung. Chúng tôi thích nói cụ thể như thế, không tán thành lối nói "cơ quan chức năng" chung chung mà báo chí ta hiện nay hay dùng. Nhân đây chúng tôi đề nghị báo chí của ta phản ánh tình hình nên qui rõ trách nhiệm cho từng cơ quan cụ thể như Giao thông, Xây dựng, ủy ban nhân dân, Công an, Tòa án, ... chứ không nên nói chung chung nữa. Bản chất cộng sản là nhân đạo nhưng tại sao lại có nghịch lý này : có những đảng viên cao cấp lại hành động một cách vô nhân đạo không chỉ đối với nhân dân mà ngay đối với các đ/c trong Đảng của mình. Hiện tượng Stalin, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Pôn-Pốt, ... được lặp đi lặp lại ở hầu hết các đảng cộng sản ở nhiều cấp độ khác nhau. ở ta, hiện tượng Lê Đức Thọ có nhẹ hơn nhưng những việc làm thất nhân tâm trái với bản chất cộng sản, bản chất dân tộc là không thể chấp nhận. Tất nhiên, việc luận công định tội đối với từng nhân vật lịch sử đều phải hết sức thận trọng, khách quan và công bằng. Đó là việc của đương thời nhưng chủ yếu là của hậu thế. Nên luôn luôn nghĩ đến sự đánh giá của hậu thế mà biết tiến, biết dừng, biết sống cho đúng và sống cho tốt. Theo chúng tôi, sở dĩ các đảng cộng sản mắc sai lầm trầm trọng trong việc đối nhân xử thế là do mới sáng suốt trong việc tổ chức đấu tranh giành chính quyền và tổ chức các cuộc chiến tranh vệ quốc, nhưng lại chưa đủ sáng suốt trong việc tổ chức xây dựng một xã hội mới. Chỉ riêng Lê-nin biết mình cần phải làm gì để lãnh đạo nhân dân xây dựng một xã hội mới. Ông mới thật là người mácxít chân chính. Ông biết xuất phát từ thực tiễn Nga và thực tiễn của thời đại để định ra chủ trương đúng và hành động đúng. Tiếc rằng ông mất quá sớm và những người kế tục ông đã làm sai nên hỏng việc. Một thực thể cách mạng vĩ đại như thế mà chỉ tồn tại có 72 năm, thật là đau đớn. Do đó, chúng tôi hoàn toàn có cơ sở để khẳng định rằng Hồ Chí Minh nắm vững phép biện chứng mácxít và đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi. Chính thành công vĩ đại này đã đưa Cụ gia nhập hàng ngũ những vị thánh cứu nước của Việt Nam. Cũng có những người đầy thiện ý khuyên chúng tôi : các vị cũng nên ca tụng cụ Hồ vừa phải thôi. Không ! Chúng tôi không hề làm chuyện ca tụng. Chúng tôi chỉ trình bày một thực tiễn Việt Nam, một thực tiễn của đời sống tâm linh Việt Nam. Dân tộc Việt Nam thờ Cụ với tư cách là một bậc thánh cứu nước. Thế giới tôn vinh Cụ với tư cách một anh hùng giải phóng dân tộc và một danh nhân văn hóa kiệt xuất. Nhân đây, chúng tôi cũng cảm ơn đ/c thiếu tướng Trần Nhật Độ đã gửi cho chúng tôi một bức thư với lời lẽ ưu ái và nhiều ý kiến tranh luận thẳng thắn. Riêng với ý kiến nói rằng : "Các bạn ra đòn với Stalin nặng quá", chúng tôi xin thưa rằng chúng tôi không dám phê phán gì Stalin cả. Với tư cách người nghiên cứu, chúng tôi chỉ trình bày vấn đề đúng sai phải trái và mời mọi người tham gia tranh luận để cùng nhau tìm ra một lối thoát cho Việt Nam, giúp cho Việt Nam chúng ta mau chóng phát triển kịp tiến bước mà sánh vai với các nước tiên tiến trên thế giới. Có thể chúng tôi bị chê là ảo tưởng và lãng mạn thái quá. Không, chúng tôi tin vào trí tuệ Việt Nam, tin vào tiềm lực văn hóa của Việt Nam mà đặt vấn đề hy vọng như thế. Chúng tôi rất lấy làm lạ, chẳng lẽ các đ/c ở Hội đồng lý luận Trung ương, ở Viện Triết học, ở Học viện chính trị quốc gia, ... lại không thấy được cái sai của Stalin trong việc đặt dấu nối giữa cụm từ Mác-Lênin hay sao ? Nếu chúng tôi không nhầm thì vào thập kỷ 20, Nguyễn ái Quốc và nhiều người khác vẫn nói chủ nghĩa Mác riêng, chủ nghĩa Lênin riêng, chứ không hề nói gộp chủ nghĩa Mác-Lênin như sau này mọi người thường nói và viết. Xin hỏi Ban soạn thảo văn kiện của Đại hội IX, các đ/c có hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin này là thế nào không ? Mong các đ/c vui lòng giải thích tóm tắt cho mọi người nghe. Việt Nam ta phải theo CN Mác-Lênin. Vậy là theo Mác hay theo Lênin ? Riêng trong lĩnh vực kinh tế hiện nay thì luận điểm nào của Mác thích hợp, luận điểm nào của Lênin thích hợp ? Chúng tôi ngờ rằng hiện nay rất nhiều việc chúng ta lúng túng không biết xử lý ra sao vì phân biệt đúng sai rất khó. Vừa rồi, trên đài truyền hình, các đ/c Hà Đăng, Lê Hữu Tầng, Lưu Bích Hồ dõng dạc giải thích rằng chúng ta phải xây dựng nền kinh tế trên cơ sở công hữu. Thế thì đúng với Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của Mác quá rồi còn gì. Sau đó các đ/c lại bảo phải làm kinh tế nhiều thành phần. Thế là đúng với Lênin quá rồi còn gì. Nhưng rõ ràng là chống lại Mác. Các đ/c không biết rằng nông dân và các tầng lớp nhân dân khác ở 61 tỉnh đều ầm ầm phản đối việc chiếm đất là do cái luận điểm công hữu này. Xin thưa với các đ/c, muốn xóa quyền tư hữu về ruộng đất cũng như về các tư liệu sản xuất khác ở đất nước này tối thiểu cũng phải 100 năm nữa. Rõ ràng, đó không phải là công việc của thế hệ chúng ta. Đâu có phải chúng ta cứ ghét hoặc sợ "quyền tư hữu" rồi tùy tiện xóa bỏ, tùy tiện công hữu hóa những gì không thể công hữu hóa trong tình hình hiện nay. Các đ/c dự định sẽ bù lỗ cho các xí nghiệp quốc doanh đến thập kỷ nào ? Và lấy tiền thuế của nhân dân đóng góp hay lấy tiền vay nợ ODA để bù lỗ ? Chẳng lẽ chúng ta vui lòng để cho giai cấp nông dân sau 30 năm kháng chiến và 25 năm hòa bình ra sức kéo cày trả nợ, miễn là giữ vững CNXH, giữ vững định hướng XHCN. Chúng ta không có quyền vô trách nhiệm như thế. Và chắc chắn mọi tầng lớp nhân dân cũng không chấp nhận những thứ lý luận vớ vẩn và một thực tiễn tệ hại như thế. Chủ nghĩa Mác vẫn là một học thuyết lớn của nhân loại, một học thuyết có giá trị lớn ở thế kỷ XX. Chúng ta không có quyền vận dụng sai để góp phần bôi nhọ và phủ nhận chủ nghĩa Mác. Hình như giai cấp tư sản và những nhà lý luận tư sản tử tế hơn các đ/c nhiều. Người ta ghét chủ nghĩa Mác, thậm chí thù địch với nó thế mà người ta đọc nó, nghiền ngẫm nó một cách nghiêm túc, khoa học. Còn các đ/c của ta thì đọc lớt phớt, nghiền ngẫm thì hiếm rồi, còn sao chép trích dẫn thì rất nhanh, rất thành thạo. Khoan, xin đừng vội thanh minh hoặc phản đối chúng tôi. Vì điểm lại tất cả những gì gọi là sai lầm của Đảng ta trong quá khứ đều hoặc do nhân dân phát hiện hoặc các đ/c lãnh đạo Đảng thấy tình hình gay quá không sửa nhanh thì nguy chứ tuyệt nhiên không thấy một người làm lý luận chuyên nghiệp nào hoặc một cơ quan nghiên cứu lý luận nào công bố những công trình phát hiện của mình về những sai lầm đó. Chắc sẽ có đ/c cãi rằng chúng tôi cũng biết cả nhưng nói sao được. Thế là hèn nhát hoặc vô trách nhiệm, không đáng mặt làm lý luận, nên tìm công việc khác thích hợp với bản chất của mình nếu còn lòng tự trọng. Đ/c Hữu Thọ còn bảo rằng chúng tôi "phê phán nhiều người quá, họ không nói lại được, không cẩn thận họ kiện cho". Thử hỏi ý thức dân chủ của họ, ý thức về quyền tự do ngôn luận của họ, họ cất giấu đi đâu ? Còn nếu những điều mà chúng tôi nói không phải là sự thật, chỉ là những điều vu cáo xúc phạm đến danh dự của họ, họ vẫn cứ việc sử dụng quyền công dân của mình. Hay ý thức công dân lại cũng thiếu nốt ? Hiện nay, sau gần một năm nghiên cứu, bàn bạc, chúng tôi được tin các ông Trần Bạch Đằng, Nguyễn Thế nghĩa và nhiều vị liên đới hội thảo Gia Long, hội thảo Việt Nhật, ... lại liên minh với ông Nguyễn Duy Quý ở Hà Nội tìm cách "phản kích" chúng tôi. Nghe đâu họ cũng không đủ gan chơi "bài lật ngửa" mà lại dùng một "sách" quá cũ : kích động quần chúng viết thư nặc danh phản đối lên tận trung ương. Nói như thế để thấy rằng đ/c Hữu Thọ đừng lo rằng họ thiếu mưu chước, chỉ có điều họ vẫn còn đang lúng túng về vấn đề 17.300 USD (mười bảy ngàn ba trăm đô la Mỹ) mà Bộ ngoại giao Nhật đòi hoàn lại về vụ Hội thảo Việt Nhật lần thứ hai không thành. Thu lại cho đủ tiền chia chác ấy là khó mà ông Viện trưởng Nguyễn Thế Nghĩa trích quỹ của Viện để trả nợ đậy cũng dứt khoát là không ổn. Chúng tôi kiến nghị với Trung ương : Nếu vì lẽ nào đó, ông giám đốc Trung tâm KHXH và NVQG Nguyễn Duy Quý không có khả năng tổ chức việc thanh tra để làm sáng tỏ chuyện này thì Ban thanh tra chính phủ cần tổ chức thanh tra để có những kết luận về vụ Việt Nhật và tất cả những vụ khuất tất của Viện KHXH tại TPHCM trong 25 năm vừa qua. Nói cho họ biết, cái luận điệu "họ lại dám chống cả viện, bôi nhọ viện" là một thứ luận điệu vu cáo mang tính "kích động", xuyên tạc, lỗi thời,. Với tư cách những người chủ đất nước, thì Viện này, Trung tâm này hay nói rộng ra cả Nhân dân này và Đất nước này là của chúng tôi. Họ đừng bao giờ quên điều đó. Chúng tôi chỉ làm trách nhiệm vạch mặt những kẻ nào vì đặc quyền đặc lợi của bản thân hay phe nhóm mà nhẫn tâm làm hại Nhân dân, làm hại Đất nước. Vu cáo cho chủ bây giờ cũng khó đấy ! Nhân đây chúng tôi hỏi anh chị em trong Viện và ngay các đ/c trong Đảng bộ Viện do hiểu rõ những thiếu sót, sai lầm của anh Nguyễn Thế Nghĩa nên Đại hội vừa qua không bầu anh vào Đảng ủy, vậy vì sao ông Nguyễn Duy Quý lại bổ sung anh ta vào Đảng ủy Viện ? Thực tình, chúng tôi không rõ chúng ta đặt ra những "lệ" như thế từ bao giờ. Chúng tôi gọi là "lệ" vì không coi đây là những nguyên tắc đúng đắn của một đảng cách mạng. Đã tổ chức bầu cử dân chủ ở trong Đảng thì phải tin vào trí tuệ của từng đảng viên. Ai thấy mình có đủ năng lực ra gánh vác công việc của tổ chức thì tự nguyện ứng cử. Thấy đ/c nào đủ năng lực và tinh thần trách nhiệm xứng đáng là người lãnh đạo cấp ủy thì mình bỏ phiếu cho người ta. Đã bỏ phiếu tín nhiệm người ta rồi thì phải hết lòng ủng hộ giúp đỡ người ta hoàn thành trách nhiệm. Ngay cả với người mà mình không tín nhiệm nhưng đa số đã tín nhiệm bầu, mình cũng phải phục tùng đa số mà ủng hộ người đã trúng cử. Nếu quả tập thể có bầu nhầm thì nhầm một khóa, chẳng lẽ nhầm mãi mãi. Nguyên tắc đơn giản là thế mà không hiểu vì sao chúng ta không chịu theo. Chẳng lẽ cứ dự kiến rồi bầu không trúng dự kiến lại gò Đại hội bầu hết vòng này đến vòng khác mới đúng nguyên tắc Lêninít chăng ? Có nơi phải bầu đên ba vòng đến nỗi các đại biểu cũng mệt và đói bảo nhau bỏ cho xong đi. Giờ lại thêm cái lệ mới không trúng cũng cứ bổ sung nghĩa là dù không được Đại hội tín nhiệm nhưng vẫn nghiễm nhiên vào cấp ủy. Thật là một sự khinh thị và trà đạp quyền dân chủ của người đảng viên một cách trắng trợn. Chính bầu cử kiểu này nên mới dẫn đến tình trạng phe cánh trong đảng. Người thấy kẻ không được mình tín nhiệm mà vẫn trúng thì ấm ức. Kẻ thấy mình được cấp trên tín nhiệm, yên chí có ô dù che chở rất dễ sinh thói chuyên quyền làm bậy. Chưa kể còn có những kẻ vô lương tâm tìm cách trù diệt những người đồng chí không ăn cánh với mình. Lục đục với nhau cả một khóa 4 năm liền thử hỏi làm thế nào mà tạo ra sức mạnh cho Đảng. Quần chúng nhiều khi ngơ ngác chẳng còn biết theo phe nào, phái nào. Còn các nhà nghiên cứu lý luận thì lo kêu gọi họ "tu thân" và chống chủ nghĩa cá nhân. Trung ương thì kêu gọi họ phải đoàn kết và nâng cao đạo đức cách mạng. Theo chúng tôi hiểu, không thể để tình trạng như thế này tái diễn ở thế kỷ XXI vì đơn giản là làm cho Đảng yếu đi chính là mang lại tai họa cho Nhân dân và Đất nước. ở Đại hội IX sắp tới, chúng tôi thấy cũng cần cải cách ngay. Không biết từ hồi nào mà ngay bầu ở Trung ương lại để một vài đ/c đứng ra dự kiến hết người nọ đến người kia. Chúng ta đã đề ra khẩu hiệu "đoàn kết, trí tuệ, dân chủ, ..." thì chúng ta cứ thử tin vào trí tuệ của các đại biểu xem sao. Toàn các đại biểu ưu tú do cơ sở cử lên lại không tin thì tin ai bây giờ. Chúng ta cũng nên bỏ cái lối họp đại hội thử đi. Vừa tốn kém lại vừa tỏ ra là không tin nhau. Mình còn không tin mình thì kêu gọi nhân dân tin mình thế nào được. Chúng tôi thấy nhiều đ/c lão thành cách mạng đang sinh hoạt ở CLB Thăng Long, CLB Ba Đình cũng nghĩ như chúng tôi. Có cụ còn nói thời Bác Hồ không thấy phải họp thử như thế bao giờ. Lại nhớ đến có một đại hội đã bầu thử không may chưa kịp đến Đại hội chính thức thì một một đ/c được bầu vào Bộ Chính trị đã đột tử. Thế mà khi đại hội chính thức họp cũng cứ phải bỏ phiếu cho người đã chết theo đúng quyết định của đại hội họp thử. Cứng nhắc đến thế là cùng ! Tất nhiên, bầu người sống hay người chết cũng tùy quyền mình mà thôi. Nhưng cái nguy nhất của vấn đề là ở chỗ việc bầu một người đã chết vào Bộ Chính trị là một việc không bình thường, một việc bất đắc dĩ, một sự cứng nhắc theo cơ chế bầu cử của ta. Thế mà mọi người lại coi là bình thường, là hợp lý. Cứ cái nếp nghĩ này thì hình thành dần dần coi mọi cái phi lý trở thành hợp lý và những cái hợp lý lại trở thành phi lý. Và chính điểm này mới là điểm cơ bản làm trái với chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lênin và chủ nghĩa Hồ Chí Minh. Chúng tôi sẽ có bài riêng trình bày với công luận rằng dựa trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nào mà chúng tôi gọi là chủ nghĩa Hồ Chí Minh. Chúng tôi thấy cái nhầm cơ bản của phe XNCH chúng ta là : hầu hết các nước trong phe đều ở trình độ kinh tế phát triển trung bình và dưới trung bình nhưng đều bảo nhau vận dụng những lý thuyết cao xa của Mác, một lý thuyết chỉ có khả năng vận dụng vào những nước phát triển nhất của thế giới TBCN. Hình như mọi nước trong phe đều hiểu điều đó nên vẫn dè dặt gọi nước mình là Cộng hòa dân chủ hoặc Cộng hòa nhân dân. Chỉ có nước anh cả dám nhận mình là Liên bang các nước Cộng hòa XNCH Xô Viết, gọi tắt là Liên Xô. Và rất tiếc Liên Xô chỉ tồn tại được có 72 năm. Ngoài Liên Xô chỉ còn riêng có Việt Nam ta từ sau Đại hội IV cũng tự phong mình là nước Cộng hòa XNCH Việt Nam. Thế là độc đáo nhưng không tránh khỏi có phần tùy tiện. Chúng tôi đã từng nói việc đổi lại tên nước hay không, không quan trọng bằngviệc nhận diện cho chính xác và phân tích cho thật thấu đáo tình hình thực tiễn của Việt Nam ta để định hướng và quyết định đường đi nước bước cho chính xác đối với từng giai đoạn. CNXH trên lý thuyết với những viễn cảnh mà chúng ta từng hình dung, tưởng tượng, mơ ước thì rõ ràng là tươi đẹp, đáng bỏ công sức ra để xây dựng, mà chúng ta cũng đã từng bỏ công xây dựng 20 năm trên miền Bắc và 10 năm trên cả nước. Chúng ta làm theo đúng như lời chỉ dạy của Stalin nghĩa là rất đúng với lý thuyết của Mác. Nhưng càng làm chúng ta càng thấy không thích hợp, chỉ thấy trì trệ và khủng hoảng. Nhìn ra toàn phe ta cũng đều thấy như thế cả. Đáng lẽ khi thấy Đông Ấu và Liên Xô tan rã, sụp đổ, chúng ta đau xót thật, nhưng cũng phải mở mắt ra chứ. Tại sao có một số đ/c cứ cố tình nhắm mắt lại rồi còn ngụy biện, bào chữa cho sự sụp đổ đó. Không phải chúng tôi không thông cảm với tâm trạng của các đ/c nhưng lòng mong muốn, lòng thương xót cho dù sâu sắc đến mấy cũng không thể làm cho người chết sống lại được. Tất nhiên, hoàn toàn không thể thông cảm mà còn căm ghét những kẻ nào miệng nói, tay viết : "Phải bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin", "bảo vệ CNXH". Thậm chí, miệng họ nói rằng "phải bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh", nhưng nhân dân bị ức hiếp, đói khổ thì họ lờ đi. Họ vô liêm sỉ đến mức mang tiền "xóa đói giảm nghèo" hàng trăm tỷ để đi đánh chén và chia chác với nhau. Nếu dăm ba nơi xảy ra chuyện như thế thì còn có thể gọi là cá biệt hoặc một bộ phận. Nhưng trên toàn quốc, hầu như 61 tỉnh đều xảy ra tham nhũng mà tại sao Ban soạn thảo văn kiện lại dám viết rằng "một bộ phận cán bộ đảng viên" ? Một bộ phận là bao nhiêu ? Chúng ta phải thoát nhanh khỏi cái lối nói, lối nghĩ chung chung mơ hồ như thế. Đưa cả một cuộc cách mạng phát triển, đưa cả một dân tộc tiến lên trong thế kỷ XXI, đâu phải chuyện đùa mà chúng ta có thể cứ giữ nguyên não trạng như vậy. Góp ý mãi thì mới sửa được thành "một bộ phận không nhỏ". Một bộ phận không nhỏ cụ thể là bao nhiêu ? Miệng thì nói theo CN Mác nhưng đầu lại không nghĩ nổi "chân lý là cụ thể". Chính bè lũ tham nhũng và bọn bao che cho bè lũ tham nhũng núp dưới sự mơ hồ thiếu cụ thể này mà tiếp tục hoành hành, tác oai tác quái, phá hoại tất cả những gì tốt đẹp phải tốn bao xương máu mới tạo ra được trong hơn nửa thế kỷ vừa qua. Tất nhiên, chúng tôi chẳng sợ và coi khinh mọi sự vu cáo rằng hai tác giả này đang chống lại Đảng. Không ! Cái Đảng này là do Nhân Dân này đẻ ra, thương yêu hay ghét bỏ là quyền của người ta. Người ta có ghét con cái của mình thì cũng ghét từng lúc thôi. Đã hơn một lần chúng tôi khẳng định : cái Đảng này là máu thịt của Nhân Dân, máu thịt của Dân Tộc, không kẻ nào có thể tách nó ra khỏi Dân Tộc. Nó đau ốm thì phải thuốc thang chạy chữa cho nó. Còn để cho nó suy sụp và tiêu vong thì không được phép. Chúng tôi, và chắc chắn tất cả nhân dân lương thiện, phải lên án những kẻ mồm nói yêu Đảng nhưng thực ra đang chống Đảng, chúng đang đục ruỗng mọi kho tàng của Nhà nước và uy tín của Đảng và danh dự của tất cả những người đã hy sinh trong 117 năm đấu tranh vừa qua. Tại sao đã trông rõ mặt những đứa ăn cắp mà lại không đuổi đi được ? Lại để chúng tiếp tục trộm cắp ? Đã đành tội lỗi là do chúng nó gây ra nhưng theo chúng tôi cái nguyên nhân gốc không phải là vấn đề đạo đức mà chính là do các cơ chế, cái cơ chế mang tính phổ biến của mọi đảng cộng sản trên thế giới. Chẳng thế mà chúng ta đều thấy tham nhũng ở Liên Xô, ở Trung Quốc sao cũng giống Việt Nam đến thế ! Nên nói rằng chúng ta giống họ thì đúng hơn vì chúng ta là bản sao của họ. Cho nên để tránh vết xe đổ không thể không nghiêm khắc xem xét lại cơ chế và thể chế chính trị của chúng ta, mà trước hết là các thể chế của Đảng. Chúng ta xây dựng thiết chế như thế nào mà để cho chỉ một vài cá nhân cũng có thể lũng đoạn toàn thể bộ máy Đảng. Mệnh lệnh của một Stalin, một Mao Trạch Đông, một Đặng Tiểu Bình, ở ta thì một Lê Đức Thọ cũng làm điên đảo cả đất nước, chà đạp lên những nguyên tắc nhân đạo vốn là bản chất của cách mạng, bản chất của cộng sản. Một Goócbachốp ký lệnh giải tán đảng cộng sản Liên Xô mà hơn 20 triệu đảng viên và mấy chục triệu đoàn viên thanh niên cộng sản cúi đầu tuân lệnh. Giáo sư Trần Văn Giàu từng chất vấn các viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học liên bang Nga : vì sao Đảng cộng sản và Nhà nước Liên Xô lại sụp đổ một cách êm ru như thế ? Một dịp khác - góp ý kiến với Văn kiện Đại hội IX - giáo sư lại thắc mắc và than phiền : Không thấy một cuộc biểu tình nào ? Xin thưa với gs. Giàu : mong giáo sư vui lòng xem lại thiết chế chính trị của các đảng cộng sản mà điển hình là của Liên Xô. Giáo sư quên mất rằng đã 70 năm liền đảng cộng sản cấm nhân dân biểu tình. Cấm lâu quá đến mức nhân dân mất hẳn ý thức và thói quen biểu tình. Nói ngay như ta bây giờ, nếu Đảng không có cách nào trị bọn tham nhũng mà Nhân dân xuống đường biểu tình chống bọn tham nhũng thì hẳn mọi người lại hoảng lên : thế này thì loạn mất à ? Theo một bài báo gần đây của đ/c Trần Bạch Đằng, thì phải bằng mọi cách giữ cho tình hình ổn định. Thế thì tham nhũng có chức có quyền thích quá rồi còn gì. Chúng sẵn sàng giơ cả bốn tay hoan hô đ/c Trần Bạch Đằng. Chúng tôi cũng chẳng lạ gì cái lối ăn theo nói theo này. Chúng tôi cho rằng Nhân Dân ta sau bao năm đau khổ vì chiến tranh và quan liệu tham nhũng mong được sống ổn định để an cư lạc nghiệp. Hỏi sau 30 năm chiến tranh có ai mong được sống ổn định bằng Nhân Dân ta ? Khi chúng tôi chống lại những kẻ ngu xuẩn, tham lam đứng ra tổ chức hội thảo Gia Long, hội thảo Việt Nhật nhằm xuyên tạc lịch sử, ông Trần Bạch Đằng không hưởng ứng. Nhân dân Thái Bình nổi dậy chống bọn cường hào tham nhũng, ông không dám hé răng ủng hộ. Ngay giữa hội thảo kỷ niệm 300 năm Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh, ông là một thành viên trong Ban tổ chức lại cả gan giới thiệu ông Nguyễn Đình Đầu lên đọc bài tham luận trước hội trường để chứng minh rằng Bác Hồ không phải ra đi cứu nước từ Bến Nhà Rồng mà đi cách đó chừng 500-600m. Thế hóa ra phải chứng minh một cách khoa học rằng Cụ Hồ phải ra đi đúng ở cột cờ Thủ Ngữ mới cứu được nước. Còn nếu ra đi từ Bến Nhà Rồng thì sự nghiệp cứu nước bất thành chăng ? Azít Nêxin đã từng cười vào mũi những nhà khoa học nghiên cứu kiểu đó. Ông Nguyễn Đình Đầu có thể không biết sự chế nhạo đó, nhưng chẳng lẽ ông Trần Bạch Đằng lại không biết ? Chúng tôi thực tình sốt ruột khi thấy kẻ này kẻ khác đua nhau bới móc những chuyện quanh tiểu sử Cụ Hồ nhằm bôi nhọ một thần tượng của Dân tộc, một danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại. Nhân dân ta thường nói "Thánh cũng có lúc nhầm". Nhưng chẳng phải vì nhầm lẫn một vài chuyện nào đó mà không còn là Thánh. Vấn đề là phải học tập và làm theo những cái mà Thánh không nhầm chứ đừng làm theo những cái mà Thánh đã nhầm khiến cho Thánh mất thiêng. Chớ quên rằng trước khi hóa thần hóa thánh thì các vị cũng là người trần mắt thịt như chúng ta mà thôi. Mọi người cần hiểu điều đó. Những người nghiên cứu khoa học càng cần hiểu điều đó để đừng nhầm lẫn trong việc tham mưu và hiến kế. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng chẳng lẽ lại không hiểu những nguyên tắc sơ đẳng đó. Ngay sau khi ông Nguyễn Đình Đầu đọc tham luận,, chúng tôi đã gặp ngay đ/c Hồ Hữu Nhật - thành viên trong Ban tổ chức để chất vấn. Đ/c Nhật cho biết rằng : Ban tổ chức đã thống nhất không để ông Nguyễn Đình Đầu đọc báo cáo đó ở hội trường, và chính Ban tổ chức cũng ngạc nhiên khi thấy ông Trần Bạch Đằng giới thiệu ông Đầu lên diễn đàn. Rõ ràng ông Trần Bạch Đằng đã làm một việc vô nguyên tắc. Nghiên cứu khoa học và tổ chức thảo luận khoa học theo kiểu Hội thảo Gia Long, Hội thảo Việt Nhật, Bến Nhà Rồng, ... theo chúng tôi, chẳng qua là những trò gây nhiễu tư tưởng. Vậy ông Trần Bạch Đằng muốn ổn định xã hội thật lòng hay vờ vịt ? Trong tác phẩm Đối thoại năm 2000, chúng tôi cũng đã nhẹ nhàng phê phán những trò gây nhiễu tư tưởng trong đó có phần đóng góp khá quan trọng của ông Trần Bạch Đằng. Tất cả những ai, kể cả ông Trần Bạch Đằng, thấy chúng tôi phê phán không đúng, xin mời công khai tranh luận bằng văn bản. Còn vừa rồi có những nguồn tin cho chúng tôi biết ông lại tập họp những người bị chúng tôi phê phán để chơi trò "thư nặc danh". Chúng tôi thẳng thắn tuyên bố : bất chấp những trò thiếu quân tử đó ! ở nước Việt ta cũng có nhiều cái lạ. May mắn được tham gia một tổ chức nào đó thì liền coi tổ chức đó là của riêng nhà mình. Một mặt thì cố ngoi lên để giữ một ghế "gia trưởng", một mặt thì đóng sầm cửa lại, nội bất xuất ngoại bất nhập. Kẻ nào muốn "ngoại nhập" thì phải biết khúm núm gọi dạ bảo vâng. Đứng ngoài thì còn tỏ ra biết điều, khiêm tốn, có "quan điểm quần chúng". Vào rồi là y như vênh vênh váo váo như gáo múc dầu, chẳng coi ai vào đâu, miệng toàn thở ra một giọng xa lạ, cửa quyền, hách dở, quan trọng hóa cả những thứ chẳng có gì đáng gọi là quan trọng. Đúng như bà con ta thường nói : "mới nhìn mặt đã thấy ghét". Chẳng lẽ đây lại là một nét truyền thống cần bảo nhau gìn giữ và phát huy. Chúng tôi thấy đ/c Thủ tướng cần chú ý đến đặc điểm tâm lý này. Muốn cải cách hành chính thành công, theo chúng tôi, trước hết phải cải cách cái tâm lý khốn khổ này. Mà người Việt ta muốn mở mặt mở mày với thiên hạ cũng phải sớm bỏ đi cái tâm lý này. Chúng tôi vừa được nghe thuật lại, trong buổi họp kín với các đàn em, ông Trần Bạch Đằng lại hoan hỉ nhận định : - Vừa rồi, Nghĩa không cho chúng nó lên đọc tham luận ở Hội thảo "30 năm Di chúc" là đúng. Nguyễn Duy Quý và Lê Hữu Tầng không cho chúng nó vào họp Hội nghị quốc tế Việt Nam học là một thắng lợi lớn. Cũng chẳng có gì bảo đảm lời thuật lại đã đúng 100%, nhưng cái tâm lý này của ông Trần Bạch Đằng thì chúng tôi và không ít người đã thấy từ lâu. Thế mới biết đuổi giặc khó mà hóa dễ, đuổi được tư tưởng cục bộ, tư tưởng Nam kỳ quốc và đủ các thứ tư tưởng dớ dẩn khác, tưởng là dễ mà cực kỳ khó. Về chuyện mời với không mời, quả thật ông TBĐ không thấu hiểu tai họa và nỗi khổ tâm của ông Quý và ông Tầng. Khi nhận được tham luận, bản dịch tham luận và cả đĩa mềm của chúng tôi, ông Quý và ông Tầng lúng túng lắm. Mời hay không mời đều thấy khó ngang nhau. Nhưng cuối cùng chỉ vì cái ghế của mình chứ chẳng vì khoa học hay Việt Nam học gì hết, các ông đành muối mặt không mời. Ngay giữa thủ đô, chúng tôi điện đàm với ông Trưởng ban tổ chức hội thảo quốc tế Việt Nam học Lê Hữu Tầng và chất vấn về việc ông Tầng không mời. Ông Tầng ôn tồn thanh minh và xin lỗi, lại yêu cầu hết sức thông cảm về mặt tổ chức. Chúng tôi biết rõ lời thanh minh của ông ta chỉ là một sự dối trá, xin lỗi là vờ vịt và về sự thông cảm thì chúng tôi đã nói thẳng với ông ta rằng : - Chúng tôi biết các anh đã mời cả những người không hề nghiên cứu Việt Nam, thậm chí đã mời cả những người không hề có tham luận hoặc báo cáo khoa học. Anh yêu cầu thông cảm, chúng tôi thông cảm, nhưng sau này mong anh cũng thông cảm với chúng tôi kjhi chúng tôi phê phán các anh. Chúng tôi cũng điện cho anh Quý. Trong cuộc điện đàm, cũng như anh Tầng, anh Quý cũng yêu cầu chúng tôi thông cảm. Chúng tôi thẳng thắn chỉ ra cho anh Quý thấy rằng : việc anh Tầng không mời chúng tôi dự Hội thảo khoa học là sai. Việc anh Trần Trọng Đăng Đàn không chấp hành lệnh đăng bài phê bình hội thảo Việt Nhật đã làm liên lụy đến anh. Bây giờ anh Tầng không mời chúng tôi họp lại làm liên lụy đến anh. Đáng lẽ với tư cách ủy viên Trung ương và giám đốc Trung tâm quốc gia, anh phải chỉ thị cho anh Tầng mời chúng tôi và những nhà khoa học nào thực sự nghiên cứu về Việt Nam đến họp cuộc hội thảo này. Anh không làm được và yêu cầu thông cảm. Chúng tôi sẵn ssàng thông cảm nhưng khi chúng tôi phê phán các anh trước công luận, mong các anh cũng vui lòng thông cảm. Được giao tổ chức hội nghị khoa học mà lại không biết mời những người làm khoa học thực sự đến họp, mời các nhà khoa học đến họp rồi lại bảo nhau đừng mời họ phát biểu; sai như thế mà còn lấy làm đắc chí, thật là kỳ quái ! Cái hội thảo bàn về văn hóa dân tộc do tiến sĩ Mai Quốc Liên chủ trì trong tháng 12 vừa qua thật là đạt đến đỉnh của sự kỳ quái. Ông Mai Quốc Liên mời tới hơn 100 đại biểu gồm cả Bắc Trung Nam, lại có cả đại biểu Việt kiều ở Nhật, ở Pháp về, đại diện đủ các ngành nghề : thơ, ca, họa, nhạc rồi lại đủ cả sử học, văn học, dân tộc học, lý luận, biểu diễn, báo chí, xuất bản, văn hóa quần chúng, ... nghĩa là có đủ hết mọi ngành, mọi giới, mọi loại tham luận. Đại biểu nào cũng đi sâu vào ngành nghề của đại biểu ấy. Trên diễn đàn cứ đọc, dưới các hàng ghế đại biểu cứ chuyện trò hàn huyên thoải mái. Cũng không thể trách các đại biểu không chú ý lắng nghe những vấn đề không thuộc đặc thù của ngành mình. Thế mà sau hội thảo, báo Tuổi trẻ vá báo Công an có đăng bài phê bình thì ông Mai Quốc Liên đã không tiếp thu để rút kinh nghiệm lại còn tự ái viết bài thanh minh. Báo Tuổi trẻ thì đưa dẫn chứng lời nói của gs. Nguyễn Văn Thọ - Việt kiều ở Nhật về họp :"Suốt hai ngày chỉ có hội chứ không có thảo". Còn ông Mai Quốc Liên thì lại dẫn lời nhận xét của nhà văn Nguyễn Đình Thi : "Hội thảo đã thành công tốt đẹp". Thì ở ta có hội nghị nào mà lại không thành công tốt đẹp hoặc thành công rực rỡ. Nhưng ông Mai Quốc Liên và những người tổ chức hội thảo "bản sắc văn hóa dân tộc trong văn hóa nghệ thuật" không biết rằng riêng cái tên gọi đó đã là phi hội thảo rồi. Giả thiết nếu cần tổ chức một hội thảo loại này thì chỉ có Ban Tư tưởng - Văn hóa trung ương hoặc Hội đồng lý luận trung ương mới tạm gọi là có đủ tư cách đứng ra tổ chức. Mà có muốn tổ chức cũng phải gửi đề cương trước hàng năm cho vài chục nhà lý luận đầu ngành nghiên cứu thật kỹ mới đến thảo luận với nhau được. Mà người đứng chủ trì hội nghị phải thuộc loại uyên bác và thật cứng về lý luận mời đảm đương nổi. Cho đến nay, sau nghị quyết V (khóa VIII) vẫn chưa có một cá nhân hoặc cơ quan ở cấp trung ương dám có ý định tổ chức một hội thảo kiểu này. Còn Trung tâm Quốc học và ngay bản thân ông Mai Quốc Liên cũng chưa xác định được bản sắc văn hóa của ngành mình là như thế nào mà dám tổ chức một hội thảo xô bồ kiểu đó thì thật là to gan lớn mật. Cũng như nhiều người trong giới nghiên cứu, chúng tôi chờ đợi kỷ yếu của cuộc hội thảo này và bài tổng kết của ông Mai Quốc Liên. Nội dung và kết quả hội thảo thì chắc chắn ít bổ ích rồi. Nhưng điều mà mọi người quan tâm là sự tốn kém của nó. Nghe nói ông Mai Quốc Liên đã khéo léo đi xin được tới hàng trăm triệu mà riêng công việc tổ chức hội thảo đã mất tới 80 triệu. Lời Bác Hồ dạy đến nay quả vẫn còn đúng : Lãng phí là một hiện tượng nguy hiểm chẳng kém gì tham ô. Thiết tưởng các nhà nghiên cứu có luận điểm nào mới mẻ về vấn đề bản sắc dân tộc cứ việc viết bài, gửi đăng báo hoặc tạp chí rồi thảo luận và tranh luận với nhau, cần chi tụ tập hàng trăm người để phát sinh tốn kém, lãng phí. Mỗi đại biểu từ Hà Nội vào cả tiền vé bay đi bay về lẫn tiền ăn ở khách sạn, bỏ rẻ cũng hết ba triệu đồng. Ba triệu so với hàng trăm, hàng ngàn tỷ bị mất cắp quả thật không đáng gì. Nhưng chỉ cần ba triệu đó thôi là một gia đình nông dân có thể xóa đói, thậm chí có thể thoát được cả cảnh nghèo đấy, ông Mai Quốc Liên ạ ! Cần phải hình dung ra cái cảnh nông dân phải đề nghị sướt trán mới vay được 300.000đ hoặc 500.000đ mới thấy cảnh nhiều gia đình nông dân ở nhiều vùng còn thê thảm biết chừng nào. Chẳng lẽ các vị cứ vung tay quá trán hằng trăm triệu, hàng ngàn triệu lại không hề có chút động tâm nào chăng ? Lại nhớ đến Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ nhất năm 1998, hãng Ford Foundation tài trợ cho 200.000 đô la (khoảng hơn 2.000 triệu đồng VN), nhà nước lại cho thêm khoảng ngót 1.000 triệu nữa. Tiêu hẳn ba tỷ bạc mà mấy tập kỷ yếu cũng không in nổi. Ngoài 270 đại biểu trong nước, nhân dân chẳng biết hội thảo bàn bạc những vấn đề gì, các thế hệ con cháu đến sau lại càng mù tịt. Chẳng lẽ những người tổ chức hội thảo vào loại có tầm cỡ như các ông Lê Hữu Tầng (TTKHXH và NVQG) và Phan Huy Lê (Trường Đại học quốc gia VN) lại không hiểu tầm quan trọng của những tập kỷ yếu đối với công tác nghiên cứu khoa học ? Chúng tôi đã từng nói : tổ chức hội thảo khoa học mà không biết hoặc không chịu in kỷ yếu thì coi như chưa tổ chức hội thảo. Có lẽ đã đến lúc cần tổ chức một hội thảo bàn về chủ đề : "nên tổ chức hội thảo khoa học như thế nào để có hiệu quả thiết thực với một Việt Nam nghèo nàn và lạc hậu ?". Trong phạm vi khoa học xã hội, có lẻ ta cũng nên tổ chức thống kê xem trong khoảng 25 năm qua chúng ta đã tổ chức tất cả bao nhiêu hội thảo ở Trung ương cũng như ở các địa phương, tiêu tốn hết bao nhiêu ngàn tỷ đồng và hiệu quả thực tế ra sao ? (cũng nên thống kê cả các hội nghị và đại hội của Đảng, chính quyền, đoàn thể của tất cả các ngành các cấp theo hướng đó. Con số chắc không nhỏ đâu.). Có thể những con số cụ thể thì ta chưa biết nhưng điều biết chắc chắn mà ai cũng có thể hình dung ra được : cho đến năm 2000 mà đất nước vẫn ở trong tình trạng trì trệ, tụt hậu và thua kém thiên hạ một cách đang hổ thẹn như thế này thì hẳn tác dụng thúc đẩy của các hội thảo khoa học cũng chẳng đáng là bao. Giới quản lý khoa học không thể trốn tránh trách nhiệm và giới lãnh đạo quản lý cũng không thể nói rằng không chịu trách nhiệm gì. Có lẽ nếu không có một hội thảo khoa học xã hội nào thì tình hình xã hội cũng chẳng vì thế mà kém hơn hoặc xấu hơn. Công bằng mà nói, không phải không có một số rất ít hội thảo có ý nghĩa khoa học và tích cực thực sự, nhưng nó lại không được giới quản lý chính quyền vận dụng vào thực tiễn. (Điển hình là ba hội thảo của Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm TPHCM : Hội thảo 1 - Nguyễn Bỉnh Khiêm với lịch sử văn hóa dân tộc, hội thảo 2 - Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tân đất nước, hội thảo 3 - "Tuệ Trung thượng sỹ với Thiền tông Việt Nam năm 1991-1992. Cả ba hội thảo này tuy bàn về các danh nhân văn hóa khác nhau nhưng đều có chung một chủ đề là phục vụ cho sự nghiệp đổi mới đất nước và bảo vệ, phát huy tinh hoa của truyền thống dân tộc. Đây không phải là chuyện "gà đẻ gà cục tác" hoặc "mèo khen mèo dài đuôi" mà thực sự ba hội thảo này kèm theo ba kỷ yếu đã được đa số học giả trong nước cũng như nhiều học giả ở nước ngoài đánh giá cao. Để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, ba tập kỷ yếu đều đã phải in lại lần thứ hai. Riêng kỷ yếu Tuệ Trung thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam phải in lần thứ ba. Và chắc chắn ba tập kỷ yếu này cùng với tập kỷ yếu 5 năm Hán Nôm (500 trang in năm 1995) sẽ còn tiếp tục phải in lại vì các bài tham luận của các tác giả trong nước và nước ngoài thực sự là những tác phẩm có giá trị. Nhân đây chúng tôi cũng nhắc lại một vài chi tiết đáng ghi nhớ : Hồi còn làm Viện trưởng Viện KHXH tại TP Hồ Chí Minh, ông giáo sư Mạc Đường đã tìm nhiều cách để ngăn cản việc tổ chức các hội thảo này nhưng không nổi. Có lúc ông đã phải kêu lên :: "Hội thảo gì mà lắm thế !" và ông trích quỹ cấp kinh phí một cách rất keo kiệt. Chúng tôi đành phải đi quyên góp các nhà hảo tâm để có đủ tiền tổ chức hội thảo và in kỷ yếu. Riêng các loại hội thảo Gia Long và Việt Nhật thì ông ủng hộ hết mình. Ông Viện trưởng kế tiếp là Nguyễn Thế Nghĩa, trong cả hai dịp kỷ niệm : đón nhận huân chương hạng ba (1999) và tổng kết 25 năm thành lập Viện (2000) cũng không một lời nhắc đến, không coi những việc làm có ý nghĩa này của Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm là thành tích của Viện. Đáng phàn nàn hơn cả là cả hai tạp chí chuyên ngành "Tạp chí nghiên cứu Hán Nôm do ông Trần Nghĩa làm tổng biên tập và Tạp chí KHXH của Viện do ông Trần Trọng Đăng Đàn làm tổng biên tập suốt 5 năm liền (1991-1995) không có một dòng nào giới thiệu Hội thảo cũng như kỷ yếu. Hai ông này đều nhận được sách biếu và riêng ông Đàn thì lần nào cũng được mời họp hội thảo nhưng cả hai ông đều coi như trên đời không có những hội thảo và kỷ yếu này. Nhưng đáng trách nhất là ông Nguyễn Duy Quý, tất cả những việc làm sai trái của những người dưới quyền ông, ông đều biết cả nhưng ông cứ làm lơ coi như mình không có trách nhiệm gì. Ngược lại do mạng nặng tinh thần thực dụng, họ vận dụng rất nhanh những kết luận tiêu cực phi khoa học khiến cho tình hình xã hội thêm ngưng trệ và thoái hóa. Cũng mong giới nghiên cứu khoa học xã hội của ta đứng trước mọi tệ nạn xã hội đang phát triển hiện nay, với lòng tự trọng, chớ nói rằng mình không có trách nhiệm gì. Trong tạp chí Triết học số 1 năm 2001 vừa qua, giáo sư Vũ Khiêu có viết một bài bàn thêm về Nguyễn Bỉnh Khiêm, giáo sư đã dùng những luận điểm chủ yếu của hội thảo này trong bài viết của mình nhưng đáng tiếc ông đã không ghi rõ xuất xứ. Đây là một việc làm không minh bạch trong khoa học mà gs Vũ Khiêu không phải là người duy nhất vi phạm. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một chuyên đề riêng. Trước khi sang vấn đề khác, chúng tôi cũng lưu ý bạn đọc nhớ đến một câu nói rất đúng và rất hay của một nhân vật trong phim Chiến quốc của Trung Quốc : "ở đời, có những con người không chịu đựng nổi cái đẹp !". Vận vào những ông giáo sư, tiến sĩ này mới thấy đúng làm sao. Chỉ cần nhắc đến cái tốt, cái đẹp, các ông cũng đã cảm thấy khó chịu. Như Nguyễn Du nói : "Ghen tuông thì cũng người ta thường tình", nhưng ghen đến mức muốn hủy diệt cái đẹp thì thật nguy hiểm. Vì "Cái đẹp sẽ cứu nhân loại" (Đốttôiepski). Do đó, hủy diệt cái đẹp cũng là một cách tự hủy diệt. 3. Chủ Nghĩa Xã Hội Dân Tộc Hay Quốc Tế ? Đã qua một thời, CNXH được coi là một vẻ đẹp mới của nhân loại và đã thành hiện thực ở cả một phe 12 nước, đứng đầu là Liên Xô vĩ đại. Hai hội nghị 81 đảng và 12 đảng họp ở Matxcơva đã khẳng định toàn thế giới đang sống trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và phe XHCN trở thành nhân tố chính, động lực chủ yếu quyết định sự phát triển của nhân loại. Nghe thấy đúng và trông thì thấy mê. Vì cái phần nhân loại bị áp bức đau khổ nghe thấy chuyện giải phóng, công bằng, xóa mọi áp bức bất công, có ai lại không mê : Nước Nga có chuyện lạ đời Đem người nô lệ thành người tự do (Nguyễn ái Quốc) Mà hiện thực của nước Nga Xô Viết và sau này là siêu cường Liên bang Xô Viết thì đáng mê thật. Chiến công thắng phát xít, kỳ công bay vào vũ trụ (đưa vệ tinh và con người đầu tiên vào vũ trụ) rồi bom nguyên tử, bom khinh khí, tên lửa vượt đại châu, tàu ngầm nguyên tử phá băng, nhà máy điện nguyên tử, công trình thủy điện Volga, ... đều đứng vào hàng đầu thế giới. Tất cả những thành tích đó đều được qui công cho CNXH. Bên cạnh những thành tích có thật của Liên Xô và các nước trong phe còn là những điều tô vẽ thêm của bộ máy truyền thông của ta về những điều bóp méo xuyên tạc của đối phương nhưng dù tô hồng hay bôi đen thì những điều tốt đẹp của CNXH vẫn là có thật và đủ làm say mê những nước thuộc thế giới thứ ba (Angola, Etiopie, Mianma, ... đều tuyên bố đi theo CNXH). Cả những nước tư bản phát triển như Thụy Điển, Phần Lan, ... cũng đi tìm một mô hình CNXH thích hợp để xây dựng. Có lẽ do những thành công vang dội và nhìn trào lưu XHCN đang hấp dẫn và lôi cuốn nhân loại nên những người lãnh đạo của phe ta có lúc bị ngây ngất choáng váng không còn đủ bình tĩnh và tinh tường để nhận biết những khuyết tật của CNXH Xô Viết. Chỉ đến khi Liên Xô vĩ đại đột nhiên sụp đổ và tan rã người ta mới kinh hoàng và thấy cần duyệt lại mọi nhận thức về CNXH. Phía thiếu thiện ý thì muốn xổ toẹt tất cả. Phía thiện ý nhưng mang di căn giáo điều quá nặng thì ra sức lý giải, biện bạch, cắt nghĩa bằng những lý lẽ vu vơ, không dám nhìn vào thực chất của vấn đề. Chỉ những ai trung thực với chân lý, với cuộc sống mới có thể nhìn nhận và đánh giá mọi sự vật, mọi hiện tượng một cách khách quan, khoa học. Chúng tôi không tán thành với những ai nói và viết rằng sự sụp đổ và tan rã của Liên Xô và các nước Đông Ấu vừa qua chỉ là bước thoái trào tạm thời của chủ nghĩa xã hội. Thực ra do lý luận sai lầm của Stalin và những người đi theo ông đã xây dựng một thứ CNXH không đúng qui luật và cũng không hợp với nguyên vọng của nhân dân. Cần nhắc lại rằng sự sụp đổ này không thể chỉ cắt nghĩa bằng nguyên nhân phản bội của một vài cá nhân hoặc sự "diễn biến hòa bình" của những lực lượng thù địch. Chúng tôi đã nêu trong văn bản "Chỉnh đốn để tồn tại và phát triển", một lần nữa lại khẳng định rằng : quá trình chống lại qui luật, quá trình chống lại trí tuệ và bệnh "kiêu ngạo cộng sản" là ba nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự sụp đổ chế độ XHCN. Đây là một sự mai táng vĩnh viễn đối với chế độ XHCN Stalin, một thực thể chính trị - kinh tế - xã hội phi qui luật và phi nhân đạo. Cũng nên tỉnh táo và phân biệt cho rõ chế độ XHCN đã thành hiện thực của Stalin và chế độ XHCN mới ở trên bình diện lý thuyết của Mác. Một lần nữa lại xin được phép thẳng thắn chất vấn Ban soạn thảo văn kiện Đại hội IX : - Các đ/c vạch mục tiêu chiến lược cho toàn Dân, toàn Đảng ta đi lên CNXH thì đó là CNXH nào ? CNXH lý thuyết của Mác ư ? Còn lâu mới đến lượt Việt Nam chúng ta. Ngay Trung Quốc làm ăn khá như thế mà đ/c Đặng Tiểu Bình còn phải phán rằng phải cần 100 năm nữa. Vậy, Việt Nam ta định "đốt cháy giai đoạn" cho nó ngót 100 năm chăng ? - CNXH Stalin ư ? Chúng ta đã làm thử rồi. Đại hội VI (1986) đã khẳng định đường lối XHCN Stalin do Đại hội IV đề ra và Đại hội V nối tiếp là sai lầm. Và nhờ đường lối đổi mới kịp thời của Đại hội VI nên ta đã tránh được sụp đổ để có thể tồn tại và phát triển. Chúng tôi vẫn khẳng định rằng Việt Nam ta chỉ có thể tiến hành xây dựng CNXH Hồ Chí Minh mới thích hợp với trình độ phát triển của ta hiện nay. Rất tiếc, không có ai trong giới lý luận mặn mà thảo luận. Chỉ riêng có giáo sư Nguyễn Duy Quý - một thành viên của đoàn đại biểu lý luận khoa học xã hội Việt Nam đã qua hai lần thảo luận với đoàn đại biểu lý luận Trung Quốc về CNXH ở thế kỷ XXI, phản đối bâng quơ : "Tất nhiên không thể vì thế mà có thể chấp nhận lý luận "chủ nghĩa xã hội dân tộc", khép kín và đóng kín sự phát triển CNXH chỉ trong phạm vi một quốc gia - dân tộc như một "ốc đảo", tách khỏi sự giao lưu hợp tác quốc tế với nhau và giữa các nước XHCN với cộng đồng thế giới". (Tạp chí Cộng sản số 24 tháng 12-2000, trang 7). Xin hỏi đ/c Nguyễn Duy Quý : - Cái mà Trung Quốc gọi là "CNXH mang đặc sắc Trung Quốc", nếu không phải là CNXH dân tộc thì nó thuộc loại CNXH nào ? Nếu đ/c không đồng ý xây dựng CNXH dân tộc ở những nước chậm phát triển như Trung Quốc và ta, nhất là với Bắc Triều Tiên và Cu-ba thì đ/c định xây dựng CNXH nào ? Vấn đề có vẻ đơn giản nhưng lại cực kỳ nghiêm trọng vì chính ở đây mới đúng là "sai một ly đi một dặm". Chẳng phải vì xác định đường lối XHCN một cách sai lầm mà từ sau Đại hội III (1960) đến nay, nền kinh tế của chúng ta cứ lao đao, chệnh choạng, trì trệ đó sao ? Chúng tôi xin nhắc lại : nếu nói chúng ta phải theo chủ nghĩa Mác-Lênin thì cũng nên hiểu theo tinh thần Hồ Chí Minh là chúng ta tiếp nhận phép biện chứng mácxít chứ không phải theo từng câu từng chữ trong các văn bản của Mác và Lênin. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản hay thật đấy nhưng chúng tôi đã chứng minh rằng có nhiều dòng, nhiều ý, nhiều câu chữ hoàn toàn không thích hợp với Việt Nam, không thể vận dụng được, dù là "vận dụng sáng tạo". Thí dụ như các vấn đề thực hiện "chuyên chính vô sản", "xóa bỏ quyền tư hữu", v.v. . . Những đồng chí chủ trương đưa Điều 6 của Hiến pháp Liên Xô thành Điều 4 của Hiến pháp Việt Nam, những đồng chí kiên trì giữ lại Điều 4 hiện nay và kiên trì giữ lại các xí nghiệp quốc doanh để bù lỗ, kiên trì cho báo chí quốc doanh giữ độc quyền ngôn luận, kiên trì tiêu diệt những ai có ý kiến "đa nguyên", "đa đảng", ... chính là do ngấm quá sâu các luận điểm trên của Tuyên ngôn. Nếu chịu bỏ công khảo sát thực tiễn Việt Nam một cách thực sự khoa học thì ta sẽ nhận thấy việc vận dụng cứng nhắc những "giáo điều" của Mác, Enghen và Lênin đã đưa đến những hệ quả hết sức tai hại. Ví như mới nhìn tình hình các cấp ủy Đảng và các cấp chính quyền tùy tiện chiếm đất, tùy tiện cấp đất, tùy tiện giải tỏa, tùy tiện định giá đền bù ... (cũng như trước đây tùy tiện tịch thu nhà cửa đất đai và cho đến nay đã thấy sai vẫn không trả lại), người ta lại tưởng đó chỉ là vấn đề thoái hóa đạo đức của cán bộ và đảng viên. Do đó mới có những người kê đơn "tu thân", "chống chủ nghĩa cá nhân", ... Không phải ! Ta kết nạp toàn những người ưu tú vào Đảng, sao lại có thể có tình hình đảng viên thoái hóa biến chất nhanh đến như thế, phổ biến đến như thế ? Nói "một bộ phận" là không đúng. Sửa lại thành "một bộ phận không nhỏ" thì chẳng qua cũng chỉ là một cách nói. Kỷ luật hay xét xử tất cả cũng không được, vì hàng triệu đảng viên đang làm sai một cách rất đúng, đúng với luật đất đai mà Quốc hội đã thông qua. Do đó, phải sửa cái gốc là luật. Mà luật sai lại bắt nguồn từ luận điểm "xóa quyền tư hữu" nằm ngay trong Tuyên ngôn. Cho nên cái gốc của cái gốc là cái phần nhận thức lý luận của chúng ta. Nhận thức sai, lý luận sai làm sao có thể hành động đúng. Chúng tôi phản đối các đ/c giáo điều lúc nào cũng bênh chầm chập Mác, vin vào Mác mà làm sai. Và chúng tôi cũng phản đối cả những người, những lực lượng nào cứ căn cứ vào cái thực tiễn làm sai để chê bai Mác, phủ định Mác. Những dự báo của Mác, công bằng mà nói là rất đẹp. Còn đúng hay không, đợi các cuộc cách mạng ở các nước G7 trả lời. Quyền trả lời này chưa đến phần chúng ta. Trong ba buổi tọa đàm với tiến sĩ Hà Sĩ Phu và một số nhân sĩ ở Đà Lạt, chúng tôi cũng đã tranh luận khá thẳng thắn và gay gắt về những điểm này. Thực tình, chúng tôi không dám khuyên bảo ai, mà có khuyên bảo cũng chẳng được. Chúng tôi chỉ xin lưu ý nhắc nhở : những đ/c "giáo điều" thì nên vui lòng khảo sát kỹ hơn nữa thực tiễn của Việt Nam ta mà soạn thảo luật lệ, nghị quyết, văn kiện, v.v. ; còn những đ/c "xét lại" thì nên vui lòng bỏ thì giờ vàng ngọc đọc lại một quyển thôi "Marx, nhà tư tưởng của cái có thể", nếu rỗi rãi có thể đọc thêm "Marx, người vượt thời đại". Cả hai tác giả đều là học giả tư sản. Và trân trọng kiến nghị Đảng và Nhà Nước ta giữ vai trò chủ đạo và điều tiết xã hội, hãy tổ chức các diễn đàn để cho cả hai bên "giáo điều" và "xét lại" tự do tranh luận, miễn mọi sự theo dõi, trù dập, cách ly, bỏ tù nhau một cách vô lối và vi phạm pháp luật. Xét cho cùng, việc CNXH thất bại trong keo vật vừa qua không phải do CNTB thắng mà do CNXH tự thua. Phải phân tích cho kỹ vì sao lại có chuyện tự thua ấy để không tiếp tục thua nữa. Thực tế lịch sử đã xác nhận CNXH đã từng có thời kỳ tỏ ra có sức sống, khỏe khoắn hào hùng, nhưng thời kỳ đó đã qua rồi. Không nên ngoái cổ luyến tiếc và sống bằng hoài niệm. Người cách mạng phải có gan nhìn thẳng vào thực tại và giải quyết có hiệu quả những vấn đề của hiện tại. Cộng hòa Cuba một thời gian dài không chịu chấp nhận kinh tế thị trường nên hết sức lúng túng. Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, cho đến năm 2000 vẫn chưa biết cách thoát ra bằng lối nào. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tỏ ra khôn ngoan hơn : tuyên bố xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc, làm kinh tế thị trường XHCN. Thực chất họ đang làm kinh tế TBCN. Làm kinh tế TBCN mà không thi hành luật pháp cho nghiêm, không có dân chủ lại sợ tự do ngôn luận, sợ đa nguyên, đa đảng ... thì tham nhũng nảy nở sinh sôi là điều hiển nhiên và tất yếu. Dù có bắn bỏ phó chủ tịch quốc hội, cách chức hàng loạt bí thư tỉnh ủy hoặc ủy viên trung ương cũng chẳng thể ngăn chặn được. Thay thủ tướng Lý Bằng bằng thủ tướng Chu Dung Cơ đầy mưu lược cũng chẳng giải quyết được tình hình thua lỗ của các xí nghiệp quốc doanh, không cách nào triệt được nòi tham nhũng. Có nhiều người cứ kêu tại sao ta lại giống Tàu thế ? - Thì cũng cùng một khuôn mẫu CNXH, cùng một cơ chế như nhau. Chẳng qua họ tiến nhanh hơn là do họ khôn hơn. Họ lẳng lặng từ bỏ CNXH Stalin. Họ bỏ từ từ, ta cũng bỏ từ từ. Nhưng cái tốc độ từ từ của họ nhanh hơn ta nhiều. Riêng cái chuyện họ không nhắc đến chủ nghĩa Lênin, tuyên bố một nước Trung Hoa hai chế độ, lại bàn nhau giúp các lãnh đạo bô lão lui về tuyến 2 ... Thế là khôn quá đi chứ ! Thế là "đặc sắc" Trung Quốc. Thế là "CNXH mang đặc sắc Trung Quốc". Chúng tôi cũng chẳng hiểu giáo sư viện sĩ Nguyễn Duy Quý dựa trên cơ sở nào để phản đối "chủ nghĩa xã hội dân tộc". Chúng tôi đưa ra chủ nghĩa xã hội dân tộc Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội Việt Nam, đ/c Quý lại khủng khỉnh, vờ vịt coi như không trông thấy, không nghe thấy. Cả Ban soạn thảo văn kiện Đại hội IX cũng đánh bài phớt lờ. Xin phép hỏi thêm một lần nữa : cái CNXH mà các đ/c kiên quyết khẳng định, kiên trì dẫn dắt chúng tôi đi theo, nó là thứ CNXH nào vậy ? Riêng bài của giáo sư Lê Hữu Tầng, phó giám đốc TTKHXH và nhân văn quốc gia đăng trên Tạp chí Triết học số 4, tháng 8-2000, chúng tôi mạn phép không bàn tới vì đó chẳng qua chỉ là thứ lý luận tư biện, sao đi chép lại, trích dẫn đủ các thứ "kinh điển" không có quan hệ gì đến thực tiễn Việt Nam cả. Điều đáng chú ý, đ/c Tầng đã tỏ ra lúng túng trước sự thiếu nhất quán trong việc nêu những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản của Mác: "Nhưng còn cái xã hội tương lai ây sẽ được cấu tạo cụ thể như thế nào thì về vấn đề này C. Mác và Ph. ¡ngghen chỉ đưa ra những phác họa dưới dạng các tiên đoán, dưới dạng cái sẽ xảy ra chứ không phải dưới dạng cái dứt khoát sẽ xảy ra. Hơn thế nữa, số lượng và nội dung của các đặc trưng ấy cũng được C.Mac và Ph. ¡ngghen nêu lên trong các tác phẩm khác nhau của mình một cách khác nhau, khi có cái này, khi có cái kia và đều được nói chung cho xã hội cộng sản tương lai." Và toàn bài, đ/c Tầng cũng không dám đề xuất một vấn đề nào của thực tiễn Việt Nam nóng bỏng hiện nay để giải quyết dứt điểm về mặt lý luận. Đ/ c không cảm thấy vấn đề dân cxhủ là bức xúc với xã hội ta hiện nay nên vẫn dừng lại với sự thiếu hụt của Đaị hội VII: " chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh". Dù đ/c Tầng có không hài lòng, chúng tôi cũng xin nói thẳng: nghiên cứu triết học theo lề lối như thế là vô bổ, thậm chí còn hết sức có hại. Lâu nay, lối nghiên cứu triết học và lý luận như thế này đã đưa đến một sự ngộ nhận nguy hiểm. Hiện nay rất nhiều người cứ tưởng nhầm rằng ai thạo sao chép, thạo trích dẫn là đang làm công tác nghiên cứu lý luận, nghiên cứu triết học. Trân trọng kiến nghị các bậc đàn anh đã từng nổi tiếng và có uy tín về kiểu nghiên cứu này hãy can đảm tự phê bình, và cao hơn là biết sám hối để cho các lớp nghiên cứu đàn em tránh được vết xe đổ. Như chúng tôi đã từ trình bày trong hai tác phẩm trước (Chỉnh đốn để tồn tại và phát triển, Đối thoại năm 2000) rằng CNXH mà Mác quan niệm rất khác với CNXH mà Lênin quan niệm sau này. CNXH lý thuyết của Mác chỉ có thể thành công ở thời kỳ hậu tư bản, nghĩa là cách mạng XHCN chỉ có thể thành công ở những nước tư bản phát triển nhất, thậm chí chỉ thành công ở thời kỳ toàn bộ hành tinh đã làm xong CNTB. Còn CNXH thực tiễn của Lê nin là CNXH có thể thành công ở một nước phát triển TBCN trung bình như nước Nga. Lênin chủ trương đánh vào mắt xích yếu nhất trong dây xích TBCN. Như thế là Lênin nhận định hoàn toàn khác với Mác và ông đã hành động sai với chủ trương của Mác. Ông sai với lý luận Mác nhưng lại đúng với thực tiễn Nga nên mới tạo ra một cách mạng tháng Mười vĩ đại đến như thế. Nhưng sau khi chiến thắng liên quân 14 nước và thắng bọn Bạch vệ trong cuộc nội chiến, ông cũng lúng túng không biết đưa nước Nga tiến lên như thế nào. Chính sách cộng sản thời chiến thì lỗi thời không dùng được nữa. Còn chính sách cộng sản thời bình thì ông chưa hình dung ra sao. Do đó, ông rất mừng khi đọc đề án Chính sách kinh tế mới của Trotsky, một ủy viên trung ương thân cận với ông, và ông yêu cầu Trotsky hãy dũng cảm bảo vệ "chính sách kinh tế mới" trước Ban chấp hành Đảng cộng sản Nga. Điều không may mắn cho cách mạng XNCH Nga là Lênin mất và "chính sách kinh tế mới" của Trotsky bị Stalin xổ toẹt. Vì vậy, chúng tôi vẫn tiếp tục khẳng định rằng mọi chuyện tan rã sụp đổ của hệ thống XHCN là bắt nguồn từ Stalin, từ những lý luận sai lầm của Stalin thể hiệu trong cuốn Những vấn đề kinh tế của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Lý luận về CNXH của Stalin thực thi ở Liên Xô còn hỏng thì toàn bộ hệ thống XHCN làm theo lý luận đó mà đều hỏng thì có gì là lạ. Nhưng vì xuất phát từ lòng kính trọng Stalin về những công lao của ông nên giới lý luận ở ta cũng như ở nhiều nước chỉ dám nói : đây là mô hình CNXH Xô Viết có những khuyết tật chứ không dám nói rằng mô hình này sai vì do lý luận của Stalin sai. Một điều hết sức khó khăn là : Stalin sai là sai với Lênin nhưng lại hoàn toàn đúng với Mác. Do đó, chúng tôi mới nói là ông đã sai một cách rất đúng. Nhưng một nghịch lý không thể giải quyết được và cũng khó nhận thức ra là Stalin càng làm đúng thì lại càng sai. Nghĩa là ông càng đúng với lý luận Mác bao nhiêu thì ông càng sai với thực tiễn Nga và thực tiễn thế giới. Chắc chắn nhiều người sẽ phản đối khi chúng tôi kết luận rằng: khi Stalin không đếm xỉa đến thực tiễn Nga, phủ nhận những chính sách đúng đắn của Lênin thì Stalin không phải chỉ chống Lênin mà đồng thời chống cả Mác. Vì linh hồn của chủ nghĩa Mác chính là phép biện chứng mácxít. Việt Nam ta đã từng là thành viên của phe XHCN, từng vui buồn sướng khổ có nhau. Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Ấu là một tai họa chung. Vấn đề riêng của chúng ta là từ đó cần phải rút ra những bài học kinh nghiệm gì. Không thể khơi khơi nói rằng Liên Xô tan rã nhưng CNXH vẫn còn nguyên giá trị hoặc chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn là vô địch, v.v. CNXH còn nguyên giá trị là CNXH nào? Chủ nghĩa Mác-Lênin vô địch ở chỗ nào và vô địch với ai ? Dùng những sáo ngữ này chứng tỏ người nói chẳng hiểu biết gì cả, nói lấy được, chẳng giúp ích gì cho việc rút kinh nghiệm của chúng ta. Một trong những người ca ngợi CNXH rất mực sách vở là giáo sư viện sĩ Nguyễn Duy Quý. Đọc kỹ bài của ông (Tạp chí Cộng sản số 24, tháng 12-2000) mới thấy ông hết lòng và thật lòng ca ngợi CNXH của Mác. Nghĩa là một CNXH còn nằm trên lý thuyết, chưa thực thiện thành công ở đâu cả. Xin thưa với ông Nguyễn Duy Quý : giỏi giang về lý thuyết và thực hành hơn ta nhiều, thế mà Trung Quốc, theo ông Đặng Tiểu Bình cũng phải 100 năm nữa đấy ạ ! Còn lý luận và thực hành theo kiểu của ta thì chắc chắn không thể ngắn hơn. Hay là ông Quý có phép màu "đốt cháy giai đoạn" chăng ??? Vừa qua, theo dõi hai hội thảo quốc tế Việt Trung bàn về vấn đề xây dựng CNXH ở thế kỷ XXI, chúng tôi rất đỗi ngạc nhiên khi thấy cả hai đ/c Trưởng đoàn (Nguyễn Đức Bình - Việt Nam, Lý Thiết ánh - Trung Quốc) và các thành viên của hai đoàn chẳng giúp cho chúng tôi hiểu cụ thể CNXH là thế nào và sẽ xây dựng trong thế kỷ XXI ra sao. Chúng tôi chỉ thấy các đ/c cộng sản Trung Quốc "khôn ngoan" hơn các đ/c cộng sản Việt Nam. Cùng một điều kiên quyết xây dựng thắng lợi CNXH, cùng là ủy viên Bộ Chính trị, phụ trách lý luận của Đảng nhưng đ/c Lý Thiết ánh chỉ dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác, lờ tịt chủ nghĩa Lênin, còn đ/c Nguyễn Đức Bình của ta thì vẫn nguyên vẹn dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, nghĩa là đ/c Nguyễn Đức Bình chẳng quan tâm đến sự nhầm lẫn của đ/c Stalin trong việc đánh dấu nối vào giữa CN Mác và CN Lênin vào đầu thập niên 30. Trong tác phẩm "Đối thoại năm 2000", chúng tôi đã phân tích về sự nhầm lẫn này : ai thực hiện đúng Mác thì chống lại Lênin; còn ai thực hiện đúng Lênin thì thực chất là chống lại Mác. Cho nên chuyện trung thành với CN Mác-Lênin chẳng khác gì chuyện bán dáo và bán mộc của người nước Tề thời Chiến Quốc. Đ/c Stalin đáng lẽ phải xuất phát từ thực tiễn Nga mà thực hành chính sách kinh tế mới (NEP) do Lênin chủ trương trong khoảng dăm bảy chục năm gì đó, nhưng đ/c đã thẳng tay xóa bỏ NEP, một mực trung thành với Mác, theo đúng từng câu từng chữ của "Tuyên ngôn của đảng cộng sản" mà tức khắc "xóa bỏ quyền tư hữu" và một hậu quả tất yếu là đ/c Stalin và những người tiếp theo đ/c đã xóa bỏ luôn Liên bang Xô Viết, nghĩa là xóa bỏ CNXH thực tiễn Nga của Lênin. Cho nên các đ/c cộng sản Trung Quốc không theo chủ nghĩa Lênin nữa không phải là không có lý. Vì đó chẳng qua là sản phẩm của thực tiễn xã hội Nga chứ không phải thực tiễn xã hội Trung Quốc, càng không phải là thực tiễn xã hội Việt Nam ta. Mà đất nước Nga chính là nơi đã đẻ ra CN Lênin mà người ta còn không theo thì Trung Quốc với Việt Nam theo sao được. Chúng tôi ngờ rằng những ai đang hò hét là phải trung thành với CN Lênin thì tâm địa cũng chẳng khác những ai hò hét phải phục hồi Khổng giáo. Thôi thì Mác hay Lênin, cũng như Khổng, Phật, Lão, Giêsu, ... ,ai có cái gì hay thì mình phải học hỏi, thu nhận. Dung nạp mọi chủ nghĩa, mọi học thuyết, mọi tư tưởng rồi lựa chọn, đồng hóa những tinh hoa của nhân loại để bồi dưỡng cho cơ thể tư duy Việt Nam lớn mạnh : đó là cái phương sách khôn ngoan của tổ tiên ông bà mình mà vừa qua Cụ Hồ cũng đã thực hiện thành công một phần quan trọng. Bài học thời Lê, nhất là thời Nguyễn đưa Nho giáo lên địa vị độc tôn đã để lại những di họa thế nào mọi người đều thấy cả. Bài học "Tam giáo đồng nguyên" của thời Lý Trần với những thành quả rực rỡ đã được lịch sử xác nhận đáng cho ta "học lại", đáng cho giới nghiên cứu lý luận và giới nghiên cứu văn hóa lục ra mà thảo luận một cách nghiêm chỉnh chọn lực cái gì ? Điều chỉnh ra sao ? Bỏ hay dùng ? Đó là quyền của ta, xuất phảt từ lợi ích của ta. Cớ sao có những nhà lý luận cứ gào lên : cái này Bác Hồ đã chọn, Đảng ta đã chọn, Nhân Dân ta đã chọn thì nhất thiết không được thay đổi. Xin mạn phép hỏi : Viện Triết học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và tất cả quý vị giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ, ... đang nghiên cứu lý luận và triết học, và hỏi luôn Ban soạn thảo Văn kiện Đại hội IX : Chủ Nghĩa Xã Hội mà Bác Hồ, Đảng ta, Nhân dân ta đã lựa chọn là Chủ Nghĩa Xã Hội nào ? Chủ Nghĩa Xã Hội Stalin mà chúng ta đã thực hiện trên miền Bắc 20 năm liền (1956-1975) và thực hiện tiếp trong cả nước 10 năm (1976-1986) đã đưa đất nước ta vào tình trạng trì trệ khủng hoảng, rồi nhờ có Đại hội VI sửa sai thực hiện đường lối đổi mới mà thoát khỏi sụp đổ. Vậy, chúng ta xây tiếp Chủ Nghĩa Xã Hội này chăng ? Hay chúng ta định xây dựng CNXH lý thuyết của Các Mác ? Theo dõi buổi truyền hình vừa qua (ngày ... giờ ) chúng tôi thấy các đ/c Hà Đăng, Lê Hữu Tầng, Lưu Bích Hồ giải thích rất lúng túng. Đ/c Lê Hữu Tầng và Hà Đăng nói rằng : nhận thức về CNXH của chúng ta hiện nay đã đổi mới về chất. Vậy đó là cái chất mới nào ? Đ/c Lưu Bích Hồ lại nhấn mạnh phải công hữu hóa. Nghĩa là dù có mới đến đâu thì cũng không vượt qua được "Tuyên ngôn của đảng cộng sản". Hơn một lần, chúng tôi đã giải thích rằng một trong những luận điểm cốt lõi trong "Tuyên ngôn của đảng cộng sản" là : xóa bỏ quyền tư hữu. Chúng ta đã từng thực thi luận điểm này rồi và đã thất bại một cách đau khổ. Đại hội VI đã sửa cái sai lầm này, đưa ra đường lối đổi mới và cứu được một bàn thua trông thấy. Chúng ta phải trả ngay lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân. Thế là đang đói vàng mắt ra lập tức lại thừa gạo để xuất khẩu. Vậy, đổi mới thực chất là trở về với cái cũ quá đúng mà đã mấy chục năm rồi chúng ta không chịu theo. Chúng ta lại đi theo một cái mới không thích hợp với chúng ta. Chúng ta vội quên mất rằng chính do khẩu hiệu "người cày có ruộng" mà mấy chục triệu nông dân đi theo Cụ Hồ để làm cuộc cách mạng này. Chính hai ông Qua Ninh và Vân Đình đã viết hẳn một cuốn sách bàn về vấn đề này từ thời tiền khởi nghĩa (cuốn "Vấn đề ruộng đất của dân cày"), rồi chính hai ông này sau có chân trong Bộ Chính trị mà cũng không bàn ra lẽ cái luận điểm nổi tiếng của Mác. Tại sao vừa mới chia cho người ta được 3 sào ruộng lại đã vội vã thu lại, rồi lại giao cho ba ông quản trị hợp tác xã toàn là đảng viên tin cậy chơi trò phương án nổi, phương án chìm, đua nhau xây nhà, xây sân, cưỡi xe đạp trên lưng nông dân. Làm gì sức sản xuất của nông dân không bị triệt tiêu, làm gì hợp tác xã không vỡ. Hợp tác xã có còn cũng chỉ là còn cái vỏ. Thế là tư hữu ruộng đất của nông dân biến thành công hữu của tập thể mà thực chất là tư hữu của ban quản trị. Tình hình công hữu ở lĩnh vực công nghiệp và thương mại cũng tương tự. Các ban giám đốc xí nghiệp, các công ty, tổng công ty bách hóa tổng hợp, thương mại quốc doanh, ... cũng nghiễm nhiên trở thành một thứ "tư hữu" không thể kiểm soát. Chúng ta chấp nhận tình hình tham nhũng, tình hình sản xuất, buôn bán thua lỗ mấy chục năm liền. Chúng ta bù lỗ thoải mái bằng tiền thuế và tiền viện trợ, và biết bao nhiêu khoản đóng góp của dân tùy theo quyền hành của từng địa phương. Một thời gian dài trước Đại hội VI, chúng ta không dám động đến những cái gọi là "sở hữu nhà nước" và "sở hữu tập thể" vì động đến nó tức là động đến CNXH. Chúng ta cắn rằng chịu đựng đói rách, trì trệ, khủng hoảng, tụt hậu chứ dứt khoát không thể để mất CNXH. Mà phân tích cho kỹ thì những thứ đó sao lại có thể gọi đượclà CNXH. Nếu CNXH chỉ là như thế thì lựa chọn nó làm gì, xây dựng nó để nhằm mục đích gì. Trước đại hội VI , ta nhầm đã đành. Sau Đại hội VI, thậm chí đến Đại hội IX mà còn định tiếp tục nhầm, thế là nghĩa lý gì. Chúng tôi thực sự kinh ngạc khi nghe ba đồng chí Hà Đăng, Lê Hữu Tầng, Lưu Bích Hồ lên giải thích trên Đài truyền hình bằng những lập luận, lý lẽ của thời kỳ tiền Đại hội VI. Không một đ/c nào dám liên hệ tình hình thực tế hiện nay. Chúng tôi thân ái và thẳng thắn hỏi các đ/c : - Các đ/c định tiếp tục bù lỗ cho các doanh nghiệp nhà nước đến thập niên nào của thế kỷ này? - Các hợp tác xã sẽ được tái lập với bộ máy nhân sự và cung cách quản lý như thế nào ? - Bằng cách nào kiềm chế được Ban Kinh tế của các cấp ủy Đảng, quân đội, công an không tìm cách vượt qua pháp luật, móc ngoặc hoặc đánh lừa Hải quan, Ngân hàng và các cấp Thanh tra, Kiểm tra ? - Bằng cách nào phát hiện và đấu tranh với các đồng chí đảng viên có chức có quyền đang tích cực quan liêu và tham nhũng mà khỏi bị quy tội là làm mất đoàn kết, gây rối loạn nội bộ, làm mất ổn định chính trị và tư tưởng ? - Bằng cách nào thực hiện được việc kiểm kê tài sản của các đảng viên có chức có quyền và giáo dục được các đồng chí đang gửi tiền ở các nhà băng nước ngoài tự giác rút tiền về để đầu tư xây dựng kinh tế đất nước hoặc trích ra một phần để ủng hộ quỹ Đảng hoặc quỹ Nhà nước ? - Bằng cách nào để giáo dục tư tưởng cho các đ/c đảng viên giàu có đang cho các con, các cháu mình du học tại các đại học Cambridge, Haward, ... có biện pháp răn bảo các cháu sau khi tốt nghiệp về nước thì chớ thay đổi chế độ ? - Bằng cách nào có thể giúp đỡ các đ/c nghiên cứu lý luận ở các viện, học viện, nhất là các giáo sư, viện sĩ, tiến sĩ, đã hăng hái kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin dám can đảm nhìn thẳng vào thực tế, đề xuất, thảo luận, giải quyết những vấn đề gai góc của thực tế đất nước hiện nay ? - Bằng cách nào để có thể tổ chức lại bộ máy Đảng ta, bộ máy Nhà nước ta phù hợp với tình hình phát triển của đất nước, nhất là thích hợp với tình hình toàn cầu hóa ? - Bằng cách nào để giúp đỡ các đ/c lãnh đạo Đảng và Nhà nước quán triệt được tinh thần vừa "làm bạn với tất cả các nước" lại vừa làm bạn được với đồng bào, đồng chí của mình và bà con Việt kiều hải ngoại ? Thôi, hãy xin tạm hỏi các đ/c mấy vấn đề như thế chứ thực tế thì còn đa đoan lắm, không thể hỏi hết trong một lúc kẻo lại mang tiếng là làm khó dễ cho các đồng chí. Tất nhiên cũng có nhiều vấn đề cần phải giải quyết kịp thời như : tích cực vận động Ban thi đua Trung ương "khen thưởng" thích đáng các đ/c Bộ trưởng Đầu tư và kế hoạch, Thương mại, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công nghiệp, Văn hóa thông tin, v.v. về "thành tích xuất sắc" cho nhập khẩu các dây chuyền công nghệ lỗi thời, xe gắn máy phế thải của Nhật và mới tinh của Trung Quốc; giúp bà con nông dân tự phát dùng thoải mái các giống cây giả, thuốc trừ sâu giả, tăm Thái Lan, nước mía Mã Lai và muối của nhiều nước bè bạn có bờ biển ít hơn nước ta. Phải "biểu dương" kịp thời Bộ Công nghiệp đã có tinh thần quốc tế cao cả, nhiệt tình giúp các nhà thầu ngoại quốc thắng các nhà thầu bản xứ (điển hình là vụ làm hộp công-tơ điện bằng nhựa compôzit) giúp các nước công nghiệp phát triển tiêu thụ rác phế thải công nghiệp. Riêng thành tích này có thể sánh ngang với Bộ Văn hóa thông tin cho nhập "rác văn hóa" nhằm nâng cao trình độ của các cháu thiếu niên nhi đồng về mặt bạo lực và tình dục. Đặc biệt Bộ Giáo dục và đào tạo có thành tích vượt trội về "chiến lược con người" : cải cách giáo dục thực hiện hơn ba chục năm, nay tích cực làm lại từ đầu và làm vô thời hạn; giải thể các trường công nhân kỹ thuật và trung cấp kỹ thuật kịp thời ngay sau ngày toàn thắng; quản lý bằng cấp đạt hiệu quả cao (đôn hàng chục ngàn phó tiến sĩ lên tiến sĩ, còn bằng cấp giả mạo thì đếm không xuể, chỉ những kẻ không may gặp vận xúi mới bị phát hiện, còn số đông cứ yên tâm. Nhất là các đ/c có chức có quyền tuy học giả nhưng lại có bằng thật, không nên vì thế mà sợ hãi hoặc xấu hổ. Tất nhiên không nên chỉ biểu dương đ/c đương kim bộ trưởng Phạm Minh Hiển mà phải khen thưởng thích đáng các đ/c cựu bộ trưởng Phạm Minh Hạc, Trần Hồng Quân, v.v. để khỏi phạm sai lầm "phủ nhận sạch trơn quá khứ". Có lẽ xuất sắc nhất là ủy ban vật giá, Tổng cục thuế, Tổng cục bưu điện. Lại xin thưa tiếp với ba đồng chí Hà Đăng, Lê Hữu Tầng và Lưu Bích Hồ rằng ta không thể bàn chuyện trăm năm sau mà quên đi những chuyện trước mắt. Trước mắt có chuyện ta đang bảo nhau phải ra sức bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, đồng thời ta lại nói rằng ta không được đi chệch định hướng XHCN, nghĩa là chúng ta cứ nhằm mục tiêu XHCN mà tiến tới dù phải mất 50 năm, 100 năm hay lâu hơn nữa. Nghĩ như thế, nói như thế và viết như thế liệu có ổn không, có tự mâu thuẫn không, mong các đ/c cho ý kiến. Đây không phải chỉ là vấn đề ngôn từ hay vấn đề lý luận nằm trên sách báo hoặc nghị quyết. Nếu giải quyết không đúng, trước hết về mặt lý luận, nó sẽ tác hại kinh khủng đối với đời sống kinh tế xã hội. Vì hiện nay có tình hình bất cứ lĩnh vực nào cứ làm đúng thì phát triển nhanh, nhưng người ta lại sợ hãi vì thấy nó giống tư bản quá. Còn làm đúng lý thuyết XHCN như thời kỳ hơn ba chục năm về trước (1960-1986) là y như trì trệ khủng hoảng. Vì đơn giản là lý thuyết XHCN của Mác không thể áp dụng vào thực tế của ta. Vậy thì ta phải làm kinh tế XHCN hay kinh tế TBCN ? Trong bài tham luận của đ/c Nguyễn Đức Bình đọc ở Trung Quốc có đặt vấn đề : Phải chăng Việt Nam và Trung Quốc đang làm kinh tế TBCN ? Theo chúng tôi hiểu không còn là chuyện "phải chăng" mà thực tế ta cũng như Trung Quốc đang làm kinh tế TBCN. Trong tác phẩm Đối thoại năm 2000, chúng tôi đã khẳng định : CNXH Hồ Chí Minh = Kinh tế TBCN + sự lãnh đạo của Đảng + sự quản lý và điều tiết của Nhà nước Dân Chủ Nhân Dân. Mấy đ/c ở Hội đồng lý luận Trung ương khi tọa đàm với chúng tôi đã lờ đi không thảo luận về CNXH Hồ Chí Minh. Đây không phải chỉ là một thuật ngữ mới do chúng tôi tùy tiện đặt ra mà thực chất đó là nội dung của cả một cuộc cách mạng mà chúng ta đã làm và phải tiếp tục làm. Vì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rành rành trong Di chúc của Người : toàn Đảng, toàn Dân ta phải phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Nhân dân ta có thích chế độ XHCN hay không ? Không phải chỉ riêng nước ta thích mà nhân dân các nước thế giới thứ ba và cả các nước tư bản cũng thích. Nhưng đối với các nước có trình độ tiền công nghiệp như Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Cộng hòa Cu Ba và Việt Nam dân chủ cộng hòa thì chuyện xây dựng CNXH là chuyện của trăm năm sau. Nhanh nhất cũng phải là nửa thế kỷ sau. Tuy nhiên, không xây dựng được chế độ XHCN trong hiện tại hoặc một vài thập kỷ nữa, không có nghĩa rằng Việt Nam ta nhất thiết phải xây dựng chế độ TBCN. Chúng tôi cũng đã từng nói rằng chế độ TBCN với những khuyết tật nằm trong bản chất của nó, không phải là chế độ mà chúng ta mơ ước và nó cũng không phải là nấc thang tiến hóa cuối cùng của nhân loại. Chúng ta không muốn xây dựng chế độ TBCN, chúng ta cũng không thể xây dựng chế độ XHCN như lý thuyết của Mác mà ông Đặng Tiểu Bình đã phải dự báo là 100 năm nữa Trung Quốc mới đạt tới. Vậy, chúng ta phải xây dựng chế độ nào để vừa phù hợp với nguyên vọng của đại đa số nhân dân, vừa thích nghi với đà tiến hóa của nhân loại ? Đó chính là vấn đề cần phải thảo luận cho ra nhẽ. Xin nhắc lại một ý kiến đề xuất hạn hẹp của chúng tôi : nếu quả thật chúng ta mê say CNXH, thì chúng ta chỉ có thể xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội Hồ Chí Minh mà thôi ? Đây là CNXH mang đặc điểm Việt Nam. Nội dung của nó là : "Xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh". Trong 25 năm sau giải phóng vừa qua, nếu chúng ta không thực hiện dân chủ một cách hình thức mà làm một nền dân chủ thực sự từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên thì hẳn đất nước ta đã phát triển không bị bất cứ một nguy cơ tụt hậu nào đe dọa. Phải thẳng thắn nói với nhau rằng để đến khi vụ Thái Bình nổ ra, chúng ta mới đi lo thực hiện qui chế dân chủ hóa cơ sở là quá muộn và vẫn còn nửa vời. Cấp trung ương còn chưa dân chủ hóa được thì làm sao mà dân chủ hóa được cấp phường xã. Một cán bộ đảng viên ở cấp phường xã hoặc cấp quận huyện làm sai lại được một cán bộ đảng viên ở cấp tỉnh hoặc cấp trung ương bao che, bênh vực, thử hỏi dân còn biết kêu ai và kiện ai ? Hàng triệu vụ khiếu kiện tồn đọng hầu như không thể giải quyềt được chính là do tình trạng mất dân chủ từ cấp vi mô cho đến cấp vĩ mô này đây. Địa phương không chịu giải quyết mà dồn hết về trung ương, thử hỏi các đ/c Tổng bí thư, Chủ tịch quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ biết giở tay ra sao ? Oan khuất của nhân dân không giải quyết thì vẫn còn nguyên vẹn đó chứ mất đi đâu được. Oán hờn cứ chồng chất tháng này qua năm khác, thử hỏi chế độ sẽ ra sao, đất nước sẽ ra sao ? Nhiều đảng viên, nhất là những đảng viên có chức có quyền cứ bình chân như vại, thản nhiên nhắm mắt, bưng tai, bịt mũi coi như không có gì quan trọng xảy ra trên đời này Thật đáng buồn và cũng thật đáng ghê tởm ! Giáo sư viện sĩ Nguyễn Duy Quý lại còn tỏ ra rất "quan điểm", rất "lập trường", cao giọng : Chúng ta không thể tán thành luận điểm "CNXH dân tộc". Này, xin phép hỏi ông Quý : ông theo CNXH quốc tế nào đấy ? Ông thử chỉ cho chúng tôi xem mặt mũi hình dạng nó như thế nào ? Thiên hạ người ta chủ trương xây dựng "CNXH mang đặc điểm Trung Quốc" là người ta khôn lọt vành ra. Mình kém cạnh gì mà lại không biết bảo nhau xây dựng CNXH mang đặc điểm Việt Nam. Chắc ta lại định chơi trò "lội nước đi sau", chờ khoảng dăm chục năm nữa, khi người ta xây dựng CNXH mang đặc điểm Trung Quốc thành công, bấy giờ các nhà lý luận và các phương tiện truyền thông của ta mới đua nhau gào lên "phải ra sức xây dựng CNXH mang đặc điểm Việt Nam !". Rất tiếc, lúc bấy giờ dẫu có gào to hơn hiện nay thì thế giới người ta cũng chẳng nghe thấy gì vì với khoảng cách giữa nước phát triển kém nhất với vị thế tụt hậu vô địch của ta thì thiên hạ nhìn ta qua kính viễn vọng, chỉ còn thấy hình ảnh một lũ "lừ đừ như ông từ vào đền". Chúng tôi thật mắc lỗi khiếm nhã khi phải bộc lộ cảm giác xấu hổ khi thấy những người ít hiểu biết về CNXH lại được cử đi tham dự những hội thảo quốc tế bàn về CNXH. Đúng là Dân ta tốt thật. Nhưng cứ tốt như thế này cho đến tận bao giờ thì quả thật chúng tôi cũng không đủ khả năng dự báo. Xin nhường phần cho các nhà Tương Lai Học. Chỉ có điều chắc chắn là bước sang thế kỷ mới, Dân ta cũng sẽ đổi mới tư duy dữ dội hơn, không chờ lúc "nước đến trôn" mới quáng quàng giải quyết vấn đề. 4. Đồng Chí Trần Bạch Đằng Lại Hăng Hái Bàn Về Nhân Sự Đại Hội !? Thú thật, đọc bài của đ/c Trần Bạch Đằng bàn về nhân sự Đại hội đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng, chúng tôi thấy rầu lòng tự hỏi : tầm cỡ nghiên cứu như Trần Bạch Đằng mà chỉ bàn luận có thế thôi hay sao? Hãy khoan bàn về những luận điểm thiếu minh bạch và lối lập luận vòng vo tránh né của tác giả xung quanh một vấn đề chưa phải là quan trọng hàng đầu của đời sống hiện nay. Có người nghiên cứu nào lại không hiểu rằng vấn đề quan trọng hàng đầu của mỗi đại hội Đảng là mục tiêu chiến lược. Nói nôm na là ta định dẫn dắt nhau đi đâu trong 5 năm tới ? Và đến năm thứ 5 thì ta chạm đến cái tiêu nào ? Nhìn lại lịch sử, ta thấy : - Đại hội I (1930) - Giải quyết được mục tiêu giành chính quyền thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. - Đại hội II (1951) - Đánh thắng thực dân xâm lược Pháp, giải phóng được một nửa đất nước. - Đại hội III (1960) - Định hai mục tiêu thì đạt được một : giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, còn mục tiêu xây dựng CNXH ở miền Bắc coi như không đạt - không đạt vì mục tiêu đó không thích hợp với trình độ kinh tế xã hội của miền Bắc lúc bấy giờ. - Đại hội IV (1968) - Mục tiêu xây dựng CNXH trong cả nước hoàn toàn duy ý chí, không tưởng nên đã đưa đất nước vào con đường trì trệ khủng hoảng. - Đại hội V (1978) - Tiếp tục đường lối của Đại hội IV, nghĩa là tiếp tục thực hiện đường lối cách mạng CNXH trong cả nước và cũng có nghĩa là tiếp tục trì trệ và khủng hoảng, và còn có nguy cơ sụp đổ. - Đại hội VI (1986) - Có thể gọi là Đại hội của sự bừng tỉnh, nghĩa là Bộ Chính trị Trường Chinh thức nhận đượ | |