|
VỀ CUỘC ÐỜI HỒ CHÍ MINH Cách đây không lâu, giới nghiên cứu lịch sử hải ngoại có dịp đón ch o một cuốn sách nghiên cứu về Hồ chí Minh của Học giả William J. Duiker. Học giả Duiker dã bỏ ra trên 20 năm trời, đi khắp các thư khố Pháp, Liên Xô v Việt Nam để tìm tòi những t i liệu liên quan đến Hồ chí Minh v từ đó vẽ lại chân dung Hồ chí Minh từ khi sinh ra đời cho đến khi qua đời. Cuốn sách được nhiều học giả nghiên cứu về Việt Nam hết lời khen tặng. Nh báo Stanley Karnow cho rằng đã có nhiều cuốn sách viết về Hồ chí Minh nhưng chưa có cuốn n o có thể so sánh với cuốn sách viết về Hồ chí Minh của ông Duiker. Ông Duiker đã tìm tòi nghiên cứu tỉ mỉ, kỹ c ng, nhận định sâu sắc v đọc nhiều nguồn t i liệu nên đã cuối cùng đã " giải mật " được một nhân vật được coi l độc đáo, bí ẩn gây nhiều tranh luận v ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20. Học giả Douglas Pike cho rằng, " Qua nhiều thập niên quả có một âm mưu ngăn chặn không cho chúng ta biết được sự thật chủ yếu của con người Hồ chí minh. Sự thật Hồ l một con người dễ ngưỡng mộ v l một người dễ ghét. Trong thời gian ông còn sống, ông cũng không giúp cho thế giới hiểu ông nhiều hơn vì ông muốn đóng một vai trò l người muôn mặt nên tạo hỏa mù cản trở những cố gắng của thế giới bên ngo i muốn tìm hiểu ông. Chuyện bạch hóa mọi sự thật không phải l một việc l m dễ d ng gì, nhưng học giả Willian J. Duiker đã l m được chuyện đó. Ông ta đã cung cấp đủ thông tin cho chúng ta để chúng ta tự quyết định chứ ông cẩn thận tránh lối kết luận giáo điều cứng ngắt m nhiều người thường l m. Ðây l một cuốn tiểu sử đầy tư liệu thông tin, có căn cứ đích xác v thẩm quyền, một loại hồi ký nghiêm túc." Nh nghiên cứu Frances Fitzgerald nhận định ông Hồ l một nh nhân bản Khổng giáo v l một nh cách mạng Cộng sản, ông l kiến trúc sư của nền độc lập Việt Nam, đã tiến h nh cuộc chiến đấu chống lại Pháp, Mỹ v chính quyền S i Gòn, Hồ chí Minh quả l một nhân vật chính trị có ảnh hưởng nhiều nhất trong thế kỷ 20. Nhưng dù sau cái chết của ông năm 1969 - cùng trong những năm có quân đội Mỹ chiến đấu ở Việt Nam - ông vẫn giữ hình ảnh l cái bóng mờ, cuộc đời v nghề nghiệp của ông bao quanh bởi huyền thoại v đội lốt vô số vai trò m ông phải đóng trong những năm lưu đ y v trong đời du kích ở Việt Nam. Nh báo Pháp Jean Lacouture viết như sau trong hồi ký xuất bản năm 1967 như sau, " Những gì chúng ta biết về ông Hồ trước năm 1941 đều l những mảnh rời rạc, gây nhiều tranh cãi v gần đúng thế thôi." Nh nghiên cứu Frances Fitzgerald cám ơn ông Duiker bởi vì nhờ cuốn biên khảo tiểu sử Hồ chí Minh của ông, cuộc đời Hồ không còn tối tăm như trước m đã tương đối sáng tỏ. Duiker l một giáo sư đại học môn Sử đã về hưu, trước đây ông từng l viên chức phục vụ tại Tòa Ðại sứ Mỹ ở S i Gòn v o giữa thập niên 1960. Ðể biên soạn cuốn sách về Hồ chí Minh, Duiker đã bỏ ra trên 20 năm thu thập tin tức mới từ những cuộc phỏng vấn v từ những văn khố ở Việt Nam, Trung Hoa, v Mỹ. Trước đây đã có những sử gia Tây phương nghiên cứu về Hồ như một con người v xem xét ảnh hưởng bối cảnh văn hóa của cuộc cách mạng do Hồ tiến h nh, nhưng Duiker mới l người không những ghép lại những khoảng trống trong đời Hồ m còn cung cấp những dữ kiện về Hồ như l một nh ngoại giao v chiến lược gia. Cuộc chiến tranh Việt Nam l một biến cố trọng đại trong lịch sử Hoa kỳ v o thế kỷ 20. Nhưng cuốn sách hồi ký về cuộc đời Hồ chí Minh của Duiker đã nhắc nhở chúng ta l vấn đề lớn cho người Việt Nam, cũng như cho những người khác trên h nh tinh n y, l phản ứng ra sao đối với sức mạnh thực dân v sự phá hủy của xã hội truyền thống. Hồ chí Minh đã dâng trọn đời mình cho nhiệm vụ ấy. Thời niên thiếu của Hồ diễn ra trong một thế giới loạn lạc v xáo trộn. Ông sinh năm 1890, chỉ 5 năm sau khi người Pháp thiết lập sự kiểm soát cai trị trên to n cõi nước Việt Nam một cách vững chắc. Ông sinh ở vùng Nghệ An, một vùng núi non đẹp đẽ nhưng nhỏ hẹp v hiểm trở. Ðây l một trong những vùng đẹp nhất nước nhưng nó cũng l vùng nghèo khổ v có truyền thống cách mạng nổi dậy nhiều nhất. Cha của Hồ l một viên quan lại, đã dạy cho Hồ tiếng Hán v nhiệm vụ của một kẻ sĩ trong đạo Khổng. Theo Duiker, thân sinh ông Hồ l cụ Sắc có quen biết lâu năm với những người khoa bảng học rộng như Phan bội Châu v Phan chu Trinh, đó l những nh tranh đấu quốc gia quan trọng nhất trong hai thập niên đầu của thế kỷ 20. Ông Duiker cho rằng cha Hồ bất mãn với quan triều v từ đó quyết định nghỉ việc nhưng các t i liệu sau n y cho thấy cha Hồ bị cho nghỉ việc vì say rượu đánh chết người. Hồ được cha gửi v o trường Quốc Học ở Huế với ước mong l Hồ sẽ theo gương quân sư Nguyễn Trãi thời thế kỷ 15, nghĩa l học hỏi để hiểu kẻ thù thì mới đánh bại kẻ thù được. Khi Hồ v học trường danh tiếng Quốc Học năm 1907, ông đã l một người có khuynh hướng nổi dậy. Có lời kể ông bị đuổi ra khỏi trường vì đã ủng hộ nhân dân xuống đường biểu tình chống lại thuế nông nghiệp cao v lao động khổ sai. Lại có dư luận giải thích rằng vì cha ông bị đuổi việc nên ông phải rời trường Quốc Học. Ông đi về phía Nam, l m đủ thứ nghề lặt vặt để sống qua ng y. Năm 1911, ông v o l m bồi bếp trên một chiếc t u thủy dự định sẽ đi tới Pháp với cái tên l " Ba ", đây l biệt danh đầu tiên của ông trong số 50 biệt danh ông lấy sau đó trong quãng đời l m cách mạng. Ông tâm sự về sau với một nh báo Liên xô l , " Tôi muốn trở nên quen biết với nền văn hóa Pháp để xem thực tế có giống như những lời hoa mỹ trên sách báo không " Hồ đi khắp các hải cảng từ Á châu sang Phi châu, ghé New York v London. Ông có ở lại New York một thời gian, l m nghề lao động v có sinh hoạt với Hội Quốc Tế cải tiến sự tin tưởng cho người da đen của Marcus Garvey ở khu Harlem. Tại London, ông l m bếp phụ cho ông đầu bếp Auguste Escoffier tại khách sạn Carlton. Tới cuối thế chiến thứ nhất ông định cư ở Paris, nơi được coi l trái tim của đế quốc Pháp. Trong khi l m nghề sửa ảnh, ông lập ra Hội Người Việt lưu vong, lên án sự đối xử t n bạo của thực dân Pháp ở thuộc địa trong những buổi họp của Ðảng Xã Hội Pháp. Năm 1919 ông đưa một kiến nghị lên những chính phủ Ðồng Minh tại hội nghị Versailles, yêu cầu họ thi h nh quyền dân tộc tự quyết cho Việt Nam m Tổng Thống Mỹ Woodrow Wilson đề ra. Chỉ có cảnh sát Pháp l lưu ý đến bản kiến nghị v tác giả của nó l Nguyễn ái Quốc! Họ theo dõi Hồ khắp mọi nơi dù Hồ chỉ l một thanh niên yếu đuối, nghèo khổ giống như anh hề Chaplin trên m n bạc. Duiker căn cứ nhiều v o những nguồn tin tình báo, phần lớn của Pháp, Anh, Trung Hoa v từ những điệp viên trong Quốc Tế Cộng Sản, dĩ nhiên l nhiều tin tức hơn l l từ FBI hay CIA. Từ những t i liệu ấy, Duiker đã tìm ra những chi tiết phong phú. Một gương mặt xuất hiện từ đống t i liệu ấy l Nguyễn ái Quốc, đây l biệt danh m ông Hồ dùng trong 25 năm trời ,đi qua các lục địa, xây dựng liên minh, khắc chế kẻ thù v dần xây dựng nên một đảng để l m cho giấc mơ của ông được th nh sự thật, ông l một nhân vật có h ng trăm biệt danh bị h ng ng n cảnh sát ng y đêm dòm ngó v săn đuổi. Hồ lần đầu tiên nhắm tới viễn tượng một nước Việt Nam độc lập l v o năm 1919 tại Versailles, khi ông cầu khẩn những cấp lãnh đạo đồng minh phải thi h nh lời kêu gọi của Woodrow Wilson nhắm tới chuyện l m sao cho xứ Ðông Dương của người Pháp được có quyền tự quyết ( self - determination ). Lúc ấy ông mới có 28 tuổi. Ông l con một viên quan tri huyện tên Nguyễn sinh Huy. Thật ra anh thanh niên Nguyễn tất Th nh lên t u sang Pháp năm 1911 không phải l để tìm đường cứu nước m bởi vì bố anh, đầu năm 1910 bị một án kỷ luật nặng, mất chức tri huyện Bình Khê, bị hạ bốn cấp trong ngạch quan lại, bị đuổi ra khỏi giai cấp quan lại vì cái tội say rượu, đánh chết một nông dân tên Tạ đức Quang. Ông huyện Huy từ đó mất nguồn sinh sống, phải lang thang l m nghề thầy lang bốc thuốc khá mất thể diện, nên ông không bao giờ trở về Huế v về l ng Kim Liên ( Nghệ An) nữa. Anh Th nh đang học trung học, đ nh phải bỏ học tìm đường tự cứu mình v cứu gia đình. Anh l m bồi bếp t u thủy, l m bánh ngọt ở Luân Ðôn, viết thư xin v o trường học Trường Thuộc Ðịa, gửi đơn xin viên khâm sứ Trung Kỳ để mong ông n y rủ lòng thương m cho bố anh đi l m lại, dù l m huấn đạo hay l m biện cũng được. Phải tới 7, 8 năm sau ở Pháp, sống bằng nghề rửa ảnh, tiếp xúc với một số người Việt như các ông Phan văn Trường, Phan chu Trinh, Nguyễn thế Truyền thì anh Nguyễn tất Th nh mới dấn thân đi l m chính trị. Ở Paris, anh bắt đầu thăm dò dư luận quần chúng về những tội ác do thực dân Pháp gây ra ở Việt Nam. Anh tham gia Ðảng Xã Hội Pháp v có cảm tình nhiều với đảng n y v sau đó trở th nh đảng viên sáng lập Ðảng Cộng sản Pháp. Versailles l nơi đầu tiên m Hồ n- lực thuyết phục những chế độ dân chủ Tây phương tôn trọng những tự do m họ theo đuổi. Nhưng " những quyền thiêng liêng để quyết định số phận của riêng mình " ( chữ của ông Hồ năm 1919) đã không được áp dụng cho những người ở các nước nô lệ ở lúc đó v cũng không áp dụng cho đến cuối thế chiến 2, khi m những lời hứa hẹn tương tự của Tổng thống Franklin Roosevelt được đưa ra. Ông Duiker hình như đã không chú ý nhiều đến giai đoạn ông Hồ ở Trung Hoa, nơi m Hồ đã sống phần lớn thời gian trong thập niên 20, 30 v 40. Hồ l m việc với Mikhai Borodin, vốn l người buôn vũ khí của Stalin bán cho Tưởng giới Thạch. Trong thời gian n y Hồ đóng vai một thương gia người Hoa mang tên Ling. Năm 1945 tại Côn Minh, l Tổng h nh dinh của Không đo n số 14 của Mỹ, Hồ gia nhập v o cơ quan tình báo Mỹ OSS, được đặt cho bí danh l Lucius. Ðể đổi lại tin tức tình báo về quân Nhật ở Việt Nam, người Mỹ cung cấp một số súng ống loại nhẹ cùng huấn luyện cho Mặt trận Việt Minh của ông. Ðây l một giai đoạn có nhiều chuyện lý thú nhưng ông Duiker dường như không mấy quan tâm đến. Ðể tìm một phương tiện chống lại thực dân Pháp tại quê nh Việt Nam, Nguyễn tất Th nh đã tới với Quốc Tế Cộng Sản trong khi Quốc Tế Cộng Sản cũng đang muốn đi tìm một tổ chức Việt Nam để chống Pháp.Sau hội nghị Versailles năm 1919, chủ thuyết Cộng Sản của Ðảng Cộng Sản Nga dần dần thúc đẩy chuyện lật đổ những chính phủ thực dân hồi ấy không những ở Pháp m còn ở Anh v ở Ý nữa. V o lúc ấy Phi Châu bị chia th nh những thuộc địa của những quyền lực Âu Châu, một số nước ở Ðông Nam Á cũng bị rơi v o ho n cảnh tương tự. Miến Ðiện, Mã Lai, Singapore, Bắc Borneo ( ng y nay l tỉnh Sabah của Mã Lai ) v Hồng Kông trở th nh thuộc địa của Anh. Indonesia l thuộc địa của Hòa Lan, Việt Nam, L o v Cam bốt bị thực dân Pháp chiếm. V o lúc đó, trong Ðảng Cộng Sản Nga, không có sự liên minh chính trị n o với th nh phần quốc gia hay những đảng không Cộng sản ở bất cứ nơi đâu trên thế giới. Trong ho n cảnh đó, Hồ chí Minh được chú ý đến v mở đầu cho những hoạt động cách mạng sau n y. Ðảng Cộng Sản Nga hồi ấy đề ra n- lực để lật đổ những chính quyền thuộc địa, đồng thời không muốn dính líu v o những hoạt động " quốc gia thuần túy ". Cho nên chủ nghĩa quốc gia của Hồ đã bị rơi v o quên lãng. Trong những năm đầu thập niên 1930, Hồ không được các cấp lãnh đạo Nga sô ở Moscow sủng ái, bởi vì chủ nghĩa quốc gia trong đầu óc Hồ mạnh mẽ hơn nên đã đè bẹp chủ nghĩa Stalin ( Stalinism). Stalin thì lại đang củng cố quyền lực trong Liên Bang Sô Viết thời đó. Hồ có vẻ không thích những cuộc đấu đá chính trị xảy ra ở Moscow trong thập niên 1930 m chỉ chú ý đến tình hình ở quê nh . Vì thế Hồ bị Nga sô lơ l không để ý đến. Lúc ấy ho n cảnh chính trị ở Pháp không giống như những gì xảy ra ở Việt Nam, m giống như những gì đang xảy ra ở phía bên kia biên giới Pháp, tức l ở nước Ðức. Chế độ Phát-xít Ðức ng y c ng hiếu chiến, v viễn cảnh Pháp lại sẽ phải đối đầu với Ðức một lần nữa đã bắt đầu ló dạng cuối chân trời. V o cuối thập niên 1930 thì tại Moscow giới lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Nga có sự thay đổi đường lối về chuyện hợp tác với " những người quốc gia ". Họ không còn ruồng rẫy những đảng phái quốc gia như trước nữa. Khoảng thời gian n y l khoảng v o năm 1936 v Hồ lại được Ðảng Cộng Sản Nga ở Moscow tin dùng trở lại. Quan trọng hơn nữa l chuyện cấp lãnh đạo Sô Viết ký hiệp ước " bất tương xâm " với Phát - xít Ðức v o tháng 8 năm 1939. Ðảng Cộng sản Nga đổi từ thái độ từ khước sang thân thiện với những đảng phái chính trị ở những thuộc địa Âu châu. Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi Liên Bang Sô Viết ký thêm một hiệp ước " bất tương xâm " với Thiên Ho ng Nhật v o tháng 4 năm 1942, khoảng chừng 1 năm sau khi Phát - xít Ðức tấn công Pháp. Người ta cho rằng Liên Bang Sô Viết lúc ấy cần tất cả t i lực, vật lực để trấn giữ biên giới phía Tây của mình. Hồ chí Minh lúc ấy đang l m công tác cho Borodin ở Thượng Hải, nghĩa l đang l m việc cho người Nga, dù Hồ đã dính líu với Ðảng Cộng sản Pháp từ lâu, Hồ l một trong những sáng lập của Ðảng n y v o tháng 12 năm 1920. Từ đó ông ta hay tới những đại hội tổ chức ở Liên Bang Sô Viết trong thập niên 1920 với những câu hỏi về " vấn đề quốc gia ". Do đó, ông ta bị mất cảm tình với Ðảng Cộng sản Nga trong những năm đầu thập niên 1930 , nhưng lại được tin dùng trở lại khi Ðảng Cộng sản Nga thay đổi đường lối về chuyện hợp tác với những đảng phái không cộng sản, nếu những đảng n y thật lòng muốn chống lại Phát xít Ðức. Chuyện diễn ra đâu đó trong khoảng thời gian từ 1936 đến 1939. Nói đến Stalin thì trong cuốn sách, Duiker có kể chuyện khi Hồ gặp Stalin, Hồ có yêu cầu Stalin ký trên một cuốn tạp chí " Nước Nga đang xây dựng " do Nga xuất bản để lưu niệm. Nhưng sau đó Stalin cho mật vụ đến phòng ngủ của Hồ để lấy lại cuốn tạp chí có chữ ký Stalin n y. Nói như thế để thấy Stalin khinh thường v coi rẻ Hồ như thế n o. Thủ tướng Nga Krushchevs cũng có mặt lúc Stalin gặp Hồ v sau n y viết hồi ký cũng nói lên chuyện Stalin đối xử t n tệ v khinh bỉ Hồ như thế n o. Có lẽ nh thơ Tố Hữu không biết chuyện n y nên khi Stalin chết đã khóc Stalin mấy vần thơ tâng bốc lên tới trời xanh !( Mấy câu thơ ấy l : "Ông Xít-ta-lin ơi, ông Xít-ta-lin ơi, Nghe tin ông mất đất trời còn không. Thương cha thương mẹ thương chồng. Thương mình thương một, thương ông thương mười ( Tố Hữu )" ). Trong hồi ký " Krushchev nhớ lại " ( Krushchev Remembers " xuất bản năm 1990 , Krushchev đã viết về Hồ chí Minh như sau, : " Chúng tôi đã th nh thật v không ngần ngại trong mọi n- lực để giúp Việt Nam, v sự căng thẳng đối với chúng tôi do những th nh phần thân Trung Cộng ở Việt Nam gây ra quả l một viên thuốc đắng khó nuốt. Tại sao tôi lại mang chuyện n y ra bây giờ? Tôi mang nó ra vì nó liên hệ tới một vấn đề chứa đựng những gì chúng ta có thể mong đợi hiện nay khi Hồ chí Minh đã chết. Theo những gì tôi đọc trên báo, những quan hệ giữa Việt Nam v Liên xô đều thuận tiện, trôi chảy. Những phái đo n Việt Nam đang thăm viếng Liên xô, v có những phái đo n báo chí của chúng ta tới Việt Nam để tường thuật về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Những b i tường thuật của họ được loan tải trên báo chí cũng như trên truyền hình v phim thời sự. Nhưng có một v i thông tin cho tôi biết thật ra mọi chuyện không được trôi chảy v êm thắm như báo chí đã loan v truyền hình đã chiếu. Theo những tin tức tôi được biết, phía Việt Nam đang tỏ b y một sự tự chế không được bảo đảm lắm đối với chính phủ v Ðảng Cộng sản Liên xô. Ðiều đó có nghĩa l lực lượng thân Trung Cộng vẫn còn tồn tại trong chính phủ Việt Nam v ở trong tầng lớp lãnh đạo của Ðảng Lao Ðộng Việt Nam. Ở bên ngo i ai cũng nghĩ l những sự liên hệ thân thiện v sự hiểu biết h- tương đang phát triển giũa Việt Nam v Liên xô. Nhưng điều có thể xảy ra l sự biểu hiện bên ngo i n y chỉ l cái vỏ b y ra do đám lãnh đạo Việt Nam tạo nên – ngay cả có thể có sự chúc l nh của phía Trung Cộng – để không bị mất sự giúp đỡ của Liên xô v những Ðảng Cộng sản anh em khác. Tôi tin chắc đó không phải l chuyện đang xảy ra , dù tôi vẫn nghĩ l nó vẫn có thể xảy ra. Tôi muốn tin rằng Việt Nam thật sự muốn có những mối quan hệ tốt đẹp với Liên xô, nhưng tôi không nghĩ rằng Trung Cộng sẽ buông tha Việt Nam ra khỏi móng vuốt của họ, v như thế l những lực lượng thân Trung Cộng sẽ còn duy trì sức mạnh ở Việt Nam. Họ l m tất cả những gì có thể l m m Trung Cộng muốn. Giờ đây, với cái chết của đồng chí Hồ chí Minh, ảnh hưởng thân Trung Cộng lớn mạnh theo kiểu truyền nhiễm sẽ lan rộng ra một cách độc địa hơn bao giờ hết. Nếu nó xảy ra, thì đó l một điều đáng tiếc lớn, v nó sẽ l một thông điệp kém cỏi gửi đến đồng chí Hồ chí Minh, l người đã đầu tư nhiều suy nghĩ v n- lực trong chuyện tăng cường sự thân thiện của quốc gia ông với Liên xô. Từ khi Hồ chí Minh chết, đã có nhiều diễn văn v b i tường thuậ tđược viết bởi những người có những chính kiến chính trị khác nhau, tất cả đều muốn trả lời những câu hỏi hiện nay đang l m nhiều người bận tâm: Việt Nam sẽ phát triển những mối quan hệ với Liên xô như thế n o? Với những quốc gia tư bản ra sao? Liên hệ kiểu gì với những Ðảng Cộng sản có quan điểm khác với Mao trạch Ðông? Những mối quan hệ của Việt Nam sẽ phát triển như thế n o dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Trung Cộng?Những thay đổi gì sẽ xảy ra ở đây trong những chính sách của Việt Nam? Giờ đây tôi muốn chia sẻ những cảm tưởng về những gì m tôi đã được đọc v nghe cùng cố gắng diễn tả suy nghĩ của riêng tôi về những viễn cảnh của sự phát triển quan hệ giữa Liên xô v Việt Nam. Dĩ nhiên không ai tiên đoán được những gì sẽ xảy ra. Có những dấu hiệu cho thấy những gì mong đợi kế tiếp, nhưng chúng ta phải cẩn thận về chuyện tiên đoán vì không có gì l miên viễn, thường hằng cả. Mọi chuyện đều luân lưu, thay đổi liên tục. Mọi chuyện có thể chuyển biến bất cứ lúc n o. Chẳng hạn như trước đây Liên xô v Trung Cộng có một mối giao hảo tốt đẹp không lầm l-i. Ngay cả mối liên hệ giữa các cấp lãnh đạo Liên xô v Mao trạch Ðông cũng rất tốt đẹp. Nhưng bây giờ tất cả đều thay đổi. Chuyện tương tự có thể xảy ra với Việt Nam. Mối liên hệ của chúng ta lúc đầu rất tốt; v nếu rồi đây nó trở nên tồi tệ đi, thì đó không phải l l-i của Ðảng Cộng sản Liên xô. Ðúng hơn, tôi tin đó l ho n to n kết quả của bản thân Mao trạch Ðông v ảnh hưởng của ông trên Việt Nam. Những văn kiện tạo cho tôi một sự căn bản trong chuyện tiên đoán tương lai của Việt Nam căn cứ v o cái gọi l " di chúc Hồ chí Minh " v b i diễn văn nổi tiếng của Lê Duẩn. Tôi đọc hai văn kiện kia đến hai lần, v tôi rán đọc kỹ để có thể diễn dịch đúng đắn chúng. Trong Di Chúc của Hồ chí Minh không nói gì đến sự giúp đỡ to lớn, không tính toán m Liên xô đã d nh cho Việt Nam. Sự giúp đỡ của chúng ta l một nhân tố quyết định, vì nếu không có sự giúp đỡ của Liên xô, Việt Nam không thể sống còn dưới những điều kiện của chiến tranh hiện đại để chống lại một kẻ xâm lăng gi u mạnh như Mỹ. Ðể có thể nhận được vũ khí v dụng cụ, Việt Nam không có lựa chọn n o hơn l phải dựa v o Liên xô. Ðể có thể đạt được chiến thắng, họ phải có những vũ khí thích hợp, v những vũ khí n y họ chỉ có thể có từ Liên xô. Trung Cộng không thể cho Việt Nam những gì Việt Nam cần hôm nay. Báo chí thế giới, ngay cả những kẻ thù của Chủ nghĩa Cộng sản, cũng phải công nhận rằng Việt Nam không thể tiến h nh chính sách kháng cự võ trang chống lại xâm lược Mỹ nếu không có sự giúp đỡ kinh tế v vật chất từ Liên xô. Lấy ví dụ như quân đội Bắc Việt Nam bắn một hỏa tiễn v o một căn cứ không quân Mỹ. Thường thì những hỏa tiễn ấy không thể chế tạo từ trong những rừng Việt Nam. Chúng đến từ những cơ xưởng ở Liên xô. Liên xô thường giúp bất vụ lợi cho tất cả những lực lượng v cho tất cả những người chiến đấu cho độc lập , tự do kinh tế v chính trị của mình v chống lại sự xâm lược của đế quốc. Mới gần đây, ngay cả những th nh phần thân Trung Cộng ở Việt Nam đã bắt đầu hiểu được sự cần thiết của tình bạn với Liên xô v truyền thống Hồ chí Minh được phần n o tái lập. Người Việt Nam đã h nh động khôn ngoan khi họ tái định hướng những chính sách của họ. Tôi nói " tái định hướng" vì họ không thay đổi chính sách một cách căn bản, họ chỉ" tái định hướng" nó- ước tính sự cần thiết của chuyện tiếp tục chiến tranh đến tương lai v ý thức được rằng chỉ có Liên xô, chứ không phải Trung Cộng, có thể giúp họ sự h- trợ m họ cần đến. Ng y nay, cuộc chiến đấu ác liệt vẫn kéo d i v chiến thắng vẫn còn xa. Nhưng ánh sáng của sự chiến thắng của Việt Nam đối với đế quốc Mỹ có thể dã được nhìn thấy ló dạng cuối chân trời. Cho nên n- lực của chúng ta không nên giảm. Mọi thứ đều phải được tận dụng để mang cuộc đấu tranh của người Việt Nam đến thắng lợi cuối cùng. Có nhiều nguy hiểm trong cuộc chiến n y hơn l tương lai của người Việt Nam. Người Việt Nam đang đổ máu v mất mạng vì lợi ích của phong tr o Quốc Tế Cộng Sản. Liệu những người kế thừa Hồ chí Minh có đủ sự thông minh đưa cuộc đấu tranh n y đến th nh công hay không? Chỉ có thời gian mới trả lời được điều n y ( Hồi ký Khrushchev ( Khrushchev remembers ) trang 485, 486, 487) Bản tiếng Anh..xuất bản năm 1990 ( Sau khi Hồ chết, trong khi Khrushchev viết những h ng n y để tả lại không khí thời bấy giờ thì lúc đó, Thủ tướng Liên xô Aleksei Kosygin v Thủ tướng Trung Cộng Chu ân Lai gặp nhau ở phi trường Bắc Kinh. Kosygin vừa trở về từ đám tang Hồ. Không có kết quả tích cực n o từ cuộc gặp gỡ n y, v những cuộc chạm trán giao tranh nhỏ giữa quân đội Liên Xô v Trung Cộng v từ từ biến th nh những trận đánh lớn v o cuối năm 1969 v 1970. Sự lo ngại của Khrushchev rằng Việt Nam sẽ ngả về phía Trung Cộng đã không thật sự xảy ra. Thay v o đó Việt Nam ký một hiệp ước thân hữu v cộng tác với Liên xô v o ng y 3 tháng 11 năm 1978. Ðể đổi lại viện trợ kinh tế v quân sự, Việt Nam cho phép Liên xô dùng căn cứ cũ của Mỹ ở vịnh Cam Ranh. V o tháng 2 năm 1979, chừng 85000 quân Trung Cộng vượt qua biên giới Hoa- Việt để đánh v o Việt Nam. Bắc Kinh gọi cuộc xâm lăng l " đánh trả để tự vệ " chống lại " quân xâm lược Việt Nam ". Có người cho l lý do Trung Cộng đánh Việt Nam l để trả thù cho đ n em Khmer đỏ ở Kampuchia vì năm 1978 Việt Nam đem quân sang Miên đánh đổ chế độ đ n em của Trung Cộng l bọn Khmer đỏ Pol Pot. Trận chiến trừng phạt kéo d i 27 ng y trước khi quân Trung Cộng rút về để lại sự hoang t n, phá hủy trong một khu vực rộng 30 dặm vuông cách biên giới Việt- Hoa. Mối quan hệ Việt _ Trung từ lâu được đánh giá l mối quan hệ khắng khít như môi v răng. Giờ đây thì răng cắn dập môi v nhìn thấy hai nước Cộng sản đánh nhau sứt đầu l- trán người ta mới thấy thế giới đại đồng còn lâu mới thực hiện được!) Hồ chí Minh cố gắng " đi dây " giữa Liên xô v Trung Cộng, không l m mất lòng bên n o để có thể nhận viện trợ của cả hai bên. Lê Duẩn thì chống Trung Cộng ra mặt nên mới có cuộc chiến Hoa,Việt (1979). Lại có thêm 1 điểm liên quan đến Việt Nam v Mỹ nũa m ai cũng biết l Trân Châu Cảng ( Pearl Harbor ) của Mỹ bị Nhật tấn công v o ng y 7 tháng 12 năm 1941. Mục tiêu của Mỹ trong Thế chiến thứ hai l phải đánh bại quân đội Thiên Ho ng Nhật Bản ở Thái Bình Dương. Có sự trùng hợp giữa mục tiêu chính trị v quân sự của Mỹ v Hồ chí Minh v o thời kỳ n y. Không biết đây l sự trùng hợp ngẫu nhiên hay không m Mặt Trận Việt Minh của Hồ chí Minh cũng được th nh lập v o năm 1941. Rõ r ng l cơ quan tình báo Mỹ thời bấy giờ l OSS ( tiền thân của CIA ) không những biết đến Hồ chí Minh trong thế chiến hai m còn có mối quan hệ thân mật với ông nữa. Tổ chức Việt Minh của Hồ thường được ghi nhận công trạng l đã bỏ công tìm kiếm những phi công Mỹ cóphi cơ bị bắn rơi trong lúc dội bom quân đội Thiên Ho ng Nhật Bản, đó l một góc cạnh hợp tác giữa Mỹ v Hồ chí Minh được nhắc đến nhiều trong suốt thế chiến thứ hai. Rồi đến sự kiện gây nhiều nghi vấn l Hồ có trích dẫn Bản Tuyên Ngôn của Nước Mỹ v o trong Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập chống người Pháp m ông đọc tại quãng trường Ba Ðình v o ng y 2 tháng 9 năm 1945 .Nhưng liệu cái liên minh quân sự của Hồ v Mỹ trong thế chiến thứ hai có tạo nên được sự khác biệt n o không đến chuyện Hồ vẫn đang hợp tác với các cấp lãnh đạo Nga tại Moscow ? Liệu Hồ chí Minh trong giai đoạn n y có đưa ra tuyên cáo n o chối bỏ tư cách hội viên lâu đời của ông trong Ðảng Cộng sản Pháp không? Liệu những h nh động của ông trong thế chiến thứ hai không chỉ l vấn đề thuần túy của chuyện mở rộng liên minh giữa Mỹ v Liên xô hồi ấy trong chiến tranh ? Liệu có thể sự liên minh chính trị của Hồ chí Minh với Ðảng Cộng Sản Pháp thay đổi vì những biến cố của năm 1941 không? Ngược lại có thể n o thế đứng của Hồ chí Minh đối với Ðảng Cộng sản Nga được củng cố thêm vì những h nh động Hồ l m trong thế chiến hai hay không? Duiker vẫn chưa đ o sâu v o những vấn đề trên để đưa ra sự nhận định chính xác, dứt khoát. Nhưng những câu chuyện cũ về sự hợp tác của người Mỹ với Hồ chí Minh không đưa ra được sự giải thích rõ r ng cho những biến chuyển bằng sự tập trung chú ý phân tích những tình huống xảy ra trên thế giới v o lúc thời điểm đặc biệt lúc bấy giờ, nghĩa l lúc đang có những sự xâm lăng của Phát - xít Ðức v Thiên Ho ng Nhật. V o lúc ấy, phải nhận thấy rằng những mục tiêu chính trị v quân sự của Mỹ, Nga, Ðảng Cộng sản Pháp v bản thân Hồ chí Minh có sự trùng hợp nhau. Ðó l có một trận tuyến chống lại Nhật v Ðức. Hồ tình nguyện chiến đấu chống lại hai thế lực n y v nhiều viên chức Mỹ còn khám phá ra đa số người Việt Nam có sự thân tình, tư cách v sự quyến rũ m họ không tìm thấy ở những giống dân khác trên thế giới. Thật ra, đường lối chính trị của Ðảng Cộng sản Pháp v Nga có thay đổi v o cuối thế chiến hai, Hồ chí Minh may mắn có mặt đúng thời điểm n y v phù hợp với sự thay đổi ấy nên đã được giao phó trọng trách chống Quân phiệt Nhật v Phát - xít Ðức. Nhưng bất thình lình những ng y u ám cũ của thập niên 1920 lại tái xuất hiện v o năm 1946. Nó không xảy ra đầu tiên ở Việt Nam m ở Âu châu . Ðó l chuyện quân đội Ðồng Minh phong tỏa Nga ở Berlin v mở đầu cho cuộc chiến tranh lạnh. Tổng thống bốn nhiệm kỳ Roosevelt qua đời năm 1944, trước khi thế chiến hai chấm dứt. Do đó cuộc chiến tranh lạnh v đường lối chính trị mới của Ðảng Cộng sản Nga v Pháp xảy ra đầu tiên không phải ở Việt Nam m ở Ðức. Ðường lối " Mặt trận quốc gia " m Ðảng Cộng sản Nga v Pháp đề ra giữa năm 1936 v 1939 một lần nữa lại trở về chính sách cũ l không cộng tác với những đảng phái không cộng sản. Có những cuộc thanh lọc lớn xảy ra tại Ðông Ðức trong hai năm 1944 v 1945, khi quân đội Liên xô tiến v o Ðức. Những người không Cộng sản không được dung tha. Lúc đó l lúc Tổng thống Mỹ Truman nhập cuộc với hòa đ m Berlin v o cuối năm 1945. Tại đó, Tổng thống Truman gặp lãnh đạo Nga Stalin. Vấn đề giải giới quân đội Nhật đang đóng tại Việt Nam được mang ra thảo luận cùng chung với những vấn đề khác khi thế chiến hai sắp đi đến giai đoạn cuối. Ở Việt Nam v o cuối năm 1945 v 1946 quân đội Pháp đổ bộ trở lại . Chính phủ Truman cũng đang theo dõi những biến cố xảy ra ở Việt Nam cũng như ở Âu châu. Cục diện ở Việt Nam lúc đó có lẽ sẽ đổi khác nếu chính phủ Truman nghe lời Hồ chí Minh kêu gọi sự ủng hộ của Mỹ d nh cho nền độc lập Việt Nam từ tay người Pháp. Nhưng nếu đường lối chính trị của Ðảng Cộng sản Nga v Pháp thay đổi một lần nữa năm 1946, đi theo đường lối cũ của thập niên 1920 thì điều đó có tạo nên được sự khác biệt n o không khi quân đội Pháp muốn trở lại vị trí cũ của họ ở Việt Nam? Có phải những sự quan tâm của chính phủ Truman đến những biến cố ở Âu châu đã không l chìa khóa của sự hiểu biết vì chính chính phủ n y đồng ý v ngay cả h- trợ cho chuyện quân đội Pháp trở lại Việt Nam v o cuối thế chiến hai? Duiker cũng không đưa ra được một sự giải thích rõ r ng n o về những vấn đề nêu trên. Theo một chuyên gia khác nghiên cứu về Việt Nam l Frances Fitzgerald cho rằng cuốn tiểu sử Hồ chí Minh của Duiker đã có ưu điểm l phân tích rất rõ về con đường Hồ chí Minh đã đi đến chủ nghĩa Mác - Lê Nin như thế n o. Hồ đến với chủ nghĩa Mác-xít v o mùa hè năm 1920, qua " Luận cương về vấn đề dân tộc v thuộc địa " của Lê Nin. Hồ đã đọc về lý thuyết Mác - xít trước đó nhưng theo sự giải thích của Duiker, những sự lý luận của Lê Nin về mối dây liên hệ giữa chủ nghĩa tư bản v chủ nghĩa đế quốc v về sự quan trọng của những phong tr o quốc gia ở Á châu v Phi châu ảnh hưởng đến cách mạng thế giới thật sự đã gây ra những sự chấn động dữ dội trong tâm thức Hồ, đã dẫn ông đến trạng thái chuyển biến. Từ một người yêu nước đơn giản với những hiểu biết sơ s i, đại khái về chủ nghĩa xã hội th nh một nh cách mạng Mác - xít. V o năm 1921, khi Ðảng Xã Hội Pháp có sự chia rẽ về vấn đề có nên tham gia v o Quốc Tế Thứ Ba của Lê Nin hay không, Hồ trở nên l hội viên sáng lập của đảng n y. Khi viết b i với bút danh Nguyễn ái Quốc, ông tranh luận không chỉ vấn đề chủ nghĩa Cộng sản có áp dụng được v o Á châu hay không m liệu nó có giữ được những truyền thống Á châu vốn đặt căn bản văn hóa trên bình diện cộng đồng v bình đẳng xã hội. Trong vòng 3 năm Hồ đòi hỏi đảng mới cần phải h nh động về vấn đề thuộc địa, nhưng những người Cộng sản Pháp đã tỏ lộ ra l những người bênh vực Âu châu của họ, như ông Duiker đã nói trong sách, cho nên năm 1924 Hồ bỏ đi Moscow theo lời mời của Quốc Tế Cộng Sản. Tuy nhiên những cấp lãnh đạo Sô viết lúc n y đang bận rộn với những vấn đề đấu đá nội bộ nên Hồ phải mất gần một năm mới thuyết phục nổi những viên chức trong Quốc Tế Cộng Sản gửi ông đến miền Nam Trung Hoa, nơi có một mối liên minh khó chịu giữa những người Quốc Dân Ðảng Trung Hoa v Cộng sản theo Mao, tại đây Hồ bắt đầu thuyết phục lôi kéo người Việt v o tổ chức của ông. Hồ chí Minh trải qua 15 năm l m việc cho cách mạng Việt Nam với tư cách l một nhân viên của Quốc Tế Cộng Sản. Theo sự ghi nhận chính xác v tỉ mỉ của Duiker, trong giai đoạn n y, Hồ nhấn mạnh nhiều đến chủ nghĩa quốc gia, cách tiếp cận kiên nhẫn v thực tiễn về chuyện tổ chức đã l m cho ông bị Moscow mất cảm tình. Ông vẫn cứ nhất định theo đuổi đường lối riêng của ông, chờ đợi cho qua những giai đoạn khó khăn, bị chống đối v nắm lấy ngay những cơ hội khi chúng trồi lên. Ở Quảng Ðông, Hồ xuất bản một tạp chí, dựng nên tổ chức Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội v thiết lập một cơ sở huấn luyện tạo nên nhiều sự hấp dẫn v chú ý trong giới học sinh, sinh viên khắp nướcViệt Nam. Ngo i chủ nghĩa Mác - xít Lê-nin-nít, ông còn dạy đạo đức cách mạng do ông đề ra l : tiết kiệm, th nh thật, quí trọng sự học hỏi, sự khiêm tốn v sự quảng đại. Những đức tính n y, theo Duiker ghi nhận, đã mang m u sắc đạo đức Khổng giáo nhiều hơn l ý thức hệ của chủ nghĩa Mác Lê Nin. Ðối với những người học trò theo ông, Hồ dường như l người biểu hiện cho những đức tính đó, v sự dạy d- của ông về những châm ngôn trên sau n y đã trở th nh một đặc điểm độc đáo của cách mạng Việt Nam. Năm 1927, khi Tưởng giới Thạch bắt đầu ruồng bố phe Cộng sản Trung Hoa, tổ chức của Hồ bị dẹp bỏ v Hồ bị cảnh sát Trung Hoa đuổi chạy đến Hồng Kông rồi sau đó đến Moscow. Quốc Tế Cộng Sản gửi Hồ đến Pháp v rồi theo lời yêu cầu của ông, ông được gởi đến Thái Lan, tại đây ông sống trong vòng 2 năm để tổ chức v huấn luyện những người Việt Nam biệt xứ . Năm 1930, ông trở lại Trung Hoa l m việc trong khi vẫn cố gắng tránh né sự truy nã của cảnh sát Trung Hoa v mật vụ Pháp. Ông bị người Anh bắt tại Hồng Kông v bị tù 1 năm, rồi sau đó ông đến Moscow. Nhưng ông khó tìm kiếm sự giúp đỡ dù ít ỏi tại đây. Trong khi Stalin thanh lọc những kẻ n o đi ngược lại đường lối của Lê Nin v ra lệnh cho những đảng Cộng sản Á châu phải theo đuổi một mục tiêu không tưởng l tiến h nh một cuộc cách mạng vô sản quốc tế to n diện v triệt để, đồng thời chỉ thị cho những người Cộng sản Việt Nam th nh lập Ðảng Cộng Sản Ðông Dương - danh xưng như thế nhưng mục đích duy nhất l tìm cách phá vỡ chế độ thực dân Pháp trong vùng. Cá nhân Hồ bị phê bình, điều tra v bị hạ tầng công tác trong thời gian n y. Năm 1938 số phận Hồ được coi l có sự thay đổi một cách may mắn. Vì Phát - xít Ðức đang lớn mạnh nên Liên xô thay đổi lập trường về chủ nghĩa quốc gia, có nghĩa l họ chuyển hướng ủng hộ thay vì chống đối như trước, Liên Xô kêu gọi th nh lập liên minh của những sức mạnh tiên tiến để chống lại chủ nghĩa Phát -xít. Ðồng thời lúc đó Tưởng giới Thạch th nh lập một mặt trận đo n kết với Ðảng Cộng sản Trung Hoa để chống lại quân xâm lăng Nhật. Chiến lược của Hồ được sáng tỏ trở lại, Hồ lại cầm đầu những hoạt động đấu tranh của người Việt,v với tình trạng Nhật xâm lăng Ðông Dương, Hồ th nh lập một Mặt trận quốc gia gọi l Việt Minh bao gồm thợ thuyền v nông dân để tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam. Năm 1941, Hồ trở về nước sau 30 năm xa cách để chỉ huy v điều động một cuộc chiến tranh du kích trên vùng núi non Việt Nam. V o tháng 8 năm 1945, ba tháng sau khi phe Nhật hạ bệ chính quyền Vichy của Pháp v chỉ hai ng y sau khi Nhật đầu h ng Ðồng Minh, Việt Minh tiến v o H Nội. Giữa tiếng hoan hô ngất trời của dân chúng, Hồ chí Minh đọc Tuyên Ngôn Ðộc Lập. Nhưng đó chỉ l giai đoạn mới bắt đầu. Hồ chí Minh không muốn có chiến tranh với người Pháp. Ông đã l m bất cứ điều gì để tránh né chiến tranh. Qua cơ quan tình báo Mỹ OSS m ông đã xây đắp mối quan hệ thân tình trong chiến tranh, ông kêu gọi chính phủ Mỹ ủng hộ - ông hứa l sẽ để cho Mỹ dùng vịnh Cam Ranh để Hải Quân Mỹ đóng quân. Ông lập ra một chính phủ liên hiệp, ông rán kiềm chế sự nóng nảy v đồng ý chấp nhận sự hiện diện quân sự của Pháp v Việt Nam chấp nhận l m hội viên trong khối Liên Hiệp Pháp, miễn sao cuối cùng rồi người Pháp đồng ý trao lại nền độc lập cho Việt Nam. Nhưng sau những thất bại nhục nhã m Pháp phải chịu đựng trong thế chiến hai, ngay cả những người Pháp trong Ðảng Xã Hội cũng không chấp nhận nổi ý tưởng từ bỏ những thuộc địa cũ. Cho nên đầu năm 1947, Hồ rút v o rừng rậm để tiến h nh cuộc chiến tranh du kích. Ông được ghi nhận có nói với người bạn Pháp Jean Sainteny như sau, " Pháp có thể giết 10 người Việt Nam trong khi Việt Nam giết một người Pháp, nhưng Pháp cuối cùng l phe sẽ mỏi mệt v thua cuộc ." Diễn tiến tình hình xảy ra sau n y đúng y như thế. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp cũng như trong thế chiến hai, Hồ v những đồng chí của ông ta sống trong những hang động hay những túp lều tranh trên núi, phải di chuyển thường xuyên để tránh sự truy lùng của Pháp v thường xuyên chịu cảnh đói, bị bệnh sốt rét v kiết lỵ. Năm 1954, Việt Minh thắng trận chiến quyết định Ðiện Biên Phủ nhưng chiến tranh vẫn cứ tiếp tục. Mao trạch Ðông bắt đầu cung cấp chiến cụ v sự huấn luyện cho quân Việt Minh đang ở trong tình trạng trang bị kém cỏi. Trong lúc đó Mỹ bắt đầu chi viện cho những n- lực chiến tranh của Pháp. Những siêu cường giờ đây đã dính líu sâu đậm v o Việt Nam, v năm 1954 họ gặp nhau ở Genève để thảo luận, d n xếp về vấn đề Việt Nam. Dưới áp lực của Bắc Kinh v Moscow, Việt Minh đồng ý v chia đôi ở vĩ tuyến 17. Chuyện chọn vĩ tuyến 17 cũng không do chính phủ ông Hồ quyết định m do T u v Nga định đoạt. Nói như thế để thấy chính phủ ông Hồ chưa có sự độc lập thật sự trong quyền h nh m ho n to n bị lệ thuộc v o hai nước Cộng sản đ n anh Nga, T u. Theo hiệp định, một cuộc bầu cử sẽ được tổ chức trong vòng 2 năm để thống nhất đất nước. Tuy nhiên Bắc Kinh v Mạc tư Khoa không bảo đảm chuyện bầu cử sẽ được tiến h nh như dự tính, Mỹ không ký v o hiệp định v một thời gian sau hiệp định Genève không lâu, Ngoại trưởng Mỹ John Foster tuyên bố Mỹ sẽ bắt đầu bảo trợ một quốc gia không Cộng sản ở miền Nam. Dưới nhãn quan của những nh cách mạng Việt Nam, hiệp định Genève l bước đầu đưa đến chiến tranh Ðông Dương lần thứ hai. V o năm 1954, sau khi Việt Minh cuối cùng đánh đuổi quân Pháp được Mỹ h- trợ ra khỏi Việt Nam. Nhưng chuyện đó cũng l lời cam kết của những đồng minh Cộng sản của Hồ, vốn thích hòa dịu với Washington sau chiến tranh Triều Tiên hơn l cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Tại hiệp định Genève năm 1954, những nh thương thảo Trung Cộng v Liên xô rút bỏ sự ủng hộ cho vấn đề một nước Việt Nam thống nhất v có ý muốn đi theo kế hoạch chia quốc gia n y ở vĩ tuyến 17 cho đến năm 1956 hơn, khi m những cuộc bầu cử được tổ chức ( thực tế l những cuộc bầu cử đã không xảy ra ) để quyết định phần còn lại của đế quốc gọi l miền Nam Việt Nam có muốn gia nhập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không, nơi m Hồ đã tuyên bố độc lập từ năm 1945. Theo nữ ký giả Carol Brightman, trong một b i điểm cuốn sách Hồ chí Minh của Duiker, đã nhận định l Sử gia Duiker đã cung cấp nhiều tin tức mới về những mối quan hệ đầy sóng gió m Hồ có với cả Liên xô v Trung Cộng. Sự chú ý của Liên xô d nh cho cách mạng Việt Nam đã ở mức độ sút kém, không chỉ sau thế chiến 2 v năm 1954 m từ năm 1923, khi Hồ đến Moscow tập t nh l m cách mạng v gia nhập v o cách mạng thế giới, v Stalin nghi ngờ Quốc Tế Cộng Sản ( Comintern ) đã mang một khuôn mặt quốc gia hơn l quốc tế. Năm 1924, khi Hồ rời Moscow để rán th nh lập một đảng Cộng sản trong giới những người Việt Nam lưu vong ở Trung Hoa, Hồ l m điều n y không có sự tán th nh đồng ý của Stalin. V o cuối thế chiến 2, khi Hồ thiết lập một mối quan hệ mong manh với Hoa Kỳ - một bước đi cực kỳ khôn ngoan, đã giúp Hồ chế ngự được phe quốc gia đối thủ, v sau khi Nhật đầu h ng, cho phép Hồ thâu tóm quyền lực nhanh chóng - Stalin nghi ngờ nhiều về sự trung th nh của Hồ. V o năm 1947, hai năm sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập - khi Hồ giới thiệu nh nước mới với những lời " Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Họ được Thượng đế cho những quyền không thể chuyển nhượng được.." - Phe Trung Cộng công nhận tính chất hợp pháp của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong khi Liên xô không l m như vậy. ( Khi nhân viên tổ chức tình báo OSS của Mỹ tên Archimedes Patti đọc bản thảo b i Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hồ năm 1945, ông hỏi có vẻ ngạc nhiên l Hồ có thật tình muốn mượn câu viết trong Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Mỹ để đem v o trong Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Việt Nam không? Patti hỏi Hồ vì bản thân Patti cảm thấy cái gì đó lấn cấn không ổn trong người. Hồ ngả người trên ghế, lấy ngón tay đặt lên môi v hỏi nhỏ, " Tôi không nên dùng nó ?" V o năm 1950, một năm sau khi Cộng sản lên nắm quyền ở Trung Hoa, Hồ được mời đi xe lửa cùng chung với Mao v Chu ân Lai tới Moscow, nơi m Trung Cộng v Nga sẽ ký một hiệp ước kéo d i 30 năm. Hồ hy vọng sẽ " đối chất " với Stalin về cuộc chiến tranh chống Pháp v lấy cảm tình của Liên xô trong sự h- trợ. Nhưng theo lời thuật lại của Nikita Khrushchev, Stalin đã đối xử t n tệ v khinh miệt Hồ. Tại buổi lễ ký kết, Khi Hồ đề nghị Stalin nên ký một hiệp ước tương tự với Việt Nam, Stalin trả lời rằng vì Hồ tới Moscow với tư cách viếng thăm không chính thức nên không Nga không ký với Việt Nam được. Hồ đề nghị một cách vui vẻ pha chút đùa cợt rằng ông sẽ bay quanh th nh phố bằng trực thăng v sau đó sẽ đáp xuống phi trường với những nghi lễ long trọng thích hợp. Stalin cắt ngang lời , " Ồ mấy ông Á châu nh ông b y đặt ra nhiều chuyện tưởng tượng quá. " Nhưng Hồ đã thuyết phục được Liên xô công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong năm ấy v cung cấp sự giúp đỡ vật chất cho Việt Minh với một điều kiện của Stalin l Trung Cộng phải đóng một vai trò chủ chốt trong việc hướng dẫn cuộc đấu tranh. Bây giờ nhìn lại người ta mới thấy Stalin đánh giá Hồ sai rất nhiều; Hồ l một người của quốc tế v trở th nh một người Cộng sản vì ông cũng l người quốc gia. Giống như người đồng chí đ n em Phạm văn Ðồng từng nói, " Người Cộng sản l người yêu nước chân th nh nhất." Vấn đề thật sự của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xảy ra sau n y với phía Trung Quốc, l phía tin chắc l năm 1950 cuộc chiến với Mỹ có thể nổ ra bất cứ lúc n o ở bất cứ ch- n o dọc theo những biên giới của họ. ( Ðúng vậy, sau cùng, đó l năm quân đội Trung Cộng vượt qua vĩ tuyến 38 ở Triều Tiên.) Cho nên điều quan trọng l phải xây dựng h ng r o phòng thủ Trung Hoa ở Ðông Dương. Quyết định n y tự nhiên đã khiêu khích chính phủ Truman dính líu sâu đậm hơn v o Ðông Dương v v o tháng 4, cả Washington v Bắc kinh đều cung cấp vũ khí v gửi những công tác giúp đỡ đến đồng minh của họ ở Việt Nam. Nhìn lại những biến chuyển nóng bỏng v o năm 1950, người ta thấy rằng Trung Cộng v Mỹ đã có những chiến thuật ngăn chận tương ứng nhiều như thế n o ở Ðông Nam Á châu cho tới thử thách cuối cùng đưa tới đụng độ ở Triều Tiên v l m thế n o m cuộc chiến của Mỹ đã bị lôi cuốn v o cuộc chiến tranh lạnh một thời gian d i trước khi quân Pháp bại trận ở Ðiện Biên Phủ năm 1954. Những rắc rối m Hồ gặp phải với chuyện Trung Cộng xía v o những vấn đề nội bộ dần dần lớn dần lên. Bộ trưởng quốc phòng Võ nguyên Giáp đã dùng khuôn mẫu chiến tranh nhân dân của Trung Cộng để chống lại Pháp, v sự có mặt của những cố vấn Trung Cộng không phải không được tiếp đón niềm nở. Nhưng rồi chuyện dần dần sáng tỏ về vấn đề chỉ thị của Stalin gửi Mao trong đó bao gồm việc cần phải tái tổ chức Ðảng Cộng Sản Ðông Dương ( m Hồ đã sáng lập ở Hồng Kông năm 1930) theo chiều hướng chính thống nhiều hơn.Dưới sự hướng dẫn của Hồ, mô hình Lê-nin-nít của cuộc cách mạng trải qua hai giai đoạn - trong đó một mặt trận liên kết rộng rãi sẽ ho n th nh công tác giải phóng quốc gia trước khi Ðảng bắt đầu sự chuyển hóa lên chủ nghĩa xã hội - đã xảy ra một cách chần chừ, dằng dai, đối với những người chủ trương cứng rắn như Trường Chinh ( cũng như Mao v Stalin), giai đo n đầu đã kéo quá d i thời gian. Với sự chiến thắng của phe Cộng sản Trung Hoa trên đại lục v viễn cảnh chiến thắng quân Pháp của Việt Nam ng y c ng tăng lên, những cấp lãnh đạo Ðảng bỏ phiếu năm 1951 để tiến v o giai đoạn hai. (Nhắc đến Võ nguyên Giáp người ta chưa quên phe Lê Duẩn - Lê đức Thọ đã l m nhục Giáp sau n y bằng cách phong cho ông cựu Tổng tư lệnh quân đội kiêm Bộ trưởng quốc phòng Võ nguyên Giáp l m chức " Trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch " ( nói nôm na l " cai đẻ " ) v o tháng 4 năm 1984 . Giáp phải cắn răng m nhận vì không dám chống lại liên minh Duẩn- Thọ. Sau n y có dịp nói chuyện với nh văn Sơn Tùng, Giáp phân bua, chống chế cho h nh động hèn kém cúi đầu nhận chức " cai đẻ" của mình như sau: " Tôi l m tất cả việc n y vì tôi nhận được ở Bác Hồ một điều khi cùng ở với Bác ở hang Pắc Bó, khi lót cây Bác có nói như thế n y, " Việc gì dù nhỏ đến mấy m có lợi có ích cho nhân dân, cho tổ quốc thì l m. Việc gì dù nhỏ, nhỏ đến mấy m có hại cho dân cho nước thì nên tránh. " ) Khi chiều hướng ngả sang bên tả rồi thì những cuộc vận động " tố khổ " kiểu Trung Cộng đã được tiến h nh ở mức độ những l ng xã, nơi m những quy luật cải cách ruộng đất tập trung chú ý v o chuyện giảm thiểu ảnh hưởng kinh tế v chính trị của tập lớp địa chủ. Duiker căn cứ nhiều v o tình báo Pháp v những người Việt Minh hồi chánh để thấy những cuộc thảo luận phần lớn được coi như những sự đấu tranh quyền lực giữa những cấp lãnh đạo Ðảng, nó đi ra ngo i phạm vi đường lối m trở th nh một cuộc " cách mạng chống địa chủ " v o giai đoạn hai. Ðó l một cách để lôi kéo nông dân, một cách để thưởng nông dân vì sự trung th nh v để cho những sự hy sinh thêm có ý nghĩa, đó l cách l m lớn cái " biển " lên để Ðảng v quân đội bơi trong đó. Lê đức Thọ có phát biểu về những nhu cầu thực tế như sau v o năm 1952, " Nếu ai muốn nông dân tham gia đấu tranh quân sự, điều cần thiết đầu tiên l phải gợi lòng căm phẫn kẻ thù trong lòng họ." Duiker đoán rằng Hồ vốn l một người thích l m từ từ, đã nổi cáu trước chiều hướng mới n y vì nó giới hạn khả năng của ông để vận động tình hình quốc tế v bởi vì nó tạo nên một thái độ quỳ lụy trước sự dạy d- của Trung Cộng m Hồ đã từng chống đối trong quá khứ qua câu nói để đời, " Th phải hửi phân thằng Tây thêm một chút còn hơn phải ăn phân thằng T u suốt đời." (Hồ nói câu n y v o khoảng năm 1946, đúng v o lúc ông cố gắng thương thảo với Pháp trong lúc đám quân Quốc dân đảng của T u đang đóng tại miền Bắc Việt Nam).Duiker ghi nhận khi Hồ lên tiếng ca ngợi chính quyền Cộng sản mới th nh lập ở Bắc Kinh, ông chỉ đóng kịch t i tình để l m vừa lòng nước viện trợ m thôi. Trong bất cứ tình huống n o, khi một chương trình được đưa v o h nh động, nó chỉ có hình thức trình diễn bên ngo i nhiều hơn l thực chất lợi lộc bên trong; v chính sách của Hồ luôn đi theo con đường ôn hòa đã tiếp tục được tiến h nh cho đến năm 1954, khi những tiếng nói đối lập được thúc giục bởi những cố vấn của Mao, đã dập tắt ý muốn của Hồ. Sau khi ý muốn Washington muốn ngăn chặn cuộc bầu cử ở miền Nam đã lộ ra quá rõ r ng, ở miền Bắc một cuộc cải cách mới với nhiều sự trả thù hơn được tiến h nh, trong đó những địa chủ cứng đầu, đa số l người Thiên chúa giáo, đôi khi bị tra tấn v ngay cả bị giết. Hồ lên án những vụ tra tấn m ông ta cho l trò mọi rợ của đế quốc. Ông đặt câu hỏi rằng, " Tại sao chúng ta đang tiến h nh một chương trình công bằng chính đáng m lại đi dùng những phương pháp t n bạo ?" . Chỉ khi có những bộ đội Việt Minh phản đối những trận đấu tố gia đình họ thì cuộc cải cách mới thối lui v các viên chức thú nhận l " đã đánh giá quá cao quân thù ."Tuy nhiên đã quá trễ để giữ lại những người muốn Thiên chúa giáo di cư v o Nam. Có chừng 600000 người theo " Ðức mẹ đồng trinh " v o Nam trong khi chừng 900000 người Thiên chúa giáo ở lại. Duiker phê phán nặng nề Hồ trong giai đoạn n y chứ không đổ l-i cho cơ chế Cộng sản. Dù Hồ không trực tiếp thi h nh cuộc cải cách ruộng đất hay vụ đ n áp những trí thức phản kháng trong " Nhân Văn Giai Phẩm " sau đó, ông sẵn lòng tha thứ cho những h nh động t n bạo của cấp dưới vì lợi ích của sự nghiệp cách mạng. Duiker nhận xét rằng, " Hồ chí Minh trở th nh tù nhân của sự sáng tạo của ông ta.. vì trong khi uy tín đang xuống nên ông không tránh được đường đi cứng ngắt của một hệ thống t n sát số phận của nhiều người để đạt cho được chỉ tiêu đạo đức cách mạng của kế hoạch của cấp trên" Sự thận trọng của Việt Nam đối với ảnh hưởng Trung Cộng gia tăng thêm trong thời gian chiến tranh với Mỹ. Những viện trợ cho H Nội đôi khi bị tắc nghẽn vì sự tố cáo lẫn nhau giữa Moscow v Bắc kinh. Nga theo đường lối sống chung hòa bình với phương Tây năm 1956, trong khi Bắc Kinh v o cuối thập niên 1960 đã cổ súy cuộc cách mạng văn hóa. Duiker ngạc nhiên khi thấy lớp đ n em kế tục Hồ không phải l Phạm văn Ðồng v Võ nguyên Giáp m l Lê Duẩn v Lê đức Thọ, Duẩn v Thọ l những kẻ giáo điều, những kẻ m Tổng Thống Mỹ Johnson gọi l " những kẻ hiếu chiến từ miền Bắc." Những kẻ chủ chiến Lê Duẩn v Lê đức Thọ sau khi tước quyền Hồ chí Minh đã tiến h nh cuộc chiến tranh nhuộm đỏ miền Nam cho đến ng y to n thắng năm 1975. Ở H Nội, Hồ sống đơn giản như khi còn sống trong vùng du kích kháng chiến. Ông từ chối dọn v o dinh to n quyền m sống trong một ngôi nh s n sau lưng dinh to n quyền nằm cạnh một dòng suối. Ông l Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nhưng ông muốn người dân gọi ông l Bác Hồ. Người ta thường thấy ông bận bộ đồ Kaki, đi dép râu nói chuyện với nông dân hay với những trẻ em hớn hở. Ðối với những nh quan sát bên ngo i thì cách sống của ông có vẻ như l một m n tự trình diễn m u mè giả tạo. Sau hết, ông l người chinh phục người nghe bằng cách nói nhiều ngôn ngữ khác nhau, thích sự khen ngợi v tình yêu phụ nữ d nh cho ông. Duiker kể rằng lúc ở Trung Hoa ông đã lấy vợ hai lần v khi ở H Nội ông đã l m cha một đứa nhỏ. Duiker không giải thích nhiều về t i đóng kịch của Hồ, nhưng có nhiều điều đạo đức Khổng giáo m Hồ chưa l m được. Theo truyền thống Khổng giáo, vua phải mẫu mực trong chuyện h nh động đúng. Hồ chưa phải l người mẫu mực trong đời sống tình cảm cá nhân, có thể l do bản thân ông m có thể l do tổ chức chính trị ( Ðảng) không cho phép ông công khai sống đời tình cảm bình thường của một người đ n ông vì Ðảng muốn biến ông th nh một biểu tượng siêu ph m có lợi cho cuộc đấu tranh. Bằng cách từ chối nếp sống xa hoa vương giả, Hồ muốn chứng tỏ chính chân thực của cuộc cách mạng của ông đến to n dân l đoạn tuyệt với quá khứ phong kiến. V o cuối thập niên 1950 v đầu 1960, Hồ đi nước ngo i nhiều để khéo léo vận động l m sao cho Liên xô v Trung Cộng viện trợ cho chính quyền của ông ta dù mối quan hệ Nga-Trung ng y c ng đổ vỡ trầm trọng. Nhưng vai trò của ông ng y c ng có tính cách nghi lễ nhiều hơn. Lê Duẫn, một người trải qua nhiều năm tù trong nh giam thực dân Pháp, đã lên nắm quyền v hất cẳng ông Hồ ra rìa. Chịu chung số phận với ông l Ðại tướng Võ nguyên Giáp. Duiker cho rằng Hồ mất dần quyền lực từ cuộc cải cách ruộng đất t n bạo v o những năm 1955-1956, v o lúc ảnh hưởng Trung Cộng đang đè nặng lên cuộc cách mạng Việt Nam. Theo Duiker, Hồ không trực tiếp dính líu đến cuộc cách mạng cải cách ruộng đất nhưng với danh tiếng của ông l một người lãnh đạo biết hết mọi chuyện v lo hết mọi điều, uy tín ông bị sứt mẻ nặng nề vì sự t n bạo trong chiến dịch. Ðầu thập niên 1960, Hồ cảnh cáo những đồng chí của ông về quyết định ra lệnh tổng nổi dậy quá sớm ở miền Nam v chống lại chuyện quá đề cao vấn đề đấu tranh quân sự. Hồ muốn tránh đem Mỹ v o cuộc chiến tranh, v cho đến khi chính phủ Johnson bắt đầu ném bom miền Bắc, Hồ vẫn tin tưởng Washington sẽ từ bỏ sự ủng hộ chính quyền S i Gòn. Nhưng chuyện không diễn ra như thế. Khi quân Mỹ bắt đầu đổ v o Việt Nam năm 1965, Hồ đã 75 tuổi v không còn chút quyền lực gì trong chính quyền do ông tạo dựng nên. Năm 1962, có một nh báo Pháp tên Bernard Fall đến H Nội phỏng vấn Hồ chí Minh v mong sẽ tìm ra những câu trả lời cho những chuyện bí ẩn trong đời Hồ. Hồ cũng đã nói thẳng l ông không muốn nói hết những bí ẩn về mình, Hồ nói với Bernard Fall như sau, " À, như ông thấy, tôi l một người đã gi , rất gi .. Tôi muốn giữ lại một số bí mật nhỏ của tôi." Bản thân Hồ không muốn khai ra những bí mật về mình thì cũng khó m bạch hóa tất cả những bí ẩn của ông được. Duiker đánh giá Hồ chí Minh l " Một nửa Lê Nin v một nửa Gandhi " , có nghĩa l con người Hồ chí Minh vừa độc ác, t n bạo như Lê Nin, vừa đạo đức, thánh thiện như thánh Gandhi. Phần t n bạo Lê Nin trong người Hồ đã quá rõ r ng, nhưng phần thánh thiện Gandhi trong Hồ vẫn còn mờ nhạt tuy Hồ luôn tìm kiếm cách giải quyết vấn đề m không cần đến sức mạnh quân sự v khác với những đồng chí của ông, ông có một tầm nhìn xa nhạy bén về những thực tế về quốc tế v quốc nội, từ đó đưa ra một giải pháp thực tiễn, khéo léo v kiên nhẫn để khôn ngoan tìm kiếm những giải pháp bằng đường lối ngoại giao. Không may thay, Duiker trách cả Pháp lẫn Mỹ đều không cảm thấy điều đó để đáp ứng đúng lúc, để cho vấn đề tranh chấp được giải quyết theo đường lối hòa bình v có thể đã tiết kiệm xương máu cả h ng triệu nhân mạng. Học giả Trần trọng Kim trong hồi ký " Một cơn gió bụi ", có kể lại chuyện năm 1946 có qua Hương Cảng ( Hong kong) gặp vua Bảo Ðại. Khi gặp nhau, lời đầu tiên m vua Bảo Ðại nói với cụ Trần l : " Chúng mình gi trẻ mắc lừa bọn du côn." ( Trích từ cuốn hồi ký " Một cơn gió bụi " trang 146 của Trần trọng Kim ) Chữ" du côn" m vua Bảo Ðại dùng để chỉ Hồ chí Minh v tổ chức Việt Minh ngay từ năm 1946 thật l quá đúng. Hồ chí Minh, qua tổ chức Việt Minh, ngay từ 1945 đã có những h nh động bạo ngược, bắt người lấy của, giết hại những người không theo đảng họ, hay vì tư thù chém giết một cách t n nhẫn. Họ đánh Pháp nhưng mục đích cốt yếu đạt được không phải vì quốc gia, nhưng họ phải lợi dụng hai chữ quốc gia để chống với quân địch m đứng v o cái địa vị tranh đấu cho nền độc lập nước nh . Chỉ trong mấy năm th nh lập, Việt Minh do Hồ chí Minh lãnh đạo đã lòi ra nanh vuốt của lo i quỉ dữ, của bọn người bất nhân t n độc nên đã bị vua Bảo Ðại gọi l bọn du côn. Ngay trong di chúc thật Hồ chí Minh cũng thú nhận ông không ngại l m việc ác vì muốn noi gương Trần thủ Ðộ ng y xưa, sẵn s ng l m ác m vẫn l m cho nước gi u dân mạnh. Thật ra Hồ chí Minh có sự nhầm lẫn lớn lao khi so sánh chuyện l m ác của mình với Trần thủ Ðộ. Trần thủ Ðộ vì muốn bảo vệ ngôi báu cho nh Trần nên đã t n nhẫn ra tay t n sát hậu duệ của nh Lý. Nhưng đối với nhân dân Trần thủ Ðộ không có h nh động n o có thể gọi l thất nhân tâm, giết người vô tội như Hồ chí Minh đã l m trong cải cách ruộng đất. Vì không l m điều gì sai quấy với nhân dân nên Trần thủ Ðộ đã đo n kết được nhân dân chống giặc Nguyên v sau đó xây dựng một đất nước gi u mạnh. Hồ chí Minh thì ngo i nhiệm vụ gi nh độc lập dân tộc, ông còn có bổn phận đối với Quốc Tế Cộng Sản m ông l hội viên, nên sau khi kháng Pháp th nh công ông đã nghe theo lời Trung Cộng để l m cuộc cải cách ruộng đất t n bạo, giết hại cả trăm ng n dân vô tội. Nhưng rồi cuối đời, ông sống những ng y thê thảm như ông đã trối trăn trong chúc thư thật v bị chính chế độ do ông dựng ra đ y ải, giam cầm ông. Ông như một phù thủy ác độc tạo ra âm binh để dùng trong những việc mờ ám. Nhưng vì l loại phù thủy không cao tay ấn nên âm binh quay ngược lại hãm hại người phù thủy đã tạo ra chúng. Cuộc đời của Hồ chí Minh l một bi thảm kịch. Thảm kịch không chỉ xảy ra cho bản thân ông m còn cho cả dân tộc Việt Nam. B i học m chúng ta có thể rút được từ cuộc đời Hồ chí Minh l đừng bao giờ áp dụng một cách máy móc một học thuyết ngoại lai n o ( Tây, T u, Nga, Mỹ ) v o đất nước Việt Nam m không cân nhắc, cẩn thận vì học thuyết n o cũng có cái đúng, cái sai. Ðem áp dụng một cách mù quáng thì lợi bất cập hại như Hồ chí Minh đã đem với học thuyết Mác - Lê v o Việt Nam. Sai lầm của một thầy thuốc thì giết mất một con bệnh, sai lầm của một nh chính trị l giết luôn không phải một thế hệ m nhiều thế hệ người dân. Ðất nước Việt Nam ng y hôm nay vẫn còn tiếp tục chảy máu vì những di sản độc hại do Hồ chí Minh để lại. Máu sẽ phải chảy một lần nữa để rửa cho sạch những t n tích độc hại của một chủ nghĩa ngoại lai v hy vọng đây l lần chót người Việt Nam sẽ tỉnh táo nắm giữ vận mạng đất nước mình, xây đắp một nền độc lập thật sự cho quê hương Việt Nam mến yêu chứ không còn l m bù nhìn v tay sai cho ngoại bang như Hồ chí Minh v những đám lãnh đạo hai miền Nam Bắc đã l m trong suốt thế kỷ qua. Lawndale, Một ng y tạnh ráo
có nắng v ng hoe đầu tháng
3 năm 2004
|