Gửi lại trước khi về “cõi” (5)
 
 

Thư gửi bạn...

Hải phòng, ngày 15 tháng 09 năm 1999

Anh chị Minh kính mến.
Nhận được thư của anh vào lúc gia đình có chuyện buồn riêng (ông anh “cọc chèo” với tôi vừa mất); nên hôm nay mới trả lời thư của anh.
Điều đầu tiên chúc mừng anh chị cùng các cháu có ngôi nhà mới, an cư lạc nghiệp lâu dài trên thành phố ngàn hoa. Sau nữa kính chúc anh chị cùng các cháu vui, khỏe, hạnh phúc và gặp mọi sự may mắn, tốt lành.
Còn ngoài này vợ chồng tôi cùng các cháu nhờ trời vẫn bằng an, quấn túm bên nhau để chống chọi với mọi giông bão của cuộc đời. Quán triệu câu phương ngôn Tây “Aide toi le ciel t’ aidera” để tự cứu mình thôi.
Qua thư anh, tôi hết sức xúc động về tình bạn bè, tình đồng đội hơn 40 năm qua khi anh an ủi, động viên tôi khi biết tin tôi bị khai trừ Đảng. Giữa tôi và anh không có điều gì phải tranh luận cả, những dòng tôi sắp gửi tới anh chỉ là những suy ngẫm riêng của cuộc đời tôi.
Để nói lên những suy ngẫm hôm nay, tự tôi cũng muốn “ôn cố tri tân” một chút. Hàng chục thế kỷ đen tối của thời trung cổ, nếu sử sách không trung thực, không được truyền tụng và “tán phát” thì ngày nay ta và con cháu ta không biết Cô-péc- ních và Ga-li-lê là ai ? Làm gì ? nói gì với đời sau. Nếu như thời nhà Lê cấm “tán phát và lưu truyền” hoặc xuyên tạc lịch sử thì ta cũng không biết đến vụ án “Lệ chi viên” và nỗi oan của Nguyễn Trãi. Không có “tán phát” thì ta và con cháu đâu còn được học và noi gương khảng khái, trung thực của một ông thầy đồ bình thường Chu Văn An với bản “Thất trảm sớ”. Nếu không thế thì phương trâm của Nguyễn Trường Tộ mang theo suốt cả cuộc đời là “Biết mà không nói là bất nhân, nói mà không nói hết là bất nghĩa.” để rồi ngậm ngùi mang theo bao hoài bão xây dựng một đất nước văn minh xuống suối vàng và ngay những năm tháng của chúng ta sống đây, nếu không có “tán phát và lưu truyền” thì ta cũng không được biết đ/c Trường Chinh từng đập bàn chỉ vào mặt đ/c Kim Ngọc Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc mà mắng: “Các anh lại đòi khôn hơn trung ương à ? Các anh muỗn quay lại chủ nghĩa tư bản hay sao mà đòi khoán...” Rồi anh Kim Ngọc cũng buồn phiền chết trong oan ức, tức tưởi. Sau cái sự mắng chửi ấy những năm của thập niên 80, người ta cho ra nghị quyết, “cái sự khoán” như Kim Ngọc đã làm và quá khứ đã được bới tìm để tặng thưởng huân chương cho người đã chết!... Nhưng có lẽ không có loại huân chương nào bằng lòng dân quê anh Kim Ngọc khi họ xin được lập đền thờ, thờ Anh như một thành hoàng làng. Chả lẽ khi đất nước Việt Nam xuất khẩu được 3,5 triệu tấn gạo ngày hôm nay không phải là kết quả của sự “mắng mỏ” năm xưa hay sao!? Và có lẽ cái tội “tán phát” lớn nhất phải là hàng vạn nông dân Đồng Nai (Nam Bộ) của Thọ Xuân (Thanh Hóa), của Uy Nỗ Đông Anh (Hà Nội) và hào hùng nhất là sự phẫn nộ được “tán phát” của nông dân Thái Bình vài vạn nông dân chống loại bọn tân tham quan cường hào ác bá. Sự “tán phát” này không phải như những tài liệu của Trần Độ và các bạn của ông trong lặng lẽ, âm thầm mà nó làm rung chuyển cả nước, đến trẻ con cũng biết. Nếu nói là “vô nguyên tắc” thì phải khai trừ toàn thể nông dân Thái Bình ra khỏi nước Việt Nam này thôi!
Chuyện đời kim cổ nếu còn nêu ví dụ e sẽ là 2001 (hai ngàn lẻ một) chuyện.
Lan man phần trên để đi đến chuyện suy ngẫm về hiện tượng Trần Độ. Không hiểu nơi cao nguyên xa xôi ấy anh Minh có được đọc nhiều và hiểu nhiều về Trần Độ không? có 1 vị lão thành, bạn tôi khi nghe phổ biến của tuyên huấn về Trần Độ, ông chửi um Trần Độ, cho là Trần Độ già rồi còn ngu, chót đời rồi mà còn “chống Đảng” ! khi tôi cho ông xem “bản kiến nghị của Trần Độ” gửi Đảng - Chính Phủ - Quốc Hội, ông nói: “Thế này thì có gì mà lên án Trần Độ” dù ông còn sợ không dám đồng tình nhưng bỏ ngay phần “phê” bậy.
Tôi năm nay cũng gần 70 tuổi rồi sắp tới cái ngưỡng xưa nay hiếm. Tóc đã bạc gần hết, đã qua nhiều thăng trầm, dâu, bể, ngọt, bùi, cay, đắng. Cũng không còn non trẻ, sốc nỏi, bồng bột, dại dột ngây thơ gì, nên khi đã suy nghĩ một điều gì, đã nói một điều gì thì không còn hối tiếc. “Tôi đã đến thăm anh Trần Độ, người thủ trưởng cũ của tôi, một ông già 77 tuổi, hai chân gần như liệt di chuyển phải dùng xe đẩy. Là một vị trung tướng, từng là ủy viên Trung ương Đảng 4 khóa, là phó chủ tịch Quốc hội, là tư lệnh của sư 312 anh hùng, là phó tư lệnh quân giải phóng Miền Nam. Sở dĩ tôi nêu nhiều chức tước như vậy, không phải là kể công cho ông mà là hàm ý với các chức vụ như vậy, lộc nước đãi ngộ ông không thiếu, già rồi cứ ngồi đấy mà hưởng, cứ “ngậm miệng ăn tiền” nói làm gì, kiến nghị làm gì cho khổ thân! Thì ra mình là kẻ “Tiểu nhân” nên nghĩ vậy, Cái sự mũ cao, áo dài cái “sự bổng lộc” cái “sự miếng cơm, manh áo” không phải mục đích của đời ông, và đã 2 lần ở trong tù của đế quốc, ông cầm bát cứt ăn để tỏ rõ tấm lòng trung kiên của người cộng sản. Nói tới hai từ “cộng sản” mà đau đớn, vì hôm nay ông đã là “ông quần chúng ngoài đảng” rồi ! Bản kiến nghị, Trần Độ gửi Đảng, gửi chính phủ và dùng quyền của một công dân theo hiến pháp, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, có quyền được thông tin... với bạn bè sao gọi là “tán phát” có điều nào trong hiến pháp, trong luật pháp khi đưa tin về suy nghĩ của cá nhân mình cho bạn bè là phạm pháp không ? sắp hết thế kỷ thứ 20 rồi, thế kỷ của khoa học kỹ thuật, của văn minh tiến bộ nhưng có gì trái ý, trái tai, chẳng đưa vào Hiến pháp, vào điều lệ Đảng cứ qui bừa là “vô nguyên tắc”. Câu châm ngôn của ông Tây thực dân mũi lõ có lẽ hợp với hoàn cảnh này chăng.
La raison du plus fort est toujours la meilleure!
(Cái lý lẽ của kẻ mạnh luôn luôn đúng)
Tôi cũng đựơc gặp một số bạn bè đến thăm anh Độ như: Anh Hoàng Hữu Nhân- nguyên Bí thư Thành ủy Hải Phòng, anh Nguyễn Văn Đào - nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội, anh Hoàng Minh Chính, anh Lê Hồng Hà, anh Trần Dũng Tiến đại tá CCB... Khi tiếp xúc với các anh đó, tôi có cảm nghĩ: tuổi tác các anh ấy là bậc đàn anh, về học vấn, về lý luận và hiểu biết vào bậc thầy, về đức độ và nhân cách xứng đáng để tôi kính trọng cảm phục. Về nắm pháp luật và nguyên tắc Đảng thì các anh ấy hơn tôi mấy cái đầu. Với những người như vậy chắc họ phải đầy bản lĩnh biết mình phải làm gì khi lên tiếng bảo vệ quan điểm đúng đắn của Trần Độ. Còn nhiều người khác: Lão thành cách mạng, cựu chiến binh, trí thức, văn nghệ sĩ như: Bác Lê Giản - đảng viên lão thành, người có chức vụ về công an cao nhất khi ở cạnh Bác Hồ trước năm 1945. Là đại tá Phạm Thế Dương - chính trị viên năm xưa ở Điện Biên Phủ từng là tổng biên tập tạp chí lịch sử quân đội, là đại tá nhà văn, nhà báo Nguyễn Trần Thiết là các CCB Phạm Vũ Sơn, Trần Bá, là nhà văn Hoàng Tiến... đều lên tiếng bảo vệ Trần Độ từng mức độ. Người này xin ra Đảng trả lại thẻ Đảng, huân huy chương, người kia trả lại huy hiệu 40, 50 năm tuổi Đảng cùng vài chục cụ Lão thành CM khác ở Hà Nội cũng đều lên tiếng bảo vệ Trần Độ. Chả lẽ những người đáng kinh như vậy cũng mắc sai lầm như Trần Độ sao ? Tôi với anh cũng đã từng học về Mác - Lê, dù sao trình độ cũng không đầy đủ và chắp vá thì đã đành. Có điều lạ và đáng để ta suy nghĩ là những người vào bậc thầy về “Mác - LêNin - học”, đã từng hàng chục năm du học tại “đất thánh triết học Mác Lê” tại Mascơva, toàn là các “đệ tử chân truyền” đều muốn đánh giá về tính hiện thực của Mác - Lê trong giai đoạn hiện tại. Lịch sử đã đánh giá Mác - Lê là những danh nhân vĩ đại, điều này không ai dám phỉ nhận. Nhưng dù sao danh phận một con người dù vĩ đại của cái hôm qua không nhất thiết phải là cái vĩ đại hôm nay và ngày mai, không thể là cái “dĩ thành bất biến”. Không còn gì phải bàn! Nhưng khoa học vốn không có giới hạn cuối cùng, vì khi có Anhstanh thì mới thấy Niu Tơn không thể đưa nhân loại vươn dài cánh tàu vào vũ trụ xa xăm. Đây là một vấn đề còn nhiều tranh cãi mà việc tranh cãi này vượt khỏi tầm suy nghĩ nông cạn và dốt nát của tôi. Tôi chỉ nghĩ một điều giản đơn là một triết học, một chủ nghĩa, một ý thức hệ không phải là luật pháp không nhất thiết mọi người phải theo dù triết học đó, chủ nghĩa đó, ý thức hệ đó của một đảng cầm quyền. Vì hiển nhiên 5 triệu tín đồ “catholique”, hàng chục triệu tín đồ “Bouddhique” và gần 70 triệu người không phải là Marxisme - Léninisme. Vậy thì sao ? Vậy thì phải được đưa ra bàn luận công khai, trước toàn thể nhân dân Việt nam về chủ nghĩa Mác - LêNin để 80 triệu nhân dân thông hiểu sẽ đi với Đảng tới cùng trời cuối đất đến chủ nghĩa cộng sản. Xin trích mấy dòng của một triết gia trong một cuộc thảo luận góp ý với “Hội đồng lý luận nghiên cứu” để giúp cho việc chẩn bị Đại Hội Đảng sắp tới:

“... Như vậy, nếu Mác quan niệm một xã hội cộng sản phát triển cao đến mức đó là “vương quốc của tự do”. Vương quốc tự do đó mà chúng tôi đọc trong bộ Tư bản Mác viết bằng tiếng Đức. Sau này dịch ra thì có những câu rất quan trọng mà bộ Tư bản bằng tiếng Pháp không có. Trong đó có câu: “Trong vương quốc tự do” đó, thời gian tự do là hình thức sản phẩm của cải cơ bản của xã hội! Và nếu theo quan niệm Mác như vật thì “thời gian tự do” mới là của cải của xã hội cộng sản, còn cái bàn, cái ghế không phải. Mà “vương quốc tự do” xây dựng trên một nền tảng công nghệ cao, cao đến mức mà cái bàn, cái ghế ta dùng đây coi, như tự nhiên cho không ta... Đi tàu tự nhiên cho không như thở khí trời vậy! Còn cái mà con người coi như tài sản của xã hội đó là “thời gian tự do cho sự phát triển của trí tuệ” ! Nếu quan niệm của Mác đúng như vậy thì xã hội của chúng ta đây “còn xa lắm” mới đến được xã hội Cộng sản và xa lắm mới bỏ được kinh tế thị trường...” Võ Đại Lược

Đọc qua nội dung trích rất ngắn của ông Võ Đại Lược thì chắc ông không dám nói thẳng ra Các Mác là nhà triết học của cái “không tưởng”, kể cả lẩm cẩm nữa. Vậy có bao giờ anh Minh nghĩ toàn nhân loại trong đó có nhân dân Việt Nam ngày nào đó sẽ đi đến một “xã hội thiên đường” trên cả thiên đường!
Tôi lại xin trích dẫn một số tư liệu để anh cùng tham khảo:

- Chủ nghĩa Mác là “những gì người ta phải suy ngẫm” chứ không phải là “những gì mà người ta có thể tin!”
- Mác chỉ ra “cái-có-thể” (le possible) tức là những khả năng của sự phát triển lịch sử - xã hội thông qua hoạt động của con người dựa trên những điều kiện lịch sử cụ thể của hoàn cảnh của nó ở vào mỗi thời kỳ lịch sử.
- Mác không phải là người theo “quyết định luận” và ông phê phán gay gắt những người có quan điểm này!.
- Các văn bản của Mác không hề có từ “qui luật của lịch sử”
(Mác, nhà tư tưởng của cái có thể) của giáo sư tiến sĩ Michel Vadée đang trong tạp chí thông tin công tác tư tưởng tháng 6/1997.
- Đảng chính trị Bolchevik của LêNin đến nay đã không còn nữa, vì từ cuộc chính biến 1991, Đảng này đã biến chất, nó đã tự mình xóa bỏ mình với tư cách một đảng chính trị của những nhà hoạt động cách mạng chân chính và chỉ còn là tổ chức của một nhóm người làm nghề cai trị và đa số trong giai cấp công nhân và nhân dân lao động xô viết đã quay lưng lại với nó!
- Với LêNin “... Người đòi hỏi bản thân mình hàng ngày phải đối mặt với thực tại và trình bày nó công khai thẳng thắn, bộc trực và điều này chắc hẳn sẽ làm cho những người kế tục ông xấu hổ...”
- Đã có bao nhiêu nhà chính trị ở các cấp tiếp sau Lênin đã dám công khai trước công chúng nhận những sai lầm phải trả giá đắt mà mình đã phạm phải...
(Bàn về LêNin) của Danny Goldstick, giáo sư triết học Canada đăng ở tạp trí thông tin công tác tư tưởng số tháng 7 –1997.

Và nhân dịp đồng chí tổng bí thư chỉ thị về “chỉnh đốn Đảng”, tôi cũng muốn đóng góp một số ý kiến. Tôi cũng xin lại được trích một số tư liệu trong bài nói chuyện của đ/c Tổng bí thư trong một hội nghị về chỉnh đốn Đảng và ý kiến của đ/c Hữu Thọ đăng trong tạp chí TTCTTTT số tháng 7 –1999 để anh cùng nghe:

- … Các đồng chí cũng nhất trí về sự suy thoái đang là vấn đề cấp bách của Đảng ta hiện nay, không phải nói như thế là bôi đen Đảng, Tự ta bôi đen ta...
- ... Nhân dân kết luận là chủ nghĩa cá nhân trong người cán bộ, đảng viên đang phát triển và lộng hành...
- ... Có người còn nói: nếu chúng ta cứ giữ tình trạng như hiện nay mà không sửa các bệnh đã nêu trên nên lập Đảng khác, lập một Đảng cộng sản Việt Nam trong sạch...
- ... Anh Võ Viết Thanh (thành phố Hồ Chí Minh) có nói: nếu căn cứ vào kết quả điều tra phân loại đảng viên thì 90% là trong sạch, vững mạnh, nhưng thực chất chỉ có 10 % mới là trong sạch, vững mạnh: 30% là không trong sạch, vững mạnh...
- Về đoàn kết, mấy chục tỉnh mất đoàn kết...
- Về tham nhũng: xây dựng sân bay Nội Bài có 19 triệu đô la mà vống lên tới 47 triệu đô la. Hỏng một cái càng máy bay giá có 300.000 đô la mà vống lên 2,6 triệu đô la. Tiền tham nhũng đó họ gửi nước ngoài... ( nhân chuyện này tôi nêu một số tư liệu mà tôi tham khảo được: theo John Shapiro (thống kê mậu dịch quốc tế) tiết lộ:
Việt Nam có: 700 quan chức có tài sản từ 100 - 130 triệu đô la. 2000 quan chức có tài sản từ 50 - 100 triệu đô la. Tổng số tiền chuyển ra gửi nước ngoài khoảng 20 tỷ đô la.
Một con số khổng lồ đáng để ta suy nghĩ.

Còn ông Hữu Thọ, Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương thì nêu một số hiện tượng trong tự phê bình và phê bình trong chỉnh đốn Đảng như sau:

- ... Đó là trạng thái “dĩ hòa vi quý” đang diễn ra khá phổ biến. Có đồng chí đã ví trạng thái này là một “sự yên ắng, trong bùng nhùng”... làm cho phải lẽ đúng kỳ hạn, chưa kể đây là cơ hội để tăng bốc nhau, nịnh bợ nhau, trạng thái thứ 2 không kém phần, nguy hiểm là “chưa vào cuộc đã tuốt gươm ra khỏi vỏ đâm chém nhau, mạt sát nhau không thương tiếc”, thậm chí những người ngoài Đảng nhìn vào cũng không thể hiểu là tại sao trong Đảng cộng sản mà lại thù hằn nhau đến mức như thế, hơi một tí là chụp mũ và dồn nhau tới chân tường!
- ... Phê bình cấp trên thực tiếp, người đứng đầu là rất khó. Bởi vì rất dễ bị trù úm, thậm trí bị mất việc, có người đã khuyên: “sức ông chẳng mang lại lợi ích gì lớn cho Quốc gia thì ông cũng có giữ lấy nồi cơm cho con!” Gay go như thế đấy!
- ... Nếu người ta chưa nói đã bị “bịt miệng” thì sẽ không ai dám nói...

Càng đọc, càng biết nhiều càng “nản” ghê gớm! Toàn tư liệu “xỉn” cả, trích dẫn từ những báo chí “chính thống” trong luồng. Tôi không có thói quen nghe đài nước ngoài (mà ta trước đây gọi là “đài địch”) nên không hề bị ảnh hưởng gì của “diễn biến hòa bình”! Tôi cứ phân vân tự hỏi: không hiểu vì sao đang từ một Đảng anh hùng, vĩ đại mà đến hôm nay trở thành Đảng bệnh đã vào tận lục phủ, ngũ tạng nói như các danh y Tàu là bệnh đã vào tới “cao hoang”, đến nỗi bác Phạm Văn Đồng phải lên tiếng: “Tôi thì mắt không nhìn rõ nữa, nhưng tai thì nghe rõ lắm, tôi vẫn nghe đấy, không phải chỉ nghe ở hội nghị, mà nghe tiếng nói của người dân lương thiện về sự suy thoái của đảng nghiêm trọng vô cùng mà nó lại đang phát triển ...” Bác còn nói thêm về vụ Ep co - Minh Phụng, Tân Trường Sanh” phải làm thế nào chứ, một sụ án bây giờ có tới 80, 90 bị cáo, trong đó một nửa là cán bộ, Đảng viên ra tòa ? Thế giới ít có số vụ án, số bị cáo là viên chức đông như thế đứng trước vành móng ngựa... ” Tại hội nghị lần này (tức hội nghị 6), Trung ương phải biểu quyết một nhận định mà chúng tôi đau lòng nói với nhau về “8 chữ đen” tức là tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống “có chiều hướng phát triển nghiêm trọng hơn”.
Căn bệnh của Đảng ta nặng như thế mà không hiểu sao cứ có một ai góp ý kiến để “Đảng khỏi bệnh” thì cứ bị vu cho là phát tán, là vô nguyên tắc ?...
Với những gì tôi “nhặt nhạnh” được của đời, lòng tôi rối như tơ vò và tôi muốn làm một người trung thực nên tôi xin ra Đảng. Rất tiếc việc ra Đảng của tôi lại “vinh dự” được chỉ đạo từ thành ủy tới quận ủy rồi tới chi bộ cơ sở không cho tôi ra Đảng mà giữ lại trong Đảng rồi thi hành kỷ luật với “mức cao nhất” là khai trừ! May sao thời này không có ông Bao Công, giá Ông ấy hỏi “nhà ngươi đã tâm phục, khẩu phục chưa ?” e rằng, tôi rất khó trả lời! Anh rất tiếc cho việc tôi bị khai trừ khỏi Đảng và “phê” tôi xin ra Đảng là một hành động tiêu cực không có chỗ để đấu tranh! Khổ thân tôi, tôi xin ra Đảng là tỏ rõ lòng trung thực với Đảng, không muốn là “một phần tử cơ hội” ở trong Đảng không ẩn núp trong Đảng khi lòng tin đã bị sói mòn. Cách đây có dễ 30 năm rồi khi tôi xem vở kịch nói “khúc thứ 3, bi tráng” có tả một nhà bác học bạn thân của Lê Nin xin ra khỏi đảng. Lê Nin hỏi: “Vì sao anh lại xin ra Đảng ?” Nhà bác học trả lời: “Tôi là Đảng viên Đảng Cộng Sản Liên Xô nhưng lại không tin vào Đảng mình, tức là không tin vào chính sách “tân kinh tế” (NEP) của đồng chí. Là một Đảng viên mà không còn tin vào Đảng của mình mà vẫn còn đứng trong Đảng thì chỉ là một tên vô liêm sỉ...” Vở kịch đi xem đã quá lâu rồi, tôi nhớ mang máng như vậy. Tôi không có hoang tưởng dám ví mình như nhà bác học đó vì tôi chỉ là một hạt bụi ở dưới gót giày ông, nhưng cố là một hạt bụi có lòng tự trọng.
Anh Minh kính mến! Ôi tôi ba hoa với anh như thế này là quá dài và làm cái việc “múa rìu qua mắt thợ” “đánh trống qua cửa nhà sấm” cũng bởi tôi muốn thanh minh với anh, tôi “suy ngẫm” hơi quá đà. Tôi biết anh là một đại tá phụ trách tuyên huấn của Hội C.C.B. Đà Lạt khó có thể đồng tình với những suy ngẫm của tôi. ở trong chăn mới biết trong chăn có “rận”, anh ở quá xa nên không rõ cái chăn tôi đang đắp, xin anh cho phép tôi cứ được đắp cái chăn của tôi. Một trong những cái quý nhất của nhân loại và cũng là niềm khát vọng của mọi người. Đó là Tự Do. Mà tự do: “Tự do ngôn luận là linh hồn của mọi thứ tự do !Voltaire
Tôi chỉ là một con sứa nhỏ, vô cùng nhỏ bé vô cùng mong manh và yếu đuối phó thác tấm thân trôi nổi tự do giữa đại dương mênh mông đầy bất trắc để suy ngẫm. Nếu chẳng may gặp cá dữ thì không đủ một miếng đớp.
Lục thập nhi nhĩ thuận. Theo Khổng Tử dạy tuổi sáu mươi tai nghe điều gì cũng thấy thuận, không còn muốn tranh cãi một điều gì. Tôi sinh ra như một anh “lý sự cùn”. Hay tranh cãi, hay lý sự nên nhiều khi cũng phiền. Cái phiền nhất chính là 38 năm chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng bỗng nhiên thành hư vô, tôi tự nhiên ước gì Đảng ta hiện thân biến thành một đấng thần linh cụ thể, chẳng hạn như Đức chúa Giê su hoặc Thích Cà Mâu Ni thì tôi sẵn sàng đến quỳ xuống mà ôm chân người mà xin người rằng: mỗi thế kỷ, mỗi thể chế rồi sẽ qua đi cùng với các thứ nghĩa, các ý thức hệ nhưng Tổ Quốc và Nhân Dân là vĩnh hằng, mong Đảng lãnh đạo mang lại no ấm thực sự, dân chủ tự do thực sự, hạnh phúc thực sự như buổi đầu cách mạng tháng tám Đảng đã hứa!
Anh Minh ơi! Anh ở nơi cao nguyên có thành phố Ngàn Hoa, tôi ở miền duyên hải cát gió mặn mòi chẳng biết có dịp nào được gặp lại anh. Hơn 40 năm trước cùng học khóa I trường sĩ quan pháo binh, rồi cùng ra mặt trận, ngực đưa ra đằng trước hứng đạn bao lần may mà không chết. Nay trở về, tình bạn, tình đồng đội vẫn như xưa nhưng suy nghĩa về cuộc đời này thì anh và tôi đã khác nhau rồi. Đời mà, anh cũng đừng suy nghĩ và lo cho tôi lắm.
Với anh, chiến tranh đã lùi xa không còn lo bom đạn. Còn tôi thì vẫn còn lo làn đạn bắn từ sau lưng. Cũng là đời mà!
Lá thư này đã quá dài rồi, đã đến lúc chia tay trên con chữ. Tôi muốn nói dài, rất dài nữa với anh nhưng tiệc nào vui mấy cũng phải tàn. Vả lại “ý tại ngôn ngoại” mong anh hiểu cho tôi.
“Thế sự du du nại lão hà”. Cụ Đặng Dung khuyên con cháu đời này chuyện đời còn dài dằng dặc, già rồi đừng nghĩ nữa! có phải thế không anh ?
Xin tạm biệt, chỉ mong anh nghĩ về tôi như một con người sống đúng nghĩa của một con người.
Vòng tay ôm ông bạn già của tôi rất lâu và rất chặt.

Hải Phòng, ngày 15 tháng 9 năm 1999

* * *

Thư gửi Thanh Giang

Hải Phòng, ngày 23 tháng 2 năm2000

Anh Thanh Giang kính mến !
Sáng qua (22/2), nhận được thư của anh qua cháu Thu Hương (cháu trùng tên với con gái đầu của tôi). Đọc xong thư của anh, nói theo cách người xưa: Biết lấy gì đền đáp ơn tri ngộ! Tôi luôn tự xác định mình là một người lính già nơi tỉnh lẻ về đây:

Để thăm, để biết các anh
Không biết mặt, chỉ nghe danh miệng đời
Tò mò để biết thế thôi!

Và tôi đã học được nhiều điều hay trong suy nghĩa của anh, những sĩ phu Bắc Hà. Qua thư anh khen, điều vui sướng là không thể giấu, nhưng cũng xấu hổ đỏ mặt vì trình độ ăn đong của tôi có đáng là bao. Về hưu, không còn có ích gì bao nhiêu với đời mà quỹ thời gian thì “quá giàu”.
Ngồi nôm na mách qué viết ít dòng góp một phần nhỏ bé với các anh. Anh cũng cho phép nói chuyện “cà, kê, dê, ngỗng” đôi chút về tôi thay cho lời giới thiệu hoặc gọi là “Trích ngang lý lịch” để tiện bề “Chuyên chính vô sản”! Năm 1998, tôi lên Hà Nội gửi một bài cho tạp chí Thông Tin Công Tác Tư Tưởng và cũng đem bài này lần đầu tiên gặp anh Nguyễn Trần Thiết để bày tỏ CCB Hải Phòng muốn cùng CCB Hà Nội bảo vệ anh Trần Độ. Thấy anh Thiết nghiêm quá, tôi vội thanh minh: “Tôi đến đây không có mưu toan gì cả , anh trông tôi có giống “Xịa” “không” ?
- Anh Giang ạ! Vì tôi ở xa anh quá, mà thông tin tuy thời hiện đại nhưng “trắc trở” chắc anh cũng cần biết tôi là người như thế nào để tiện bề “xử thế:”. Năm 13 tuổi là liên lạc viên Tự vệ của anh Nguyễn Sơn Lâm (con trai nhà tư sản Nguyễn Sơn Hà) năm 16 tuổi vào lính. Năm 1953 là lính của anh Phùng Văn Khầu (Anh hùng pháo binh) ở Điện Biên Phủ. Năm 1957 lại cùng Phùng Văn Khầu học khóa I trường sĩ quan pháo binh (khóa đầu tiên của QĐND Việt Nam). Năm 1961 vào Đảng. Năm 1964, Trung úy đại đội trưởng pháo binh chiến đấu ở Tây Nguyên. Năm 1973, đường “quân lộ” gian nan quá vì cái thành phần “Tư sản kiêm Địa chủ”, nên xin tình nguyện về hưu. Dùng đại ý câu của ốt-Xtrôp-xki (một lôi phong của Nga) tóm tắt cuộc đời: với tổ quốc, với vợ con, với bạn bè khi nhắm mắt xuôi tay không làm điều gì khuất tất, không có gì để ân hận với cuộc đời! Khoảng năm 1990, tôi đơn độc, sự đơn độc của một con cừu giữa bầy đàn của mình. Tại Đại hội Đảng bộ Quận Ngô Quyền, tôi là một đại biểu đi dự Đại hội không thể không cho tôi đọc tham luận. Họ xếp bài phát biểu của tôi vào 11h15’ (nghĩa là cái giờ ai cũng mong giải tán và ăn cơm trưa sau mấy giờ ngột ngạt vì nóng bức). Cái giờ ồn ào nhất, ai cần nghe mà nói ?... Tôi đã làm được điều đó với 15 phút mong manh, cả hội trường im phăng phắc với cách mở đầu “phạm thượng” cho đến khi kết thúc bằng một khẩu hiệu “Đảng vẫn là Đảng nhưng không phải Đảng trước kia!” thật là bất ngờ, cả hội trường vỗ tay dài mà chưa có một đại biểu nào truớc đó đạt được. Và hôm sau một đại úy công an trẻ tìm đến tận nơi (mới gặp tôi cũng hơi hoảng) nói” Em không đi phục vụ hội nghị nhưng về nghe anh em bàn tán về bài tham luận hay nhất của Đại hội. Em muốn được tận mắt nhìn người phát biểu 1/17 bài tham luận ấy!” và cũng từ đó tôi đã ở trong tầm ngắm của Đảng rồi. Khoảng 1994, 1995 gì đó, tôi lại là đại biểu Đại hội Đảng của Phường. Lần phát biểu đó tôi đề nghị 3 điều lên Đảng cấp trên.
1. Đề nghị đổi tên Đảng: thực chất là suốt cuộc đời lính của tôi cùng đồng đội đã chiến đấu dưới ngọn cờ của ĐLĐVN. Vậy xin hãy giữ lấy tên Đảng Lao Động Việt Nam rất vẻ vang và rất gần gũi với thân thương với người dân Việt Nam.
2. Đề nghị đổi tên nước: thực chất là Bác Hồ, người khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xin giữ lại cái tên Bác đặt tên cho nước, hãy làm hết chức năng dân chủ và cộng hòa.
3. Đề nghị đổi cờ Đảng: Không phải vì Liên Xô và phe XHCN sụp đổ. Đảng của công nhân, của nhân dân lao động của toàn dân tộc và mẫu cũng của Liên Xô.
Nói thì dài nhưng đại ý là như vậy, Lần này thì vào sổ đen. Năm 1997, không muốn tham gia cấp ủy nhưng lại được bầu. Trúng với số phiếu gần tuyệt đối 17/19 (1 phiếu tôi không bỏ cho tôi). Ba ngày sau được bí thư Đảng ủy mời ra không công nhận một cấp ủy như tôi vì ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của Chi bộ. Năm 1998, Chi bộ lại tiếp “bắt” tôi vào cấp ủy và lần này là phó bí thư. Ôi! nói ra mà xấu hổ vì các chức danh hữu danh vô thực này, các cuộc họp Chi bộ như một cuộc họp của cái thứ “hội đồng chuột” bàn về sáng kiến treo chuông vào cổ mèo và bàn hết tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, tìm mãi không ra một con chuột nào dám cả gan buộc chuông vào cổ mèo. Năm 1999 vì lá đơn xin ra Đảng của tôi, trên chỉ thị không cho tôi ra Đảng, phải giữ lại để thi hành kỷ luật đuổi ra Đảng. Lần thứ nhất bỏ phiếu kín: 16/16 phiếu Chi bộ kết luận tôi không có tội gì mà kỷ luật. Lần thứ hai, Thành ủy chỉ thị cho Quận ủy, Quận ủy chỉ thị cho Đảng ủy Phường Đảng ủy Phường chị chỉ cho chi bộ họp bàn bạc “dân chủ” thi hành kỷ luật ở mức cao nhất. Hôm đó là 30/4/1999. Tôi được nói lời cuối cùng. Không hiểu sao lúc đó một ý nghĩ thầm kín “cao ngạo và xấc xược” tôi tự cho tôi ở cái thế “Thất thủ Hạ bì”, Quan Công chỉ hàng Hán chứ không hàng Tào! Nói mĩ miều gì thì cũng là đầu hàng.
Thưa các bác (tôi không dùng chữ đồng chí nữa) cách đây 1 tuần lễ cộng với 35 năm trước đây, tôi cùng 2 liên lạc viên và 3 chiến sĩ pháo thủ của tôi vai quàng AK, lưng đầy thủ pháo, trên thì trực thăng gọi loa chiều hồi, vòng vây thì bốn phía, mấy đứa chúng tôi đã phá vây trở về và chiến đấu tới ngày toàn thắng. Còn hôm nay, tôi đơn độc giữa “vòng vây” của Chi bộ, tôi không trốn thoát được rồi, tôi xin hạ súng đầu hàng!...
Nói xong, tôi rút thẻ Đảng từ cái túi ngực từ phía trái tim mình đưa cho Bí thư Chi bộ rồi ra về. Mười hôm sau, Uỷ ban kiểm tra kỷ luật Quận ủy mời tôi lên xem còn khiếu nại thanh minh gì không ?. Tôi từ chối vì tôi không cần gì nữa cả. Và 20/5/1999 cái vòng kim cô được tháo bỏ khỏi cái đầu khốn khổ và tội nghiệp của tôi. Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến câu nói của anh mà tôi rất tâm đắc:

Tôi chỉ làm tay sai cho chính cái đầu của tôi!
Nguyễn Thanh Giang.

Cứ cho là tôi “nịnh” anh đi, câu này cần đưa vào hàng danh ngôn.
Xin phép anh được ngừng “trích ngang” tại dòng này, có dịp lại tâm sự nhiều. Có điều cần nói thêm: Trước Tổ Quốc, với vợ con, với bạn bè, với đồng đội, tôi không có một vết nhơ vì sự khuất tất nào, khi nhắm mắt ra đi không có gì ân hận cả!
Giá tôi ở Hà Nội, được ở gần các anh để hàn huyên nóng lạnh. Trước đây, tôi có “ý kiến” cũng chỉ vì thấy dân tôi, thấy đồng đội tôi còn lam lũ, còn khổ quá. Tôi có “gào lên” cũng chỉ đòi cho cơm no, áo ấm. Nay đọc các anh: Đất nước này phải có tự do dân chủ thực sự, có nó là có tất cả, Không thì con người đâu chỉ cần cái máng đầy thức ăn, vục đầu vào đó mồm nhồm nhoàm rồi hả hê nói: Tự do - Dân chủ là cái mẹ gì, ta đâu có cần. Tôi từng là một Đảng viên, tôi vẫn day dứt về Đảng của mình dù hôm nay nó chối bỏ tôi... Thôi thì:

Chữ trinh còn một chút này
Chẳng cầm cho vững lại “giày” cho tan...

Bây giờ nói đến chuyện “bút danh” mà anh nhắc. Xưa nay “Nhi nữ lụy anh hùng”. Bà xã tôi không còn là nhi nữ, mà tôi lại càng không phải anh hùng, nhưng nước mắt đàn bà nặng lắm. Vì miếng cơm, manh áo, vì cái lý lịch Tam Đại hằn sâu nỗi đau đớn của một thời, vợ tôi lo các con tôi vì tôi là lụy. Vợ tôi cũng là một Đảng viên, bà khóc nhiều lắm. Khóc không phải vì cái lý tưởng quái đản này, mà khóc sợ tôi theo chân anh vào nhà đá! Còn tôi sống đã quá đủ tồi, còn có gì để mà sợ nữa. Dù sao anh cũng cho phép tôi từ từ suy nghĩ. Vả lại có các anh có danh, có phận, cần có chính danh cho hợp “lẽ trời”. Lòng người hướng tới. Còn tôi, xin làm con số “không” xếp tiếp phía sau.
Nói không hết ý mà lòng quý mến, kính trọng anh thì dài. Xin ngừng bút, kính chúc Cụ, Anh Chị cùng các cháu Khỏe - Vui - Yên ổn. Cám ơn tập ảnh anh tặng, đã lâu không cầm bút vẽ lại là thợ vườn gọi là vài nét gửi tới anh.

Rất trân trọng
Vũ Cao Quận

TB: Điện thoại anh bị cắt.
Nếu gọi được xin gọi: 031.564064

* * *

Thư ngỏ gửi:
Nhà lý luận Marmitisme:
Tiến sĩ Đào Duy Quát

Sáng nay được một ông bạn cho mượn Tạp chí “Thông tin Công tác tư tưởng” số tháng 6 năm 2000. Sau khi đọc vài trang đầu là “Diễn văn của Tổng bí thư Lê Khả Phiêu tại lễ kỷ niệm 110 ngày sinh của Chủ Tịch Hồ Chí Minh 19/5/1890 - 19/5/2000”, Tôi lần giở tới trang 17 thấy cái đầu đề “tìm hiểu bước đầu về tư tưởng Hồ Chí Minh” của ông tiến sĩ Đào Duy Quát, Phó trưởng ban thường trực ban tư tưởng văn hóa Trung ương. Mới đầu tôi tưởng mình hoa mắt đọc nhầm hoa mắt vội lau lại mắt kính đọc lại thì đúng là “tìm hiểu bước đầu...” và đọc một mạch rất kỹ về nội dung bài biết của ông tiến sĩ.

Tôi là một anh trong mối giao lưu với bạn bè luôn luôn đựoc xếp vào hạng ngu nhất. Thế mà sau khi đọc xong bài “tìm hiểu bước đầu...”, tôi muốn kêu trời và bắt chước người xưa than rằng: trời hỡi trời, sao đã sinh ra Tôi sao còn sinh ra Quát: Chỉ có điều tạng tôi ốm yếu không có nhiều máu để “thổ huyết” như Chu Công Cẩn thời Tam Quốc.

Nói có sách, mách có chứng: Lật đật đến nhà ông bạn tìm Tạp chí “Thông tin công tác tư tưởng” số tháng 9 năm 1999 trang 25 có bài viết “Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng hồ chí minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của đảng ta” của phó tiến sĩ Đào Duy Quát. Vậy ra năm ngoái ông Quát mới là Phó Tiến sĩ, năm nay ông đã là Tiến sĩ rồi!. Nói chung nội dung 2 bài của 2 năm (một bài của năm 1999 và một bài của năm 2000), của 2 học vị (một bài của Phó Tiến sĩ, một bài của Tiến sĩ) đều “rất hay” và cũng rất “na ná giống nhau”. Với nội dung của 2 bài trên, cứ mỗi năm 1 lần ông chỉ cần thay đổi “cái tít” cho khác đi một chút thì tạp chí cứ đăng đều đều đến năm 3000 cũng được. Bạn nào có thừa thời gian không biết dùng vào việc gì thì tìm đọc để đối chiếu 2 số Tạp chí tôi nêu trên.

Người xưa cũng dạy “biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe!” Về mặt lý luận giải trình về chủ nghĩa Mác - LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tôi xin được dựa cột không dám ho he có ý kiến gì, Nhưng còn cái đầu đề “Tìm hiểu bước đầu...”, thì cũng xin được phép đôi ba dòng cùng ông Tiến sĩ.

Lão tử có dạy: “Cây gỗ vừa tay ôm mọc lên từ cái mầm nhỏ. Cái lầu 9 tầng khởi từ hòn đất. Cuộc đi ngàn dặm bắt đầu ở dưới gót chân. Chỉ đến năm 1945, lần đầu tiên nhân dân ta nghe tên Hồ Chí Minh chứ tư tưởng Hồ Chí Minh đã có từ khi anh thanh niên Nguyễn Tất Thành rời bến nhà rồng đi tìm đường cứu nước. Đến năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một đảng viên Đảng xã hội Pháp. Năm đó nếu có được học, được đọc thì Nguyễn Ái Quốc cũng chưa thể nắm được hết “cái thần” của chủ nghĩa Mác, nhưng với trí tuệ bẩm sinh tuyệt vời Nguyễn Ái Quốc sau khi tiếp cận với luận cương của LêNin nên đứng trước cái “Mê hồn trận”: “Đệ nhị quốc tế, Đệ nhị quốc tế rưỡi và đệ tam quốc tế”, Người đã dứt khoát đứng về phía Đệ Tam quốc tế vì ở đó “Người đã tìm thấy vấn đề “Giải phóng thuộc địa” Tổ quốc của người. Và cứ theo dòng chảy của tư tưởng Hồ Chí Minh, năm 1930 năm Đảng Cộng Sản Đông Dương ra đời, Lãnh đạo nhân dân ta giành độc lập cho đất nước. Tiếp theo là cách mạng tháng 8 và 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Không dừng lại ở đó, Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng toàn dân bước vào cuộc “quyết tử chiến vĩ đại” đánh bại Đế Quốc Mỹ, tên khổng lồ của thế kỷ, mà thực ra là cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn và bây giờ Tư Tưởng Hồ Chí Minh lại tiếp tục dẫn nhân dân ta xây dựng thành công Xã hội chủ nghĩa dân chủ Hồ Chí Minh.

Đọc đến dòng này tôi hình dung ông Tiến sĩ bữu môi: Tưởng cái gì chứ lý luận chỉ có vậy thôi sao ?...

Vâng, chỉ có vậy thôi với một anh i, tờ về Tư tưởng Hồ Chí Minh như tôi. Mới ngày nào tôi cùng ông là lớp sĩ dân vào loại “Làng nhàng”, rồi ông nấp dưới cái bóng của một thời được đi Nga, đi tàu mà học tập mà thành danh. Như vậy, nhân dân này trong đó có ông và tôi, chúng ta đều trưởng thành, thấm đầy mưa móc trong dòng sông trí tuệ của Tư tưởng Hồ Chí Minh. Vậy mà khi viết về Tư tưởng Hồ Chí Minh với cái đầu đề “Tìm hiểu bước đầu...” cẩu thả để nới về Hồ Chí Minh, ông không sợ thiên hạ cười hay sao! Ngôi nhà thành quả cách mạng của Tư tưởng Hồ Chí Minh sừng sững uy nghi như hôm nay, từ trẻ con cũng thấy mà đến hôm nay một ông có học vị Tiến sĩ mới “Tìm hiểu bước đầu...” vậy xin hỏi ông đến năm nào ông viết bài “Tìm hiểu bước cuối...” đây. Vậy cái bài ông viết tháng 9/1999 là “Tìm hiểu bước giữa...” chăng. Với một bài viết dù hay nhưng đặt một cái đầu đề ngô nghê như vậy, làm cho bàn dân thiên hạ băn khoăn về cái mác “Tiến sĩ” lên đời của ông, mà tiến sĩ “dởm” bây giờ quá nhiều!.

Bài của ông viết khá dài, có nhiều điều đáng góp ý kiến nhưng tôi trích một câu của ông để cùng suy ngẫm:

... Hơn ai hết, chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên coi trọng giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng. Người chỉ rõ: sức có mạnh mời gánh được nặng và đi đựoc xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành đựoc nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Theo người, đạo đức còn là “Nền tảng”, là “cái gốc”, là “sức mạnh” của người cán bộ cách mạng và của đảng cách mạng. Tư tưởng đạo đức bao trùm của Người là suốt đời phấn đấu hi sinh vì độc lập tự do của tổ Quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì nước, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, đó là “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khổ không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục” cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”...

Thưa ông! Xin ông bình tâm đọc lại đoạn văn trên của ông, ông cảm thấy nó sáo rỗng của một cây bút hạng ba, đành rằng những điều trên đều có ở Hồ Chí Minh. Còn đoạn dưới lại là các danh ngôn Khổng - Mạnh: “Phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” rồi lại “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Đọc xong chẳng thấy chủ nghĩa Mác - Lê đâu cả chỉ thấy ông Khổng tử, ông Mạnh Tử bao trùm lên tư tưởng Hồ Chí Minh. Thảo nào có một thời ông rể quí của một “lãnh tụ” nói một câu giống như ông bây giờ: “ Chủ nghĩa Mác - Lê vào Việt Nam cưỡi trên cỗ xe Khổng - Mạnh” quả cũng không sai! Nhân tiện đây cũng nhờ ông Tiến sĩ tài cao học rộng giảng giải cho ngọn ngành chữ “Đức”, chữ “Tài” lấy cái nước Mỹ làm ví dụ. Một đất nước còn non trẻ mới có hơn 200 năm, tài nguyên thì giàu có nhưng hoang hóa. Dân di cư từ Châu Âu sang sinh sống không du thủ du thực thì cũng trộm cắp, đĩ điếm, lưu đày. Tất nhiên không phải không có người tài, người tử tế. Tính đến BillClinton là 42 đời tổng thống. Ở cái thượng tầng xã hội từ Tổng thống đến các nhà tỷ phú, các nhà khoa học, văn nghệ sĩ,... đều tài giỏi, thành danh nhưng lắm tài thì cũng nhiều tật (theo tiêu chuẩn đạo đức Việt Nam) không ông nào là không rượu, chè, trai, gái, cờ bạc. Lớp thứ dân thì ma-phi-a, găng-tơ ngựa phi như gió, súng bắn đùng đùng, một cái xã hội bát nháo, loạn xị theo cách nói của các nhà tuyên truyền Việt Nam. Một cái xã hội chỉ có “tài” mà không có “đức” lại đang đứng hàng đầu thế giới gần như mọi mặt. Còn cái xã hội “đức quá thừa” như Việt Nam, có bề dày 4000 năm lịch sử mà suốt 25 năm qua trong hòa bình mà vẫn đói khổ, thua kém về mọi mặt không thấy đó làm nhục mà vẫn nhâng nhâng tự đắc, tự huyễn hoặc nhờ xinh quang của quá khứ, của máu, của chiến tranh. Xin ông Tiến sĩ Quát hãy lý giải cụ thể để cho dễ nghe hơn. Thực tiễn là thước đo chân lý, phần này để phần ông nghe tiến nói của lòng dân.

Các ông nói thì có báo các ông đăng, còn loại dân hạng hai chúng rôi đành có vào lời thư ngỏ. Giá việc tranh luận quan điểm được giải quyết theo kiểu “Quân tử Tàu thì hay biết mấy!

Lời nói gió bay, vài lời dân đã gửi ông!

Lê Thứ Dân

Lời bàn: Hơn nửa thế kỷ dưới tán cây cành lá xum xuê rợp bóng mát, bao lần hưởng hoa thơm quả ngọt của cây đại thụ. Hơn 50 năm trú mưu nắng, gió táp bão bùng và mùa đông lạnh giá ở ngôi nhà 9 tầng lầu. Trải quá nửa đời người, đôi chân đã đi vạn dặm trường chinh, qua bao nắng lửa mua dàu... mà bây giờ mới tìm hiểu bước đầu...” mầm cây nào sinh ra cây đại thụ, nguồn đa nòa xây dựng nhà 9 tầng lầu, bước chân đầu tiên in gót ở nơi nao..., liệu có phải ông Tiến sĩ học quá nhiều nên “Ngộ chữ”? Cứ mỗi lần các ông làm “hỏng một sự việc của đất nước, mắc sai lầm về vận dụng một học thuyết” và vân vân là các ông lại dùng “sảo ngôn” Tìm hiểu bước đầu...!

Vậy đã có “bước đầu” ắt hẳn có “bước giữa” rồi đến “Bước cuối”. Xin ông Tiến sĩ Marmitisme, năm nay là năm 2000 mà nhân dân ra mới được ông chỉ cho cái “Bước đầu”, thì nhân dân ra làm gì có “bước nào” mà dám xả thân dấn bước theo “Hồ Chí Minh” từ những năm 1930, từ những năm đầu Cách Mạng Tháng 8?. Hay là vì Lê Thứ Dân tôi quá ngu không hiểu hết “nghĩa đen, nghĩa bóng” của ông, rất mong được cùng ông đối thoại!

Tôi có đọc đâu có của một danh sĩ Hà Nội có câu... Đào Duy Quát, mà là Phó Trưởng Ban Tư Tưởng - Văn Hóa thì cả nước này biến thành “nhà thổ”... Chả hiểu nhận xét này sai hay đúng, thôi đành để thiên hạ đánh giá!

* * *

Bài thơ

Nghĩ về đảng

Bờm rằng bờm chán lắm rồi !
Những lời ngon ngọt loại người phú ông
Nói như chia núi, cho sông
Mà chiếc mo quạt thì ông vẫn giành

(Trích chưa biết tên tác giả)

Tôi vào lính tuổi vừa tròn mười sáu
Để lại đằng sau: bố mẹ, các em
Đôi chân nhỏ nhoi rong ruổi mọi miền
Lửa chinh chiến đốt tuổi xanh năm tháng
Và một ngày kia...
ngày tôi vào Đảng
Giơ tay nguyện thề chiến đấu đến cùng
Giữ lời thề qua ngàn núi, trăm sông
Cùng cây súng đi đến ngày chiến thắng
Mái tóc xanh đã phai màu bạc trắng
Thân già nua với gối mỏi, chân chồn
May mắn thay trí óc vẫn còn khôn
Cứ trăn trở nghĩ suy về năm tháng
Cao trên hết, hướng lòng về với Đảng
Là người cha, chỗ dựa của niềm tin
Đến với Đảng, đâu vì Mác-Lê nin.
Mà giản dị là tấm lòng yêu nước
Đến với Đảng để học điều nhân đức
Một chút cỏn con góp sức với đời
Nếu hôm nay còn một chút gì vơi
Thì ắt hẳn ngay mai đầy chan chứa
Thời gian trôi như bóng câu qua cửa
Đảng cứ lụi dần chân lý trong tôi
Đau thắt lòng... tôi muốn hỏi: Đảng ơi!
Sao lại thế? Đảng mùa thu tháng tám
Vẻ vang thay người Đảng viên Cộng sản
Ngày qua ngày, tồi tệ thế này ư?
Sách mấy triệu trang, chữ triệu triệu từ
Rao giảng thì hay, việc làm lại khác
Lúc trích Lê-Nin, khi theo lời Mác
Đem thực thi không thuyết phục nhân tâm
Đã có lúc Đảng gắn bó với dân
Nó mộc mạc, nó giản đơn như đất
Đảng vẫn nói: nhân dân là trên hết
Nói hộ dân và nghĩ cũng hộ dân
Và người dân chỉ còn mỗi đôi chân
Lại bắt đứng bằng đôi chân của Đảng
Những tuyên ngôn của buổi đầu Cách mạng
Đảng không hề ham quyền chức cao sang
Sự nghiệp thành công, cáo lão về làng
Vui thú điền viên, thung dung câu cá
Thế mà rồi... chẳng thấy ai về cả
Cứ bám quyền với mũ áo xênh xang
Cứ tự chia nhau nhà cửa khang trang
Chẳng ông nào về quê cha đất tổ
Từ huyện, xã, quận, phường và thành phố
Đảng cứ một bên, nhà nước một bên
Bí thư thành uỷ, Chủ tịch uỷ ban
Hai cỗ máy đè nặng dân khôn kể
Đây nội, ngoại thương, đây ban kinh tế
Nội chính bên này, bên nọ công an
Cứ dăng dăng bao dinh, sở khang trang
Một cổ hai tròng người dân tội nghiệp
Đảng dạy dăn: giữ tấm lòng liêm khiết
Sao nhận tặng quà hàng triệu đô la?
Của tư bản, vốn không phải bạn ta
Người nhận là Tổng bí thư của Đảng
Để lấy lòng, Đảng tặng người lao động
Chức vu vơ trừu tượng “chủ nhân ông”
Làm chủ vu vơ: nhà máy ruộng đồng
Đảng chỉ giữ tiền và quyền sinh sát
Thân “ngọc ngà” khi trở về với đất
Đảng chiếm giữ riêng “Mai Dịch” cho mình
Lớn tiếng khen “Hoàn vũ” rất môi sinh
Nhưng với Đảng, không ai vào thiêu cả!
Chốn đô thành chạy dọc ngang phố xá
Đặt tên đường, Đảng cũng giữ phần mình
Hết đường Lê Duẩn rồi đến Trường Chinh
Đường to đẹp, Đảng để dành dự trữ
Các tỉnh huyện ổn định cùng lịch sử
Bắt nhập hai, ba tỉnh sáp với nhau
Việc sáp nhập chưa “ân ái” bao lâu
Cũng vẫn Đảng lại truyền ra lệnh tách
Rất tuỳ tiện, Đảng làm theo ý thích
Nhập vào rồi lại đem tách như chơi
Nếu có khổ thì chỉ khổ dân thôi
Còn ý Đảng cứ luôn luôn là đúng
Ghế “Đảng trị” giữ cho bền, cho vững
Đảng cho xiềng luôn hai chữ “Tự do”
Từ miền quê cho đến chốn thành đô
Cấm ngôn luận, cấm tự do báo chí
Đảng chúa ghét cái lũ văn nghệ sĩ
Nhàn cư ngồi hay bới móc lăng nhăng
Ai lớn gan đòi hỏi lẽ công bằng
Đối phó lại, Đảng trị bằng nhiều cách
Về bầu cử, Đảng có khuôn bằng sắt
Rất “tự do”, rất “dân chủ”, “khách quan”
Nhân danh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Duyệt danh sách cho phép ra ứng cử
Ôi thế là!... bao nhân tài tứ xứ
Đảng gạt loại ra hết sức thần tình
Các đại biểu toàn người của Đảng mình
Quốc hội diễn trò: điều trần, hỏi đáp
Giống chuyện xưa, mấy nhà thơ con cóc
Con cóc nhảy ra, con cóc nhảy vô
Các bồi bút thì ra sức điểm tô
Cứ: sáng đúng chiều sai... mai lại đúng
Chống chân lý bằng lưỡi lê và súng
Đảng trượt theo vết xe đổ ngày xưa
Chuyện nghĩa tình là: sớm nắng, chiều mưa
Chữ “đồng chí” là mỹ từ vô nghĩa
Đảng nghe chăng dòng đời đang mai mỉa
Đảng lộng quyền đạp dân chủ dưới chân
Đã một thời Đảng chiến đấu vì dân
Cả dân tộc đều nghiêng mình kính trọng
Suốt mấy chục năm như diều bay bổng
Đảng ngất ngây trong những tiếng ngợi ca
Mấy trăm tờ báo, hàng triệu cái loa
Ra rả mãi về công ơn của Đảng
Có điều lạ: Đảng nghe không nhàm chán!
Quên được sao, bao lầm lỗi gây nên
Chồng, vợ, cha, con gia cảnh ấm êm
Trong cải cách, bỗng gia đình tan nát
Nếu “có phúc” được chia vài thước đất
Suốt mấy chục năm, nghèo vẫn hoàn nghèo
Nhóm “Nhân văn” bị vu khống, đặt điều ?
Nỡ đầy đoạ cuộc đời bao nghệ sĩ
Bao trí thức bỏ tù thời chống Mỹ
Gán cho là: “Chống Đảng” tội tầy trời!
Lửa chiến tranh than nguội đã lâu rồi
Sao gây mãi cảnh “Nồi da xáo thịt” ?
Hai Đảng bạn đồng hành bao thân thiết
Đảng Dân Chủ, Đảng Xã Hội Việt Nam.
Vai sát kề vai suốt mấy chục năm
Gắn bó thế, hà cớ chi loại bỏ ?...
Chanh hết nước, còn dùng chi cái vỏ
Bè bạn thuỷ chung sao nỡ thế này ?...
Nỗi đoạn đường qua trăm đắng ngàn cay
Sợ hậu hoạ, Đảng xuống tay chấm hết!
Đêm đã khuya trước khi ngừng bút viết
Nhắc lại câu của Goeth tặng cho đời:
Lý luận nào rồi cũng xám, bạn ơi!
Còn cây đời vẫn xanh tươi mãi mãi.
*
Như tờ giấy gói vần thơ này lại
Vài dòng thêm tôi gửi nói với đời
Thơ của tôi như một hạt bụi rơi
Làm cộm mắt mà không hề có hại
Dân tộc biết ơn: Đảng ta vĩ đại!
Đừng biến thành cuộc đổi chác bán mua
Đừng biến mình thành: những chúa, những vua
Lại cai trị dân đen như thưở trước
Nếu Đảng cậy có công giành đất nước
Chức, quyền, tiền, dân đã trả Đảng xong!
Xin hỏi lại: Đảng có nợ dân không ?...
Dân còn khổ Đảng nỡ ngồi mà hưởng!
Chốn trần ai, lại công hầu khanh tướng
Đảng một bên và dân lại một bên
Những ngôn từ “Các Mác” với “Lê-Nin”
Là vô nghĩa với con Hồng, cháu Lạc
So với Đảng có súng, bom, đại bác
Vần thơ tôi chỉ là tiếng thì thầm
Tố Như ơi! tôi sẽ đợi trăm năm
Để sự thật trả về cho lịch sử
Đảng ngày xưa...
Đảng sẽ là bất tử!
Còn Đảng hôm nay...
Ai sẽ trả lời ?...

Xuân kỷ Mão 1999
Người lính già

* * *

Gửi:
Đảng Lao Động Việt Nam
Đảng Cộng Sản Việt Nam

Kính gửi: Chi bộ 6C thuộc đảng uỷ phường cầu tre quận ngô quyền - hải phòng

Tôi là Vũ Cao Quân 66 tuổi nhập ngũ 1 tháng 9 năm 1948, là Đảng viên có 38 tuổi Đảng. Ngay từ giờ phút này, tôi tự coi tôi là một người ngoài đảng, nên tôi không dám dùng hai chữ đồng chí thiêng liêng nữa.

Thưa các bác trong chi bộ

Trước một quyết định quan trọng của một đời người trong giấy xin ra đảng này, tôi xin phép chi bộ cho tôi được trình bày một số suy nghĩ và lý do xin ra đảng của tôi.

Tôi sinh ra từ một gia đình được gán cho là thuộc thành phần lớp trên, nhưng những ngày đầu cách mạng tháng 8 năm 1945, 4 anh chị em ruột tôi đều lần lượt theo nhau nhập ngũ, trực tiếp chiến đấu và tất cả đã hoàn thành nhiệm vụ với Quân đội, với tổ quốc. Có 3 người là Đảng viên và anh ruột tôi là liệt sĩ hy sinh năm 1954.

Gần một nửa tuổi đảng của anh chị em tôi chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng lao động Việt Nam. Tôi viết điều trên cũng là để tạ lỗi với Đảng lao động Việt Nam kính yêu, Đảng của những người lao động, của dân tộc Việt Nam.

Những năm gần đây, tình hình toàn cầu có nhiều thay đổi đột biến, xã hội Việt Nam cũng đang có nhiều diễn biến ngoài tầm suy nghĩ của tôi và trước bao câu hỏi của thời đại bao điều mới mẻ mà học thuyết Mác không lý giải nổi để lại bao điều trăn trở trong tôi. Từ những nhận thức trên tôi chỉ là một đảng viên bình thường khó có những nhận thức và quan điểm cá nhân mình đối với ý chí chung trong một số vấn đề cả lý luận cũng như thực tiễn.

Khi tôi phấn đấu vào đảng chủ yếu là lòng yêu nước và đi chiến đấu với một niềm tin vào lời hứa của buổi đầu Cách mạng tháng 8 là với sự nghiệp Cách mạng tháng 8 thành công, đất nước độc lập thì mọi người dân đều được hưởng tự do, ấm no, ai cũng có công ăn việc làm, được đi học, được chăm lo y tế không mất tiền, người già có nơi nương tựa, có an dưỡng đường v.v và v.v... Cả đời tôi nếu có làm được một điều gì tốt là do đạo lý Việt Nam là Bác Hồ răn dạy, giáo dục. Còn chủ nghĩa Mác - Lênine, cho đến bây giờ cũng chưa bao giờ tác động đến mọi nỗ lực trong cuộc đời chiến đấu và phẩm chất, đạo đức của tôi.

Mới đây nghe tin ông Trần Độ, thủ trưởng cũ của tôi, một vị lão thành Cách mạng từng bị tù đày thời Thực dân Pháp trước 1945, chính ủy sư đoàn 312 Anh hùng, phó chỉ huy quân giải phóng Miền Nam, là ủy viên Trung ương Đảng nhiều khóa đã bị khai trừ khỏi Đảng vì những điều tâm huyết của ông nói với Đảng. Tiếc thay, một Đảng vĩ đại sau khi giành được chính quyền rồi mà nỡ “được chim bẻ ná, được cá bẻ câu” thiếu lòng sắt son thủy chung tình đồng chí, tôi lại càng thấy chẳng còn lý do gì ở lại trong Đảng.

Đảng từng là một mốc son vĩ đại trong lòng dân tộc, là chiếc đinh vàng chói lọi cắm sâu vào trong lịch sử Việt Nam mà tôi cũng như hàng triệu người đem treo cuộc đời và thân phận nhỏ bé của mình vào đó và hôm nay tôi lại xin tự mình cởi ra để được tự do trôi vào dòng với dòng đời dân tộc. Rất mong chi bộ lưu ý là vợ con tôi hoàn toàn không liên quan và không chịu trách nhiệm gì về việc xin ra đảng của tôi.

Thưa các bác! Đêm đã khuya lắm rồi tim tôi co thắt lại và nước mắt dàn dụa khi phải viết những dòng này. Tôi đã ở cái tuổi trông thấy cái điểm cuối cùng của cuộc đời đã rất gần, không còn bon chen, không còn ham hố một điều gì nữa ngoài sự yên ấm của gia đình, sống trong tình thân ái của bạn bè, đồng đội, đồng chí và sự cảm thông bất lực trước cảnh nhân dân ta còn nghèo khổ, còn chịu nhiều cảnh bất công, đã có một đoạn đời khi sống đã chiến đấu vì tổ quốc thì khi chết cũng chết vì Tổ quốc mà thôi. Người xưa từng nói: Con chim sắp chết thì kêu tiếng thảm thiết, con người sắp chết nói lời trung thực! Tôi sẽ mãi mãi là người bạn trung thực của các bác, là một công dân lương thiện và là một người lính già tử tế.

Những năm gần đây được sinh hoạt cùng trong chi bộ với các bác, tôi cũng còn nhiều điều chưa phải với các bác, tôi trăm lần xin các bác trong chi bộ tha lỗi cho tôi.

Vĩnh biệt Đảng, người cha tinh thần của tôi trong suốt 38 năm qua, vĩnh biệt chi bộ 6C và xin tạm biệt các bác trong tình cảm bạn bè thân ái.

Hải Phòng ngày 1 tháng 2 năm 1999

Người làm giấy ký
Vũ Cao Quận

* * *

Thư gửi bạn Thanh Giang:

Nghĩ về tuyển tập Thôi Hữu

Hải Phòng ngày 20 tháng 9 năm 2000

Anh Thanh Giang thân quý và kính trọng.

Chiều ngày 13/9/2002 nhận được “Tuyển tập Thôi Hữu” của anh gửi tặng. Tôi biết rất ít về đời tư cũng như sự nghiệp văn chương của bác Thôi Hữu nên khi cầm “tuyển tập” một linh cảm về kiến thức, tôi tin rằng tôi sẽ tìm được nhiều điều hay và những ý tưởng uyên thâm và tốt đẹp ở “Nhà báo - nhà văn - nhà thơ” đã trở thành nguời thiên cổ. Như một anh “thày bói nói dựa” tôi đã nghĩ không sai về “tuyển tập”. Thật là tuyệt vời... cứ như là Thôi Hữu đang sống cùng chúng ta và đang nói những điều chúng ta đang trăn trở suy nghĩ. Càng đọc, càng thấy Thôi Hữu như một nhà tiên tri: Tắm mình trong cái bối cảnh hùng tráng và đau thương của dân tộc những ngày đầu của cách mạng Tháng Tám và 5 năm trong kháng chiến trường kỳ (tính đến ngày ông mất) ông dấn thân cho một sự nghiệp thiêng liêng và cao cả, ông tin tưởng chiến đấu vì nó, nhưng chính ngay ở những giờ khắc lịch sử ấy ông đã lường trước được” cái mặt sau của tấm huân chương” cái mà từ khi tôi biết đọc sách của các nhà văn tiền bối chưa từng một ai có một linh cảm tuyệt vời như ông. Những dòng tôi viết dưới đây không dám “phạm thượng” nhận định và đánh giá về Thôi Hữu mà chỉ cảm nghĩ về một bậc cha, chú tài hoa mà bạc mệnh. Nếu có gì thất thố cũng xin chị Tuyết Mai và anh bỏ lỗi !

Xin mở đầu bằng một nhận xét của Thép Mới: “Có lẽ Thôi Hữu chưa để lại cho chúng ta một cái gì lớn... ” những ý tưởng lớn vốn không có hình hài, kích thước mà để so sánh lớn hay nhỏ, nhưng khi biết những dòng này tôi thấy Thôi Hữu rất lớn với cuộc đời ngày hôm nay ở những suy nghĩ, trăn trở tưởng như rất nhỏ: “Nhiều người bảo bố tôi là hay chạnh lòng, hay day dứt trước một biểu hiện nhỏ mà ông cảm thấy sứt mẻ trong quan hệ đồng chí... ” Lời của Lan Hương. “Nhà báo Thép Mới cho rằng đó là điểm yếu của bố tôi. Nếu còn sống đến sau này, đời ông sẽ có thể gặp nhiều trắc trở?... Điều của Thép Mới dự đoán cũng là điều khẳng định. Với tấm lòng nhân ái, trung thực, với nhạy cảm về nhân tình thế thái, với nhãn quan chính trị... nếu Thôi Hữu còn sống thì Thôi Hữu sẽ là người đi “mở đường” trước cả nhóm Nhân văn Giai phẩm và ngày hôm nay anh và tôi cùng vô vàn người khác đi theo con đường ấy. Và cái điều không thể tránh khỏi là Thôi Hữu sẽ lần thứ hai vào Hỏa Lò Hà Nội. Nguyễn Hữu Đang, Vũ Đình Huỳnh, Hoàng Minh Chính... chả là những minh chứng hay sao? Không ai muốn chết sớm bao giờ, nhưng chuyện “Tái ông mất ngựa” vẫn cho ta một niềm an ủi.

Trong “tuyển tập” tôi “nhặt nhạnh” được Thôi Hữu bao điều “cũ mà mới” và trong những điều ấy có một điều mà chúng ta lại sẵn sàng “xả thân” vì nó: “... Sang đó cậu cố xem xem người ta thiết lập và tổ chức nền dân chủ thế nào. Băng một linh cảm quí báu, anh chàng đó ngay từ ngày đó đã thấy một cái gì chưa thật ổn...! (Lời của Thép Mới) Tuyệt vời thay! Ngay những năm đầu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có lẽ chỉ có Thôi Hữu là nguời đầu tiên duy nhất “ngờ ngợ” về nền dân chủ này ở buổi đầu trứng nước, là người phát hiện “cái gót A-sin” của những người Cộng sản dù chính ông cũng là một người Đảng viên, Chỉ nghĩ đến điều này thôi, thì cuộc đời tôi phải qùy xuống lạy 3 lạy thì chỉ có 3 người nếu tôi được gặp. Hai người là ông bà Châu ở phòng 1 – nhà B9 - Thủ Lệ I - Cầu Giấy người nuôi dưỡng anh thương binh điên suốt 5 năm trời vì lòng nhân ái, phúc đức của hai ông bà. Và hôm nay, nếu được đứng trước nấm mộ ông ở Võ Tranh xa xôi vì sự dự đoán thiên tài có một không hai ở ông.

“... Hỡi sách vở! Các người đã làm ta cao quý, nhưng cũng đã bắt ta làm nô lệ! Nhục nhã cho ta biết bao! Khi các người ra đời, hẳn không ngờ rằng sẽ gặp một nhân loại mau vâng lời như một đứa con nít và mãn nguyện như một kẻ giầu sang. Họ đã yên trí sống theo lời các người khuyên bảo và vui vẻ nằm trong những khuôn khổ mà các người đã tạo tác. Họ nhận cuộc đời như các người đã trình bày cho họ biết, chẳng gắng công tìm kiếm những cuộc đời khác phong phú hơn muôn phần.

Ta nằm trong khuôn khổ cũ, cố đặt bày những hình thức mới để che đậy cái tầm thường của những ý tưởng nghìn xưa...”

“... Có lẽ ta chẳng có tài sáng tác được như ai. Nhưng sáng tác làm gì, nếu chỉ để bôi thêm một nước vôi nhợt nhạt lên muôn nghìn nước vôi khác như một pho tượng qúa thời ?”

Hỡi sách vở! Các người là những cây thơm mát mọc ở trên con đường thời gian mờ mịt. Mỗi cây chỉ làm thêm một đoạn đường. Đừng bắt khách bộ hành đứng mãi dưới chân các người. Khách bộ hành sẽ chậm bước và nghèo nàn vì chỉ biết có một thứ hương.

Ta sẽ bỏ các người, chẳng phải vì bạc bẽo, mà chỉ để kịp bước thời gian... ”

Những lời trên là những “áng thơ triết học” những tiên tri và những sấm truyền. Sấm Trạng Trình tôi chỉ nghe qua và xem lời truyền tụng với những điều huyền bí xa xăm. Còn “Sấm Thôi Hữu” như ông đang đứng trước ta, giảng giải và muốn tranh luận với những kẻ còn tin vào những mớ giáo điều đang han rỉ và đang dần mục nát với thời gian.

“Tôi thương xót những chàng trai cùng thế hệ với tôi cũng đang chìm đắm trong lầm than, ngu tối. Cả một luân lý nghìn xưa làm cho họ ươn hèn, nô lệ, cả một sự sống khắt khe đã làm cho họ ích kỷ, ngu đần.

Tôi liên tưởng đến những kẻ miệng hô hào những thuyết lý vị tha, ca ngợi những tinh thần cao thượng anh hùng mà thật ra rất hèn hạ, lý tài, hám danh, ích kỷ, kiêu hãnh ở cử chỉ hàng ngày...”

Chị Tuyết Mai ơi! anh Thanh Giang ơi ! và cùng các cháu nội ngoại của ông, bên chiếc máy chữ vô tri, vô giác tôi muốn “ôm” lấy linh hồn bác mà nói: “Bác ơi! những gì bác nghĩ, bác nói đã trôi qua hơn nửa thế kỷ rồi hôm nay tôi mới được đọc. Thì ra... bác đã nghĩ trước, nói trước cả rồi. Thật là tự hào khi anh chị và các cháu có người cha, người ông tuyệt vời đến “nao lòng”! Những chàng trai cùng thế hệ với bác phỏng còn được mấy người không bị chìm đắm trong lầm than, ngu tối. Tôi chỉ là một kẻ xa lạ đứng bên lề của gia đình anh chị nhưng tôi sung sướng thay, hạnh phúc thay khi những suy nghĩ, những con chữ của chính tôi được xếp hàng đi theo con đường đầy khắc khoải, suy tư của bác từ những năm xưa, để “Rồi ra đi đến đâu đầu cũng ngẩng lên gió lộng”.

“... Lúc về Hà Nội, đến các làng ngoại thành quen thuộc, thấy các đồng chí mỗi người một bàn nhưng không còn thân thiết chia xẻ với nhau như hồi còn lăn lóc bên bụi chuối, ổ rơm. Bố tôi buồn mãi và tâm sự với bác Tô Hoài: Ngồi bên ghế mình lại nhớ ổ rơm... ! ”. Giờ đây bác đã ở cõi vĩnh hằng xa thẳm thẳm liệu còn nhớ chuyện người xưa: Giới Tử Thôi phò vương tử Trùng Nhĩ khi cơ hàn khoét thịt đùi nấu với rau rừng dâng chúa để rồi chết thui giữa chốn rừng xanh. Rồi Hàn Tín giúp Hán Cao Tổ dựng cơ đồ, Phạm Lãi lận đận theo Việt Vương Câu Tiễn giành lại sơn hà và Việt Nam ta có Trần Nguyên Hãn đệ nhất công thần theo Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa... để đến nỗi người chịu cực hình tàn khốc, kẻ phải đào nhiệm cao chạy xa bay và thân anh hùng lại đáy nước gieo mình! Còn thời hiện đại “cẳng đậu đun hạt đậu” và “dê lại giết dê” gây ra bao thảm cảnh, tôi không dám nhắc lại để chốn người hiền bác đỡ đau lòng. Khi gian nan cùng chung vai gánh vác, chia xẻ ngọt bùi. Lúc vinh hoa phú quý thì quên tình xưa nghĩa cũ, âu cũng là lối mòn lịch sử xưa cũng như nay.

Những lời nói với “hỡi sách vở... ” của Thôi Hữu phải chăng một linh cảm mơ hồ nào đó mà ông giúp chúng ta ngày hôm nay phân tích một cách nghiêm túc về những sai lầm của học thuyết Marx, nó không tưởng, nó duy ý chí và những câu chữ của nó phải dừng lại trên sách vở làm cột mốc cho một đoạn đường lịch sử, mà đã đến lúc tầm vóc của thời đại không cần đến nó nữa!

“ ... Ta sẽ bỏ các người chẳng phải vì bạc bẽo, mà chỉ để kịp bước với thời gian...! ”

Trong thư này nay tôi hay lặp đi lặp lại chữ “tuyệt vời” vì Thôi Hữu tuyệt vời quá với cuộc đời tôi, ông nói hộ tôi những điều tôi chưa đủ hiểu biết để nói. Giá tôi được đọc ông sớm vài ba năm thì khi tôi ra Đảng tôi chả có điều gì phải trăn trở, day dứt. Ta bỏ ngươi chẳng phải vì ta bạc bẽo, ta quên lời thề năm xưa mà chỉ để kịp bước với thời gian... Những lý luận của ngươi đứng lại còn ta đủ trí khôn để không dừng bước theo ngươi!

Giở đến trang có bài của Hữu Thọ: Anh nên nằm ở đâu ? Đọc xong nỗi bực bội buộc tôi viết thêm vài dòng.

“Anh có đủ lại “phẩm hàm” để chúng tôi đề nghị rước anh về Mai Dịch... ! Đọc câu này thấy “ghê ghê” cả người khi nghĩ về những người cộng sản. Lúc sống thì bon chen, công hầu khanh tướng khi chết thì toan tính tranh chỗ để nằm. Tôi chợt nhớ đọc một đoạn một bài viết của anh đã lâu có nói về ngôi mộ của Tổng thống Ken-nơ-dy trang nghiêm, giản dị nằm lẫn với dân thường mới thấy lợm giọng về bọn trọc phú hãnh tiến. Trách chi trong dân đã có câu: Khi sống chúng cũng xa dân đến khi chết chúng cũng vẫn xa dân! Xin bác Thôi Hữu cứ yên nghỉ trong lòng dân, nơi an nghỉ của những người tử tế.

Anh Thanh Giang ơi! Anh thật là có hồng phúc: Bố vợ thế, con rể thế, thế thời phải thế! Xin anh tiếp tục làm rạng danh cho người đã khuất. Xin cám ơn anh, cám ơn chị Lan Hương (xin tò mò một chút Lan Hương với Tuyết Mai có phải là một không anh ?) đã cho tôi được biết một Thôi Hữu tuyệt vời, chỉ tiếc một điều là biết về ông quá muộn.

Xin ngừng lời và tạm biệt anh trong tình lưu luyến.

Rất thân
Vũ Cao Quận