Gửi lại trước khi về “cõi” (3)
 
 

Bất ngờ... “tao ngộ chiến”

Về già, nghèo gì thì nghèo chứ “quĩ thời gian” của anh hưu trí như Tễu tôi thì rất “giàu”. Lang thang bách bộ đến một ông “sĩ phu” gần nhà. Thấy ông đang cặm cụi viết lách bên những bản thảo và các sách tra cứu ngổn ngang. Vì quen thân nhau và không muốn làm phiền, tôi lặng lẽ ngồi cạnh và tiện tay lục trong đống giấy tờ hỗn độn đó, nào là Hoàng Hữu Nhân, Phan Đình Diệu, Lê Giản, Nguyễn Thanh Giang, Phạm Quế Dương. v.v và v.v... lại có cả T.A, Nguyễn Trung Trực... Đọc xong mà phát rợn cả người. Thầm nghĩ: Thôi chả dại gì mà “dính” vào: Táy máy thế nào mà Tễu tôi lục được một bài viết nằm lẫn trong tập “tán phát” đã cũ có “cái tít” ngồ ngộ “Tao ngộ chiến” kích động trí tò mò của Tễu tôi. Là một anh lính nghe chữ “Tao ngộ chiến” là nghĩ đến “oánh nhau” rồi. Nhưng không phải... đây chỉ là một lá thư riêng của cá nhân. Tuy vậy càng đọc, nhiều đoạn phải suy luận đoán chữ, đọc xong toát hết cả mồ hôi. Chả biết tác giả là ai, nhưng thấy hay Tễu tôi xin mạn phép “đạo văn” cho nhiều người cùng đọc. Thời buổi này khá nhiều nhà “đạo văn”: để thành những “phó tiến sĩ, tiến sĩ” lên đời nên Tễu tôi xin thanh minh cùng tác giả là Tễu tôi không có ý đồ xấu xa đó. Mà đem đăng báo thì không có tờ báo nào “thèm đăng hoặc dám đăng” nên không có tiền nhuận bút. Nội dung của tác giả, Tễu tôi đảm bảo ghi lại đúng 100% dù rằng còn có tiểu tiết Tễu tôi cũng chưa nhất trí với tác giả. Đã mấy chục năm qua “thần chân lý” trốn biệt lấy gì làm chuẩn mà phán quyết đúng, sai. Thôi thì... Tễu tôi thả cái “Tao ngộ chiến” cho dòng đời phân giải: Tao ngộ chiến...

Anh Hoà thân mến!
Chiều mồng 6 tháng 11 năm 1990, sau khi may mắn được xem bức tranh anh vẽ dở về. “Các cô gái đếm bom nổ chậm ở Ngã ba Đồng Lộc” để tham dự triển lãm toàn quốc lần này. Trên đường tôi trở về nhà đã xẩy ra trận “Tao Ngộ Chiến” giữa tôi và “Đại thi hào” Tố Hữu. Câu chuyện thật bất ngờ nhưng cũng rất thú vị và vui vẻ, tôi xin tường thuật lại anh nghe:
Tạm biệt anh ra về, đạp xe qua công viên Bách Thảo giữa dòng người, xe hối hả trong những giọt mưa rơi lất phất của đợt gió mùa sớm. Khi đến đầu đường Phan Đình Phùng, tự nhiên tôi nẩy ra ý định ghé vào thăm “Đại thi hào Tố Hữu”. Ý muốn được hân hạnh trực tiếp gặp thi sĩ đã có từ lâu trong tôi nên nhiều lần qua đường Phan Đình Phùng tôi đã cố tìm xem “Cây táo ông Lành” mọc ở chỗ nào, nhưng chưa phát hiện ra. Tôi biết rằng đường Phan Đình Phùng là những toà biệt thự sang trọng nhất Thăng Long của các quan “Đại thần” xưa và nay, nên tôi tin chắc rằng Nhà thơ phải chiếm một ngôi biệt thự sang trọng nhất. Tôi phán đoán thế nên khi đến số nhà 78 Phan Đình Phùng, thấy trước cửa có một quan chức đứng đó tôi liền hỏi dò. Được sự chỉ dẫn đúng với dự đoán của tôi, Nhà thơ chiếm ngự ngay toà biệt thự số 78 đường Phan Đình Phùng. Đứng trước chiếc cổng sắt đồ sộ sơn xanh chạm chữ Thọ to tướng của toà biệt thự hết sức lộng lẫy sang trọng, xây dựng theo kiến trúc cổ đại Phương Đông, hài hoà trong đường nét hiện đại Phương Tây, tôi vừa mừng, vừa hồi hộp lo lắng. Tổ tiên ta dạy rằng “Muốn bắt hổ thì phải vào hang”, chẳng biết trong hang có gì “Hổ” hay là “Gấu” ?.... Bắt được “Hổ” hay bị “Gấu” xơi ?... Tôi liều lĩnh thò tay bấm chuông điện trên góc cổng bên trái. Ba phút trôi qua không thấy động tĩnh gì. Tôi hơi thất vọng: thò tay lần thứ hai ấn chuông mạnh và lâu hơn. Một thiếu phụ bước ra cổng hỏi:
- “Ông là ai ?”
Ngắm nhìn thiếu phụ trắng trẻo, xinh xắn, có những nét hao hao của khuôn mặt Nhà thơ, tôi đoán chắc đây là “ái nữ” của Nhà thơ nên mạnh dạn: “cháu là con bác Tố Hữu phải không ?”
Thiếu phụ trả lời: “Vâng! Ông hỏi gì ?”
Tôi nói: “Chú ở Thái Bình lên đây, lên thăm “Bảo tàng Hồ Chí Minh” và vào viếng “Lăng Bác”, nhân tiện ghé vào thăm sức khoẻ bố cháu, mấy chục năm nay không gặp”.
Thiếu phụ trả lời: “Để cháu vào xem bố cháu có nhà không”.
Tôi chờ ba phút thì thiếu phụ ra mời tôi vào nhà.
Bước vào phòng khách tôi thấy một phụ nữ khoảng trên dưới sáu mươi tuổi đang ngồi tiếp khách, một thiếu phụ nói giọng Huế. Tôi lại phán đoán, đây có thể là phu nhân của Nhà thơ. Một nhân vật mà tôi đã từng quen biết trong mấy tư thơ “Trái tim chia ba mảnh, mảnh lớn nhất cho Đảng, mảnh vừa cho thơ và mảnh để em yêu”. Phán đoán và tự tin nên tôi mạnh dạn chào: “Chào chị Tố Hữu! Mấy chục năm qua rồi! Hôm nay nhân dịp được lên thăm “Bảo tàng Hồ Chí Minh” và viếng “Lăng Bác” tôi xin phép được đến thăm sức khoẻ anh, chị”.
Bà liền hỏi: “Thế cụ ở đâu lên ?”
Tôi trả lời: “Tôi ở Thái Bình”.
Bà nói: “Mời cụ ngồi chơi. Tôi lên mời anh Lành xuống gặp cụ”.
Tôi ngồi xuống ghế chờ và nhân tiện hỏi chuyện ngưòi khách được biết cô từ Huế ra thăm Hà Nội.
Hai phút sau Nhà thơ xuất hiện trước cửa phòng khách. Như bị điện giật, tôi đứng bật dậy, cố buột miệng: “Chào thủ trưởng”.
Nhà thơ trả lời: “Lên thăm nhau thì thủ trưởng gì!”. Sau câu nói đó Nhà thơ liền chỉ tay vào mặt tôi và hỏi: “Để râu à! Để râu để doạ ai đấy!”. Đồng thời Nhà thơ xoa tay trên cằm mình và nói: “Tớ không có râu!”.
Trước cử chỉ và thái độ bất nhã đó tôi liền trả lời: “Thưa Anh, Anh có biết Cụ Hồ để râu lúc bao nhiêu tuổi không ? Anh không có râu, không có nghĩa là anh không già! Tôi có râu không có nghĩa là tôi không trẻ. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Nam vô tu bất nghi. Nữ nhi không vú lấy gì nuôi con ?” Không có râu biết đâu cũng là một dạng quái thai thì sao ?”.
Hẳn Nhà thơ đã sửng sốt trước mấy câu trả lời của tôi. Ông bước vào, vừa đi vào ghế vừa nói: “Thôi không nói chuyện râu nữa! Ông ngồi xuống và hất hàm hỏi tôi: “Năm nay bao nhiêu tuổi rồi ?”.
Tôi trả lời: “Anh thử đoán xem Tôi khoảng bao nhiêu tuổi rồi!”.
Nhà thơ ngó nhìn tôi kỹ hơn và đoán: “Khoảng dưới 60 chứ bao nhiêu ?”.
Tôi trả lời: “Anh đoán sai rồi. Tôi gần bẩy mươi rồi đấy!”.
Nhà thơ hỏi tiếp: “Thái Bình ở đâu ?” Có ở Thuận Vi không ? ở đấy có HTX Toàn Thắng làm ăn khá lắm. Thái Bình là tỉnh năm tấn. Các chú Tiền Hải, Quỳnh Côi, Vũ Thư làm ăn tốt. Mình vẫn nhớ nhiều vùng Thái Bình lắm.
Tôi trả lời: “Tôi ở huyện Thư Trì, xã Hồng Lý cũng gần Thuận Vi. Nhưng thưa Anh, hợp tác xã “Toàn Thắng” bây giờ thành “hợp tác xã Toàn Bại” rồi. Thái Bình là tỉnh năm tấn nhưng bà con nông thôn còn đói rách lắm. Còn nhân dân Thái Bình cũng luôn nhắc đến Nhà thơ, thấy Nhà thơ mạnh khoẻ nhân dân cũng mừng.
Nhà thơ hỏi liền: “Thấy ở đâu”.
Tôi trả lời: “Trên tivi. Nhân dịp kỷ niệm Anh bảy mươi tuổi”
Nhà thơ tỏ vẻ hoài nghi hỏi: “Có thật hả ?”.
May quá! Người thiếu phụ xứ Huế đã giúp tôi giải đáp thắc mắc đó của nhà thơ: chứ mình cơm không đủ ăn và thời gian đâu mà xem tivi. Chỉ văn kỳ thanh mà bất kiến kỳ hình!
Thiếu phụ vui vẻ nói: “Thưa Bác có thật đấy! Cháu ở trong Huế cũng thấy Bác trong tivi. Thấy Bác không những khoẻ mà còn rất trẻ nữa.”
Nhà thơ gật đầu mỉm cười tin tưởng.
Tôi liền nói: “Thưa Anh, đối với thi sĩ Tố Hữu bây giờ có nhiều ý kiến khác nhau lắm, Kẻ khen, người chê! Tôi thì tôi cho rằng: sông có khúc, người có lúc! Cũng như thơ Tố Hữu có nhiều bài hay nhưng cũng có nhiều bài rất dở!
Nhà thơ liền ngắt lời tôi, giơ tay vỗ vào ngực và ưỡn người ra hỏi: “Bây giờ dân nói gì về Tố Hữu ?”
Tôi bình tĩnh trả lời: “Thưa ông, bây giờ dân người ta nói về Tố Hữu như thế này. Xưa kia cùng với “Con cá chột nưa” ở trong tù thì Tố Hữu với dân là một. Còn bây giờ ôtô, nhà lầu rồi, quyền cao chức trọng rồi lầu son gác tía lại có bày chim Hoàng Anh nó hót bên cạnh thì Tố Hữu quên dân rồi!”.
Nhà thơ đổi sắc mặt: “Dám nói thế hả ?”.
Tôi nói tiếp: “Thưa ông, người ta vẫn còn nhắc đến câu chuyện “Cây táo ông Lành” đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội mấy chục năm trước đây!”.
Tới đây Nhà thơ không bình tĩnh được nữa và nói dằn giọng: “Dân thì cũng năm bẩy loại dân. Có loại dân ăn cắp! Có loại dân lưu manh!”.
Tôi đáp lại liền: “Thưa ông đúng quá! Ông định nghĩa hay quá! Ai chẳng phải là dân. Ông cũng là dân! Nhưng những thằng dân mà lưu manh, ăn cắp thì phạm vi tai hại của nó nhỏ thôi, ít thôi. Còn những thằng dân mà quyền cao chức trọng đề ra những đường lối lãnh đạo sai lầm, chủ quan duy ý chí thì nó làm cho cả đất nước này, cả dân tộc này đau khổ, lầm than. Chúng tôi là những người dân ở thôn quê, chúng tôi có nhận xét như thế này: người nông dân Việt Nam ở thôn quê tuy nghèo nhưng có năm đặc điểm thế này: Thứ nhất là: “Cần cù”, thứ nhì là “Trung thực”, thứ ba là “Tự tin”, thứ tư là “Dám nghĩ”, thứ năm là “Dám làm”. Đó là mười chữ, con số mười theo thuyết “Âm dương ngũ hành”, là “Can”. Can là “Gốc”, gốc là hạ tầng cơ sở. Người nông dân Việt Nam nói ít, làm nhiều; thế mà đã từng có những tên vô lại dám nhận xét người nông dân Việt Nam lười lao động, bảo thủ, hẹp hòi, nên mới đói rách. Còn tầng lớp tiểu trí thức thị dân Việt Nam có năm đặc điểm: Thứ nhất là “Quan liêu”, thứ nhì là “Kiêu ngạo”, thứ ba là “Hèn nhát”, thứ tư là “Vô trách nhiệm”, thứ năm là “Vô liêm sỉ”!
Có lẽ bị ù tai nên Nhà thơ hỏi lại: “Thứ năm là gì ?”
Tôi trả lời rõ ràng từng tiếng: “Vô trách nhiệm”.
Tôi nói tiếp: “Đó là mười hai chữ, mười hai là Chi, Chi là ngọn. Ngọn là thượng tầng kiến trúc. Tôi xin phân tích. Ví dụ mấy chục năm qua các ông ở trên Bộ chính trị và Ban bí thư đã đề ra bao nhiêu nghị quyết, chủ trương, đường lối sai lầm, chủ quan duy ý chí. Là những đảng viên dưới cơ sở, ở địa phương làm tròn trách nhiệm của đảng viên quy định trong điều lệ Đảng, chúng tôi ra sức tuyên truyền, động viên quần chúng tổ chức thực hiện những nghị quyết, chủ trương, đường lối sai lầm của các ông đề ra. Qua mấy chục năm thực tiễn chứng minh điều gì chắc các ông đã rõ. Xã hội khủng hoàng ngày càng trầm trọng, tiêu cực phát triển, nhân dân đói rách, đạo đức xuống cấp. Hiện nay người nông dân chỉ thẳng vào mặt chúng tôi hỏi: các ông tuyên truyền tổ chức, động viên, cưỡng bức chúng tôi vào hợp tác xã, rồi làm ăn lớn xã hội chủ nghĩa để có cơm no, áo ấm, xoá bỏ áp bức bóc lột, công bằng xã hội. Bây giờ chúng tôi đói rách cả, con cháu hư hỏng hết, các ông đảng viên thấy thế nào ? Là những đảng viên trực tiếp ở địa phương chứng kiến tất cả sự đau khổ, thiếu thốn của đồng bào, chúng tôi thấy rõ trách nhiệm của mình đã tuyên truyền láo, chúng tôi có tội, chúng tôi xin lỗi bà con nông dân, nhận tội với đồng bào chỉ muốn quỳ xuống tạ tội với đồng bào về những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài của Đảng. Còn các ông, là những người trực tiếp đề ra những nghị quyết, chủ trương, đường lối sai lầm đó thì các ông chẳng chịu trách nhiệm gì về những hậu quả của những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài đó. Tôi xin hỏi các ông: căn cứ vào đâu mà các ông luôn luôn tự cho mình và ca ngợi lẫn nhau là học trò xuất sắc của “Bác Hồ”. Tôi lại xin hỏi các ông: Hồ Chủ Tịch có dám nhận “Huân Chương Lênin” không? Và Bác đã trả lời như thế nào? Khi Quốc hội đề nghị trao tặng “Huân Chương Sao Vàng” cho Bác. Còn các ông chủ quan duy ý chí để phạm sai lầm nghiêm trọng và kéo dài trong mấy chục năm, cái giá mà Tổ quốc phải trả và đồng bào đau khổ và lầm than như thế nào thì các ông đã thấy. Thế mà các ông dám nhận hết Huân Chương này đến Huân Chương khác. Tôi cho rằng đây là một thái độ hết sức vô trách nhiệm và rất vô liêm sỉ!...
Có lẽ huyết áp của Nhà thơ lúc này bắt đầu tăng. Tôi vừa nói xong Nhà thơ chỉ tay vào mặt tôi và nghiêm giọng nói: “Vấn đề này đi nói với ông Nguyễn Văn Linh”.
Tôi trả lời: “Thưa ông, ông Nguyền Văn Linh bây giờ còn hơn gấp mấy lần các Hoàng đế ngày xưa! Làm sao mà những người nông dân như chúng tôi lại có thể lên gặp ông Nguyễn Văn Linh được. Cả ông nữa, cách đây mấy năm thôi, khi ông còn là Uỷ viên Bộ chính trị, Thường trực Ban bí thư, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thì chắc chắn là chúng tôi không thể có cuộc gặp gỡ vui vẻ và đầy ý nghĩa này được. Hơn thế, trong thời gian ông lãnh đạo kinh tế, ông đã viết bao nhiêu lý luận, bao nhiêu nghị quyết, chỉ thị bao nhiêu cách làm ăn lớn xã hội chủ nghĩa, dùng sức mạnh tổng hợp của chuyên chính vô sản để xây dựng CNXH...và... Bây giờ chắc ông quên hết lý luận ấy rồi, quên hết mọi nghị quyết chỉ thị do Nhà thơ sáng tạo ra. Nhưng chúng tôi là những cán bộ ở địa phương, chúng tôi phải học tập nghiên cứu thấm nhuần để lãnh đạo quần chúng thực hiện những sáng tạo vĩ đại đó để rồi thu hoạch được gì và cái giá mà quần chúng phải trả ra sao thì chúng tôi không bao giờ quên cả. Hiện nay hàng đống văn kiện chỉ thị, nghị quyết được báo chí đăng tải còn nằm nguyên đó.
Tôi nói tới đây Nhà thơ ngắt lời tôi một cách nhẹ nhàng, chuyển sang hỏi hoàn cảnh và cuộc sống hiện nay của tôi.
Nhà thơ hỏi: “Bây giờ về địa phương cuộc sống thế nào ?”
Tôi trả lời: “Thưa anh cuộc sống hưu trí khó khăn lắm!”. Tháng hơn hai chục ngàn đồng lương hưu, thiếu thốn, vất vả lắm!”
Nhà thơ hỏi: “Thế ở nhà quê anh có đất đai gì không ?”
Tôi trả lời: “Thưa anh có, nhưng đất đai chẳng được bao nhiêu, không đến một sào”.
Nhà thơ nói: “có đất đai là tốt lắm!” Về nhà bây giờ phải chịu khó cuốc... cuốc... cuốc... Vừa nói Nhà thơ vừa làm động tác như đang cuốc đất.
Lúc này tôi cảm thấy như bị xúc phạm, tôi liền ngắt lời Nhà thơ và nói: “Thôi đi! Chẳng nhẽ tôi là một thằng nông dân có mảnh đất ở nhà quê, tôi lại chẳng biết cuốc như thế nào mà ông còn phải dạy tôi cuốc... cuốc... cuốc... Chính các ông chẳng bao giờ cầm cái cán cuốc mà cứ đi dạy người ta cuốc thì đất nước này mới khổ như thế này đây!
Một lần nữa tôi làm nhà thơ sững sờ và cụt hứng! ...
Đến đây tôi thấy Nhà thơ như đang mơ màng. Tôi quay lại nói với người thiếu phụ từ nãy vẫn đang theo dõi cuộc đối thoại giữa tôi và Nhà thơ: Cháu quê ở Huế phải không ? Đồng hương với Bác Tố Hữu ? Tôi chỉ vào người thiếu phụ và nói: “cả cháu cũng vậy, bây giờ đất nước mình còn khó khăn, đồng bào còn đang hết sức đói rách, nhất là những người nông dân và công nhân không có công ăn việc làm, con em gia đình thương binh, liệt sĩ, đi làm cách mạng tuyên truyền quần chúng mà cháu còn ăn diện sang trọng như thế này, quần là áo, lụa dép Thái Lan, sức nước hoa hảo hạng đắt tiền, mà bảo quần chúng phải thắt lưng buộc bụng, chịu đựng gian khổ để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì họ chẳng nghe đâu. Muốn quần chúng nghe mình thì phải đồng cam cộng khổ với nhân dân. Luận điểm “Tiên thiên hạ chi ưu như ưu, hậu thiên hạ chi lạc như lạc” đã trở thành một trò hề mà nhân dân cho là một luận điệu bịp bợm chẳng lừa dối nổi ai nữa đâu! Hôm nay Bác lên thăm Bác Tố Hữu, tình cũ nghĩa xưa, là người nông dân cục mịch, ăn nói dùi đục chấm nắm cáy, có sao nói vậy, nói thật, nói thẳng, nói hết! Cháu nghe đâu bỏ đấy nghe!
Người thiếu phụ cầm tay tôi nói: “Cháu rất cảm ơn Bác. Hôm nay Bác nói rất đúng, rất hay. Cháu hoàn toàn tán thành quan điểm của Bác”.
Tôi thấy cuộc “Tao ngộ chiến” đã đến lúc rút quân. Nhỡ phải gọi đến cấp cứu vì bệnh xuất huyết não và nhồi máu cơ tim thường hay xuất hiện ở các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước trong cái tuổi bẩy mươi này thì tai hoạ to. Tôi quay lại phía Nhà thơ chỉ tay vào bức tượng Lênin và nói:
Bây giờ ở bên Châu Âu người ta đang ném đá và cà chua, trứng thối vào Lênin. Tôi đang nghĩ cách phải bằng mọi cách để bảo vệ bằng được những tư tưởng khoa học chân chính của Lênin. Cứ ngồi đây mà hô một tiếng vang trời: muôn năm, muôn năm Mác - Lênin thì chẳng giải quyết được gì cả. Xin phép anh, tôi về!”
Tôi đứng dậy! Người thiếu phụ đứng dậy! Nhà thơ cũng đứng dậy đưa tôi ra cổng phòng khách. Tôi dừng lại bắt tay Nhà thơ và nói:
- Hôm nay tôi rất hân hạnh được gặp anh. Xin kính chúc anh luôn luôn mạnh khoẻ để chúng ta cùng nhau xem xét lại con đường tiến lên: “Thiên đường cộng sản” của chúng ta.
Tôi cúi đầu chào nhà thơ và quay ra cổng chính. Tôi tự mở chiếc cổng sắt và nặng nề khép chặt nó lại! Tiếp tục đạp xe đạp ngược chiều đường Phan Đình Phùng... Cái gì vừa xẩy ra như một chuyện huyền thoại, diễn ra một cách tự nhiên không do bàn tay nào đạo diễn cả... Đi giữa Thăng Long trong bầu không khí thoáng lạnh của đợt gió mùa sớm tôi không hiểu mình đang vui hay đang buồn... Đạp xe đến cửa Bắc nhìn vào vết đạn đại bác nham nhở của bọn thực dân Pháp cách đây hơn một thế kỷ, tôi thấy rùng mình và thương hại một tầng lớp tiểu tri thức thị dân của Tổ Quốc vẫn chưa thoát khỏi những tư tưởng quan liêu, kiêu ngạo, đế vương, sùng bái một cách mù quáng nền văn minh thực dụng Phương Tây mà quên mất truyền thống văn hiến tình người trong sáng, tình nghĩa thủy chung tiết hạnh của dân tộc, của tổ tiên ông bà, cha mẹ mình. Hình ảnh Nhà thơ thể hiện trong óc tôi và tôi thầm nghĩ: “Không hiểu Nhà thơ Tố Hữu đang suy nghĩ gì về cuộc “Tao ngộ chiến” chiều nay ? Không hiểu Nhà thơ có để lại một vần thơ để kỷ niệm cuộc gặp gỡ vui vẻ này chăng ? Riêng tôi đạp xe trên cầu Long Biên, một chiếc cầu nham nhở đầy vết tích của chiến tranh đã từng nổi tiếng nhất Châu Á cách đây gần một thế kỷ, một cây cầu bắc qua sông Hồng đã chứng kiến bao chiến công cũng như bao đau thương của các dân tộc và Tổ Quốc Việt Nam một cây cầu mà mấy chục năm qua đã gắn bao nhiêu niềm tin hy vọng, bao vần thơ và định luật, bao cay đắng và tủi nhục, bao mồ hôi và nước mắt. Và hôm nay lại đang chứng kiến những dòng suy nghĩ miên man, vui buồn lẫn lộn của tôi sau cuộc gặp gỡ không hẹn trước nhưng đầy ý nghĩa và lý thú với “Đại thi hào Tố Hữu”.
Tuy không phải là Nhà thơ, nhưng để kỷ niệm những xúc cảm của tâm hồn trong cuộc gặp gỡ này, tôi đã làm vần thơ thẩn.

Tượng thần...

(Kỷ niệm buổi “Tao ngộ chiến” với Tố Hữu.
Chiều ngày 6 tháng 11 năm 1990)

Cả khối “Quan Liêu” đang rữa thối.
Mơ màng “Hoàng Đế” sống chơi vơi.
Vẫn quen thói dậy đời nên thế.
Rồi chỉ tay bày lối cách người...
Đã lẻ bẩy mươi còn chưa biết.
Cuộc đời thơ lại, kiếp đười ươi.
“Tượng thần chân lý” đâu còn nữa
Muôn thuở cháu con vẫn nực cười...

Tố nhau

Tôi xin ghi lại câu chuyện anh xem cho vui và có gì góp thêm ý kiến. Rất mong Anh có thời gian quá bộ sang cầu, trong cảnh đồng quê bình dị có nhiều điều rất nên thơ để góp vào những kiệt tác sắp tới của anh.
Kính chúc Anh khoẻ và mong sớm gặp Anh.
Thăng Long sáng 12 tháng 10 Canh Ngọ

(Lê Huy Hoà: Hoạ sĩ)
Địa chỉ: Xóm Nam Gia thượng
Ngọc Thuỵ - Gia Lâm - Hà Nội

25 -11 -1990
Kính chào thân ái
Hồng Quang

Vài lời: Tôn trọng nguyên văn của tác giả, những chữ thuộc danh từ chung nhưng Tác giả có ý “Viết hoa” Tễu tôi “copy” i xì.

Một lá thư riêng gửi bạn mà tác giả đã khắc hoạ khá rõ nét chân dung “Một Nhà thơ - Một lãnh tụ Chính trị - Một Đại thần Cộng Sản”. Chợt nhớ tới một câu ngạn ngữ phương Tây: Hãy chỉ cho tôi biết ai là bạn anh thì tôi sẽ biết anh là ai! Tất nhiên không cần Tố Hữu phải giới thiệu thì chúng ta cũng đều biết “Ai là bạn của Tố Hữu” và cùng được đúc từ “cái khuôn” nào ra!

Câu chuyện đã trôi qua 10 năm mà vẫn “nóng hổi tính thời sự” nên Tễu tôi sưu tầm để các bạn xa gần được biết một xã hội “khẩu hiệu trồng trên khẩu hiệu, mọi ý định tốt đẹp của Chúa chỉ dừng trên văn kiện giấy tờ cùng với những lời hô hào rỗng tuếch” để định lại giá trị của “một đồng xu sứt” vì khi đưa “ đồng xu sứt” vào lò đúc lại nó vẫn có giá trị của “một đồng xu”!

Còn “đồng xu sứt” của cuộc đời!

Hà nội vào thu năm 2000
Tễu

* * *

Sự giãn nở chậm chạp của một khuôn phép

“... Coi trọng mở rộng dân chủ, tăng cường đối thoại, lắng nghe đầy đủ ý kiến của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, ý kiến thuận và cả ý kiến nghịch. Thường vụ Bộ chính trị đã đồng ý kiến nghị của chúng ta là tổ chức đối thoại, giao cho Ban tư tưởng - Văn hoá Trung ương chủ trì, ở đó mọi người có quyền trao đổi ý kiến của mình về những vấn đề khác nhau, thậm chí đối lập về quan điểm. Trao đổi với cơ quan tổ chức tốt hơn là ngấm ngầm đi tuyên truyền, tán phát trong nhân dân... !”

Đây là “lời vàng, ý ngọc” của ông Lê Xuân Tùng, uỷ viên Bộ chính trị trong bài: Nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng văn hoá hiện nay! Đăng trong tạp chí Thông tin Công tác tư tưởng số 5 năm 2000. Một bài nói nghiêm túc đăng trong một tạp chí đứng đắn mà cứ như chuyện đùa trong mục vui cười. Vậy thì từ tháng 4 năm 2000 trở về trước cán bộ, Đảng viên và nhân dân sống trong “nền dân chủ” nào để đến hôm nay (tháng 5 - 2000) Thường vụ Bộ chính trị mới cho phép “con dân của Đảng mình” được tổ chức đối thoại. Tổ chức đối thoại nói nôm na là cuộc nói chuyện về thời cuộc đất nước của những người thân trong nhà trao đổi với nhau, nó hết sức thường tình chứ chưa cần phải gắn hai chữ “dân chủ” vào làm gì! Thế là trong suốt hơn nửa thế kỷ xương chất thành núi, máu chảy thành sông vì một đất nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - độc lập - tự do - hạnh phúc đến tháng 5 của năm cuối cùng của thế kỷ 20 và thiên niên kỷ II, nhân dân ta mới được Đảng của nhân dân ta “đồng ý” cho tổ chức đối thoại. Tễu tôi nhấn mạnh chữ “đồng ý” vì từ chữ “đồng ý” đến bao giờ được thực hiện là một khoảng cách khó mà các thần dân biết trước được. Và khi được tổ chức đối thoại thì đối tượng cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân sẽ là ai ? Vì Tễu tôi rất sợ cái trò chơi cũ mèm là “Đảng cử, Đảng cho phép” thì ta đành trở về vạch xuất phát cách đây hơn một thế kỷ! Thôi thì tự an ủi là muộn còn hơn không, xin các thần dân theo dõi cái đoạn “hạ hồi phân giải”.

Nhân câu nói của ông Lê Xuân Tùng, Tễu tôi cũng trích một câu của cái nước mà Mác tiên đoán là nó sẽ giãy chết:

... Quyền được nghĩ khác nhau đương nhiên được công nhận và chế độ có đủ sức mạnh để có thể chấp nhận những kẻ phản bác mình, mà chức năng của những người này cũng được thể chế hoá. Xã hội chịu đựng những người chống đối, nó phải áp dụng chính những luật lệ do nó đặt ra...” Trích trong tác phẩm “văn minh Hoa Kỳ” của Jean Pierre Fichou do nhà xuất bản Thế giới xuất bản năm 1998.

Những tư tưởng lớn thường hay gặp nhau, thế là ông Lê Xuân Tùng ở đất á đã gặp ông Jean Pierre Fichou ở trời Âu cùng chấp nhận đối thoại hai chiều: đồng tình và phản bác. Nhưng cũng cần phân tích thêm một chút để thấy rõ tính chất dân chủ của hai thế chế độ: tư bản và cộng sản! Chế độ tư bản coi cái quyền được nghĩ khác nhau là đương nhiên, như ta hít thở khí trời vậy. Và cái đương nhiên này đã có hàng trăm năm nay đối với nhân dân của họ. Còn cái quyền được nghĩ khác nhau là của chế độ “triệu lần dân chủ” này mới được “cho phép” tháng 5 năm 2000. Còn bao giờ được thực thi “Cái quyền được nghĩ khác” thì ta cần chờ đợi. Kiên nhẫn chờ đợi, nhẫn nhục chờ đợi vốn là đức tính quý báu của người dân Việt Nam trong mấy chục năm qua và đã được “thử thách”. Nhân đây Tễu tôi nói một câu chuyện vui về khi hỏi một chuyên gia Nhật sang công tác tại Việt Nam. Thưa ông! Khi sang đất nước tôi công cán, điều gì để ông suy nghĩ trước tiên ? Ngập ngừng một chút rồi ông trả lời: Tôi chưa hề đến Việt Nam bao giờ, nên chưa có khái niệm về điều suy nghĩ trước tiên, nhưng chúng tôi được Đại sứ quán của nước tôi căn dặn: điều đầu tiên của người nước ngoài đến công tác ở Việt Nam là “kiên nhẫn”!

Chí lý vậy thay, cái ông nào ở đại sứ quán Nhật Bản chắc từng “nếm mùi ứng xử từ ngôn từ cho đến thủ tục hành chính Made in Việt Nam” nên đã có lời khuyên đồng bào của ông cùng các người nước ngoài luôn nhớ tới chữ “nhẫn”. Cách đây hơn năm trăm năm, cụ Nguyễn Trãi cũng nói nhiều về chữ “nhẫn” cùng với chữ “thời”.

Trước những phản ứng quyết liệt của phong trào nông dân Đồng Nai, Thọ Xuân Thanh Hoá, Uy Nỗ, Đông Anh, Thái Bình rồi Nam Định và còn âm ỉ ở xã Hồng Việt cùng một số điểm ở Thái Bình vẫn tiếp tục “nóng”. Trước những cuộc bãi công của giai cấp công nhân bị áp bức, bóc lột ở các xí nghiệp liên doanh mà các tổ chức công đoàn chỉ là một lũ bù nhìn. Trước những phản ứng ngấm ngầm còn dè dặt của giới doanh nghiệp của các chủ trang trại đều không nói lên một điều gì tốt đẹp.

Đặc biệt là những phản ứng gay gắt về mặt triết học đường lối, chính sách, về quản lý đất nước, về hệ thống tổ chức của cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp và “Đảng cầm quyền”... của các bậc sĩ phu, trí thức, các nhà khoa học, các văn nghệ sỹ và các cựu chiến binh ... những người lãnh đạo không có thể nhẫn tâm cứ bắt mãi cả một dân tộc thông minh, sáng tạo cứ phải ngậm miệng có những suy nghĩ trí tuệ siêu việt mà cứ phải “vâng vâng, dạ dạ” trước một cái khuôn phép bảo thủ, cũ rích trong quá khứ cũng như trong hiện tại nó luôn mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác. Một quá trình giãn nở hết sức chậm chạp của khuôn phép kỳ lạ nó cấm đoán mọi suy nghĩ ngược, mọi tư tưởng đối lập, nó triệt tiêu sự phát triển của trí tuệ.

Cũng xin thưa với ông Lê Xuân Tùng là: Sự đời theo quy luật cái gì phải đến thì sớm muộn gì cũng đến, dù có dùng trăm phương ngàn kế cũng không ngăn được cái quá trình tất yếu này! Việc tổ chức đối thoại chả phải là ý tưởng mới mẻ gì. Cách đây có dễ đến hai mươi năm những ý tưởng đề nghị được hội thảo, đối thoại trực tiếp của các tầng lớp nhân dân với “Đảng cầm quyền” về sự phát triển của đất nước, về sự tự do, no ấm hạnh phúc của dân tộc đều là những điều cấm kỵ. Thế là sự dồn nén tất yếu phát triển, những điều tâm huyết trung thực đóng góp xây dựng đành phải trôi nổi tự do trong xã hội để rồi bị quy tội là “tán phát”.

Trong bài viết trên của ông có đoạn (trang 12): ví dụ một vấn đề lớn mà hiện nay chúng ta đang phải tranh luận là thế nào là tư bản tư nhân ? Thật là buồn vì câu hỏi đó chúng ta đã đặt ra 10, 15 năm nay mà vẫn chưa trả lời được... !

Đúng là đáng buồn thật, một Đảng vĩ đại với các nhà lý luận siêu hạng khi đặt tên hoặc giải thích một hiện tượng, một phát biểu xã hội mà bị trói chặt bởi một học thuyết cực đoan về “tư hữu”, về “bóc lột” thì ông nào cũng sợ “lỡ miệng” lại bị quy là chệch hướng thì như lời ông Hữu Thọ từng khuyên: “Sức ông chẳng mang lại lợi ích gì lớn cho quốc gia thì ông cũng cố giữ lấy nồi cơm cho con!” Với những nhà Marxisme = Marxmitisme thì không những chỉ 10, 15 năm mà có khi cả cuộc đời họ chẳng góp ý được gì cho đất nước. Tễu tôi mạo muội múa rìu qua mắt thợ suy nghĩ về tư bản tư nhân bằng hình ảnh cụ thể mà Tễu tôi đang sinh sống. Hai vợ chồng Tễu tôi có một cái ao nhỏ khoảng 15 m2, gọi là cái vũng thì đúng hơn. Hàng năm thả khoảng 20 con chắm. Cuối năm đánh lên hai ông bà ăn và cho con cháu mỗi đứa một vài con là hết. Cách một mảnh vườn có hai vợ chồng bác hàng xóm là cán bộ về hưu, ngoài mấy sào vườn còn có một cái ao gần một mẫu thừa kế. Hai bác hoặc vì “ bôn” hoặc không “nông vi bản” nên cái ao chỉ thả muống và một số cá tự nhiên. Cái ao to như vậy mà thu nhập hàng năm chả đáng là bao. Tễu tôi nổi máu “tư bản tư nhân” xin thuê lại cái ao với hợp đồng 5 năm. Năm đầu Tễu tôi thả hơn 5000 cá giống, đảo vụ thả tiếp 5000 nữa. Để bảo vệ và chăm sóc cá Tễu tôi có thuê hai cháu thanh niên chưa có việc làm. Cuối năm ngoái sau khi thu hoạch, thuế má nghĩa vụ đóng góp đủ, trừ chi phí sản xuất và tiền công cho hai cháu lao động, bước đầu đã có chút ít lợi nhuận. Nhưng tiếc thay Tễu tôi lại bị một vài đồng chí trong chi Bộ Đảng “phê” rất dữ: Đã tự coi mình là một Đảng viên thì không được bóc lột dù chỉ là thuê 1 hoặc 2 lao động và ... Tễu tôi đành kính cẩn thưa: “Thưa mấy ngài Đảng viên khả kính!” Tôi ít quan tâm đến việc được coi là “Đảng viên” hay “tư hữu tư nhân” hoặc “bóc lột” v.v... mà tôi chỉ muốn làm một công dân bình thường.

Một công dân bình thường mỗi năm góp cho xã hội 10.000 con cá là điều tôi vươn tới và nếu tôi thả được 1.000.000 con cá và thuê 200 lao động thì tôi vẫn làm. Tôi sẵn sàng đổi “Thân phận đảng viên” lấy 10.000 con cá cho cuộc đời còn nghèo đói cực khổ này. Nhân dân không cần mớ nước bọt của các nhà tuyên huấn!

Thưa ông Lê Xuân Tùng! Nếu được đối thoại tự do thì chả cần 10 đến 15 năm, mà chỉ cần nửa ngày “đối thoại” thôi trí tuệ Việt Nam cũng sẽ trả lời được ngay. Hình như tôi nhớ không lầm thì một đồng chí trong Bộ Chính trị từng nói: Trong Đảng có thể thiếu người tài chứ ngoài thì không thiếu! Ngay trong bài của ông nếu được “đối thoại” thì cũng còn nhiều điều buồn cười chảy nước mắt và những lý sự ngớ ngẩn sao vẫn còn ở nơi chót vót ấy!

Một con chim nắm trong tay bao giờ cũng giá trị hơn hai con đang bay trên trời! (tục ngữ Mỹ). Xin ngàn lần cám ơn Đảng cho phép tổ chức đối thoại để mỗi công dân có trách nhiệm với vận mệnh của Tổ quốc bước vào thiên kỷ mới. Trong tổ chức đối thoại nên có tư tưởng chủ đạo là không hề có ý kiến nào là thuận, ý kiến nào là nghịch mà cũng chả có sự đối lập nào cả mà mọi người đều tâm niệm rằng với ý thức cao nhất của một công dân cùng đất nước, cùng Đảng với bao sương máu đã xoá được nỗi nhục mất nước của ngàn năm Bắc thuộc, của trăm năm nô lệ. Nay giang sơn đã thu về một mối, mối thù muôn đời muôn kiếp không tan với những đất nước ngày hôm qua còn là “không đội trời chung” cùng khép lại quá khứ để làm bạn với nhau hướng tới tương lai của ngôi nhà chung” Trái đất!

Vậy hà cớ gì, những người con cùng chung một bọc “Âu cơ” sao nỡ để chữ thuận, chữ nghịch, để đối lập lẫn nhau cho đau lòng tổ tiên, ông bà. Riêng với Tễu tôi, nếu Đảng thực hiện đúng lời hứa cho tổ chức đối thoại thì Tễu tôi xin giã từ “tán phát” để được nói với Tổ Quốc, với Đảng những lời, những tâm tư trung thực bằng máu, bằng nước mắt của mình, để xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa Hồ Chí Minh là hoà bình - thống nhất - độc lập - dân chủ và giàu mạnh.

Mong lắm vậy thay!

Hà Nội ngày 24 tháng 5 năm 2000
Tễu

- Marmite là cái nồi.
Tễu tôi bịa ra cái từ: Marmitisme tuỳ bạn hiểu!

* * *

Thư ngỏ gửi Liên Hoàng
(Tác giả bài báo “Báo chí tư nhân - Lạc lõng với thực tiễn của Đất nước” đăng báo An Ninh Thế Giới tháng 9 năm 1999)

Trong Tiếng việt, các cụm từ đại từ nhân xưng khá phong phú để tỏ lòng kính trọng hoặc khinh bỉ. Đối với cây bút Liên Hoàng, ta dùng cụm từ đại từ nhân xưng thích hợp nhất là: ta - ngươi!

Sau khi đọc xong bài báo, nghe ngươi ví von, so sánh và giải thích lòng vòng về “báo chí tư nhân” là có hại, là không cần thiết, ta nén sự khinh bỉ bằng nhổ một bãi nước bọt thay cho một câu chửi bậy mà một kẻ sĩ không quen dùng.

Đành rằng “mọi sự so sánh đều khập khễnh”, nhưng cái chuyện gắn “cái đầu dương vật vào cánh quạt cối xay gió” với vấn đề báo chí tư nhân (phải gọi tự do báo chí, mới thật đúng nghĩa) thật là một sự so sánh “đầu Ngô mình Sở” một sự so sánh ngu xuẩn lạc đề mà ta chưa từng thấy trên báo chí.

Trong lịch sử loài người khi biết sinh ra tờ báo thì vốn nó là của tư nhân rồi. Ngay cả nước Việt Nam ta dưới những năm dài tăm tối dưới ách nô lệ hà khắc của thực dân Pháp cũng đã có báo chí tư nhân. Tất nhiên những ông Tây thực dân khét tiếng tàn bạo cũng chẳng thú vị gì cho dân Anamít da vàng, mũi tẹt được tự do báo chí để chống lại bọn chúng. Nhưng trước xu thế của thời đại về tự do – dân chủ của những năm đầu thế kỷ này không còn là những thế kỷ tối tăm ngu muội của thời trung cổ. Không còn là “ý Chúa ý Trời !” mà hình như các nhà cầm quyền hiện nay của ta đang định “sao chép” lại với nội dung mới: “ý Đảng ý Trời”.

Thôi ta cho qua “cái dương vật của Liên Hoàng” một lối so sánh dung tục của người trên bài báo này. Vì trên mặt giấy là chữ nghĩa văn chương chứ không phải trong buồng tắm!

Nếu ngươi là cây bút con trẻ thì ta thay mặt cha, chú dạy ngươi dặm ba điều để ngươi cầm cây bút ra cây bút chứ không phải cái dùi cui của “Cu lít”. Nếu ngươi lại cũng già như ta, thì ta phải bắt chước Khổng Minh khi xưa mắng Vương Lãng ở chốn trận tiền là: thằng giặc già đầu bạc kia, lộc nước, cơm dân mà ngươi chống lại tự do dân chủ định biến dân đất Việt thành một lũ dân đen hèn hạ hay sao ? Nay mai ngươi chết đi xuống dưới suối vàng ngươi gặp các vị Tiên liệt Mác - Lênin - Hồ Chí Minh ngươi không biết hổ thẹn sao ?

Ta thử nêu vài cái “giá mà...” để ngươi thấy rõ tự do báo chí cần thiết, biết chừng nào để đỡ đổ bao nhiều xương máu, bao nhiêu tù đầy, chém giết lẫn nhau, để một đất nước, bước qua chiến tranh đã 25 năm không còn nghèo đói, cực khổ!

- Giá mà có tự do báo chí thì nhất định sẽ ngăn cản Đảng tiến hành C.C.R.Đ long trời lở đất vì chém giết, vì tù đầy làm tan nát bao gia đình lương thiện tội nghiệp, làm đảo lộn luân thường đạo lý: con đấu tố cha mẹ, vợ đấu tố chồng, đồng chí đồng đội đấu tố lẫn nhau gây nên một trang bi thảm trong lịch sử Việt Nam.

- Giá mà có tự do báo chí thì khuyên can được Đảng trong việc đấu tranh chống “Nhân văn Giai phẩm” để Đất nước không mất đi bao văn nghệ sĩ, bao trí tuệ tài năng.

- Giá mà có tự do báo chí thì một nhóm người có quyền trong Đảng không thể tự tung tự tác bắt bớ giam cầm một số đông người gồm: Uỷ viên Bộ chính trị có, Uỷ viên Trung ương Đảng có, Bộ trưởng Thứ trưởng có, tướng lĩnh có, các nhà tri thức khoa học có, các văn nghệ sĩ nhà báo có và bao nhiêu cấp tá trong quân đội ghép vào tội “chống Đảng”!

- Giá mà có tự do báo chí thì không có câu ca dao:

Trần Phương, Trọng Truyến, Trần Quỳnh
Còn ba tên ấy dân mình đói to.

Cùng với Tố Hữu đẻ ra cái quái thai “giá - lương - tiền” làm đất nước bước vào suy thoái kiệt quệ.

- Giá mà có tự do báo chí thì có thể bảo vệ được bộ óc có tầm suy nghĩ chiến lược về nông nghiệp cuả đồng chí Kim Ngọc không để cho lũ ngu xuẩn nhân danh này nọ mắng nhiếc và đày đoạ một nhân tài suốt đời mang hận dưới tuyền đài.

Ôi không làm sao có thể nói hết cái “giá mà ...” ở dưới cái chế độ mang danh XHCN này.

Ta hãy cùng người làm thử một con toán về số học đơn giản. Bộ chính trị với khoảng 20 người cộng với một ban chấp hành Trung ương Đảng với khoảng 400 người. Về tỉ lệ đầu người thì vô cùng nhỏ bé (420/80.000.000) bằng 0,00000525%. Vậy ta thử phân tích tỉ mỉ một chút. Với 420 người đại diện cho trí tuệ của toàn thể nhân dân Việt Nam nhưng cũng chỉ là một thứ dân chủ “rởm” Đảng tự cử rồi Đảng tự bầu, chứ người dân nào được bầu. Có thể người vặn ta là: Cạnh Đảng vẫn có Quốc Hội đó thôi, mà Quốc hội chẳng phải là do dân bầu sao? Từ “Đảng cử, Đảng bầu” với “Đảng cử, dân bầu” đó chẳng phải là “anh em sinh đôi”, là cặp “song sinh” để trình bày thành món hàng mẫu về nền “dân chủ rởm” đó sao ? Và ngay trong hai món hàng đó, số có trí tuệ siêu việt đáng làm người đại diện cho toàn Đảng, cho toàn dân thực sự có bao nhiêu? Còn cái số ta tạm liệt vào “phường giá áo, túi cơm” sẽ chiếm bao nhiêu %? Đây là chưa kể học hàm học vị: giáo sư, tiến sĩ “rởm” khá đông cùng với một số “chạy chức, chạy quyền” ẩn núp trong hai bộ máy đại diện cho dân, cho Đảng cũng không ít! Liệu “cái nhúm trí tuệ” ấy có thể thông minh hơn và giỏi giang về mọi mặt đối với 80 triệu bộ óc tài trí sáng tạo của nhân dân Việt Nam không ?

Có phân tích tỉ mỉ như thế này thì mới thấy: tự do báo chí, tự do ngôn luận là khát vọng, là một yêu cầu sống còn của một dân tộc.

Tự do ngôn luận là linh hồn của mọi thứ tự do!
(VOLTAIRE)

Bây giờ lại nói về ý khác của ngươi. Đó là: Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân! ... Đảng không có mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu: dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh! ...

Vậy ta hỏi ngươi: nếu một Đảng tốt đẹp, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân thì việc gì đến hôm nay đang ráo riết vận động “chỉnh Đảng: gấp gáp như chữa cháy nhà? Sao phải nêu lên cái khẩu hiệu nghe rất thống thiết: “đổi mới hay là chết!” sao lại phải đau lòng biểu quyết “8 chữ đen”: có chiều hướng phát triển nghiêm trọng hơn! Để nói lên sự suy thoái ghê gớm của Đảng ?... một Đảng anh hùng mà đến nỗi ngày hôm nay chỉ còn 10% đảng viên là “trong sạch, vững mạnh”!... nổi lên nhất là: tham nhũng đất đai, dự án đầu tư, chạy chọt lên chức quyền, lãng phí tiêu sài của công quá mức, nhận hối lộ... và ... đến nỗi có người nói: Nếu chúng ta cứ giữ tình trạng hiện nay mà không sửa cái bệnh đã nêu trên thì nên lập một Đảng khác, lập một Đảng cộng sản Việt Nam trong sạch !? ...

Nào! Liên Hoàng ngươi thử nói ta xem: một Đảng chỉ có một lợi ích vì nhân dân chẳng lẽ mắc căn bệnh trầm trọng thế này sao? Vì phục vụ nhân dân là mục đích duy nhất của Đảng thì tại sao các ngài đảng viên cấp Trung ương “chạy chức, chạy quyền” để làm gì? Giai cấp công nhân thì khốn khổ, nông dân ở những vùng sâu vùng xa còn đang đói cơm, rách áo đâu có cần “hotel”, biệt thự, nhà cao tầng uy nghi lộng lẫy mà các ngài “Đảng ở trên” xây lắm thế ?...

Ta chỉ là một tên dân quèn, tư liệu thông tin không nhiều vả lại chuyện thiên hạ là chuyện rộng lớn không lo hết được, vài dòng góp ý và dạy bảo ngươi. Bài báo của ngươi chắc còn làm chối tai sĩ phu, trí thức khắp 3 miền Bắc - Trung - Nam hẳn các vị đó sẽ còn lên tiếng dạy cho ngươi nhiều bài học khác với nội dung xúc tích gấp hàng trăm lần bài viết này của ta! Và biết đâu câu chuyện “cái dương vật của cha con ông Allan Jones” sẽ là một giai thoại để dân gian so sánh với cái đầu ngắn “cũn cỡn” của Liên Hoàng, nghiễm nhiên một cái đầu “bã đậu” lại trở thành nổi tiếng ?

Đọc những dòng này chắc ngươi cho ta xúc phạm đến ngươi! Vậy ngươi có biết rằng ngươi đã xúc phạm đến người xin ra tờ báo tư nhân không ? Vì lòng kính trọng người đó mà ta viết lá thư ngỏ này để ngươi đừng ỷ thế cậy có một bộ máy đàn áp hùng mạnh, với dùi cui, họng súng thì có muốn tranh luận với ngươi cũng đành chào thua thôi. Nếu ngươi là người đàng hoàng thì hãy nói với tổng biên tập Hữu Ước đăng bài này của ta lên báo chí cho thiên hạ coi xem kẻ nào là “lộng ngôn”, người nào là “diễn biến hoà bình”.

Để kết thúc lá thư ngỏ này, ta xin tặng ngươi một câu danh ngôn để ngươi làm phương châm xử thế ở đời:

Chỉ có kẻ ngu mới tưởng mình là bậc thánh và
Chỉ có bậc thánh mới biết rõ cái ngu của mình!

(VICTOR HUGO)

Ta chờ sự lên tiếng của ngươi!

Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 1999
Một người tự do