Thư Của Ông Võ Văn Kiệt
Gởi Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam

Ng y 9/8/95, ông Võ Văn Kiệt, thủ tướng H Nội v l Ủy Viên Bộ Chính Trị của đảng cộng sản Việt Nam (CSVN), gởi cho các ủy viên khác của Bộ Chính Trị CSVN một lá thư góp ý về nhiều vấn đề. Lá thư n y đã được tán phát rộng rãi ở trong v ngo i nước. Cuối tháng 12/95, nh cầm quyền H Nội vịn v o lý cớ l lá thư n y thuộc loại "t i liệu tối mật", nên đã bắt v đã xử tù các ông H Sĩ Phu (1 năm), Lê Hồng H (2 năm) v Nguyễn Kiến Giang (15 tháng tù treo).

H Nội, ng y 9 tháng 8 năm 1995

Kính gửi: Bộ Chính Trị.

Sau đợt thảo luận tháng 6 vừa qua Bộ Chính Trị (BCT) xây dựng các văn kiện chuẩn bị Đại Hội VIII, đồng chí Tổng Bí Thư đã kết luận còn một số vấn đề v quan điểm lớn cần tổ chức nghiên cứu v thảo luận sâu hơn nữa. Tôi tán th nh kết luận nầy v xin trình b y một số ý kiến về 4 vấn đề:

1- Đánh giá tình hình, cục điện thế giới ng y nay. 2- Vấn đề chệch hướng hay không chệch hướng? 3- Nâng cao năng lực quản lý nh nước. 4- Xây đựng Đảng.

1- Đánh giá tình hình, cục diện thế giới ng y nay.

Nhận thức của chúng ta về tình hình, cục diện thế giới ng y nay quyết định đánh giá của ta về thời cơ v thách thức.

Đặc điểm cần nhấn mạnh l : Trong thế giới ng y nay, không phải mâu thuẫn đối kháng giữa chủ nghĩa xã hội v chủ nghĩa đế quốc, m trước hết l tính chất đa dạng đa cực trở th nh nhân tố nổi trội nhất chi phối những mâu thuẫn v sự vận động của các mối quan hệ giữa mọi quốc gia trên thế giới. V cũng khác với trước, ng y nay lợi ích quốc gia, lợi ích khu vực, những lợi ích to n cầu khác (ví dụ ho bình, vấn đề môi trường, vấn đề phát triển, tính chất to n cầu hoá ng y c ng sâu sắc của sự phát triển lực lượng sản xuất...) đóng vai trò ng y c ng quan trọng hơn trong việc phát triển những mâu thuẫn cũng như trong việc tạo ra những tập hợp lực lượng mới ng y nay trên thế giới. Nhiều mâu thuẫn khác đã từng tồn tại trong thời kỳ thế giới còn chia th nh 2 phe - kể cả mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc v chủ nghĩa xã hội, có thể tiếp tục còn tồn tại, song chịu sự chi phối ng y c ng lớn hơn bởi những mâu thuẫn khác v do đó không còn có thể giữ vai trò như cũ.

Không thấy hết đặc điểm quan trọng nói trên, không thể cắt nghĩa được việc VN trở th nh th nh viên ASEAN, ký kết hiệp định khung với EU, tạo lập ra được quan hệ quốc tế ng y c ng rộng rãi v gi nh lấy vị trí quốc tế ng y c ng thuận lợi hơn trước giữa lúc hệ thống thế giới xhcn không còn tồn tại được nữa. Cần nhấn mạnh đấy l chiến công có ý nghĩa chiến lược v xoay chuyễn hẳn tình thế của đường lối đối ngoại Đại Hội VII - xuất phát từ những nhận thức mới v chính xác về cục diện thế giới ng y nay. Bây giờ, lợi ích của VN l phải phát huy hơn nữa đường lối ấy. Đồng thời cũng phải tỉnh táo đánh giá những thách thức v sức ép mới do ta gia nhập ASEAN, hợp tác với EU, bình thường quan hệ với Mỹ...

Ng y nay, Mỹ v các thế lực phản động khác không thể giương ngọn cờ chống cộng để tranh thủ dư luận v tập họp lực lượng chống lại nước Cộng Ho XHCN Việt Nam như trước được nữa. Vì ngọn cờ nầy đã hết phép mê hoặc, chúng phải chuyển sang ngọn cờ dân chủ v nhân quyền. Song ngay cả ý đồ muốn thủ tiêu nh nước Cộng Ho XHCN VN của các thế lực đế quốc v phản động cũng phải được đánh giá dưới ánh sáng của cục diện mới - đặc biệt l trong mối tương quan giữa các nước lớn, các "trung tâm", các "cực" đang hình th nh ng y c ng rõ nét.

Để có cơ sở phân tích mối tương quan vừa nói bên trên, chúng ta có h ng loạt những sự kiện quan trọng kể từ khi cục diện thế giới bắt đầu chuyển sang thời kỳ mới, đó l : chiến tranh Irak, sự tập họp lực lượng v thái độ các nước lớn chung quanh việc chống lại VN trong vấn đề Campuchia, giải pháp ho bình giữa Palestine v Israel, hòa giải ở Nam Phi, nội chiến ở Nam Tư cũ (Bosnia, Herzegovina), sự tranh chấp ở Trường Sa v thái độ các loại nước khác nhau chung quanh vấn đề nầy, sự phát triển các mối quan hệ quốc tế của VN trong 10 năm qua, triển vọng bình thường hoá quan hệ Việt-Mỹ, vai trò ng y c ng quan trọng của ASEAN, tiếng nói của các nước nhỏ c ng c ng nhiều trọng lượng hơn trước, xu thế tập hợp các tổ chức kinh tế khu vực, vai trò ng y c ng tăng của Liên Hiệp Quốc song song với hiện tượng những siêu cường ng y c ng khó thao túng Liên Hiệp Quốc như thời kỳ chiến tranh lạnh v.v...

Trước hết đó l những mâu thuẫn v lợi ích của các quốc gia - bao gồm cả sự cạnh tranh gay gắt, xung đột lợi ích quốc gia, yêu cầu hợp tác, những thách thức tác động v o quốc gia do sự phát triển của lực lượng sản xuất v những biến động trong kinh tế thế giới, sự hình th nh những liên kết kinh tế khu vực, những thách thức mới trên các lãnh vực chính trị, văn hoá, xã hội do quá trình ho nhập v giao lưu kinh tế ng y c ng sâu rộng giữa các quốc gia, những chính sách v thủ đoạn của các quốc gia v các thế lực thù nghịch nhau sử dụng những yếu tố mới nầy để chi phối đối phó hoặc loại bỏ nhau... Không xử lý được tình hình mới nầy, không một quốc gia n o có thể đứng vững được.

Cũng cần đánh giá thực chất quan hệ giữa các nước xhcn còn lại. Sự thật hiện nay l 4 nước xhcn còn lại tuy có những mối quan hệ với nhau ở mức độ nhất định, song không thể h nh động v không có giá trị trên trường quốc tế như một lực lượng kinh tế v chính trị thống nhất. Nói riêng về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, Việt Nam-Cộng Ho Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thì tính chất quốc gia lấn át (nếu chưa muốn nói l loại bỏ) tính chất xhcn trong những mối quan hệ giữa những nước nầy. Thậm chí trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc tồn tại không ít những điểm nóng. Thuần tuý nói về cnxh thì cả 4 nước xhcn còn lại đều nói còn đang tiếp tục nghiên cứu, tìm đường con đường riêng phù hợp của từng nước.

Cũng không thể xem xét sự phục hồi ở mức độ n o đấy của phong tr o cs v công nhân quốc tế - kể cả những nước Liên Xô Đông Ấu cũ, có cùng một chất lượng v cũng có một giá trị cscn như trước kia. CNXH dân chủ v nhiều quan điểm pha trộn khác đang tác động mạnh mẽ v o tr o lưu nầy. Nghĩa l sự phục hồi n y chưa mang lại cho phong tr o cs v công nhân quốc tế sức nặng chính trị vốn có trước đây.

Song có một thực tế khách quan khác rất quan trọng cần được mổ xẻ nghiên cứu. Đó l , bất chấp những biến động nghiêm trọng của hệ thống thế giới xhcn, nước Cộng Ho XHCN Việt Nam do đảng CSVN lãnh đạo ng y c ng được cũng cố v đứng trước những triển vọng to lớn. Cục diện quốc tế ng y nay có những đặc điểm gì, cho phép vận dụng đường lối n o v có thể khai thác những yếu tố gì đã giúp cho đảng ta xoay chuyển được tình hình, tìm ra được hướng đi mới v tạo khả năng gi nh thời cơ để đi lên như vậy?

Điều hiển nhiên l trên thế giới tiếng nói ủng hộ hay đồng tình với yêu cầu ổn định chính trị của VN ng y c ng mạnh, sự chấp nhận trên thế giới đối với chế độ chính trị một đảng của VN cũng đang tăng lên - mặc dầu lúc nầy lúc khác vấn đề dân chủ v nhân quyền được sử dụng như một phương tiện chính trị đối phó với chúng ta. Hơn thế nữa, đang có một xu thế ng y c ng mạnh trên thế giới hoan nghênh, cổ vũ sự phát triển năng động v vai trò tích cực của VN trên trường quốc tế. Nếu như trong tương lai gần đây, chúng ta thực hiện được dân gi u nước mạnh, xã hội công bằng v văn minh, nước VN do đảng CSVN lãnh đạo sẽ lại một lần nữa gi nh được trái tim của các lực lượng tiến bộ trên to n thế giới - một sự tập họp lực lượng mới, như đảng ta v nhân dân ta đã từng thực hiện được trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Bởi vì mục tiêu dân gi u nước mạnh, xã hội công bằng v văn minh l khát vọng của nhân dân ta, đồng thời cũng l mong muốn của nhiều nước đang phát triển v các lực lượng tiến bộ trên to n thế giới. Những lý luận hoặc mô hình nầy mô hình khác về xây dựng xã hội xhcn vừa qua có thể thất bại, nhưng xây đựng một xã hội xhcn chân chính vẫn l khát vọng của nhân dân lao động to n thế giới. Xem xét thế giới như vậy, mặt trận của VN tập họp lực lượng trên thế giới ng y nay vẫn có triển vọng ng y c ng mở rộng. Điều nầy ho n to n phụ thuộc v o đường lối của đảng ta v phẩm chất cách mạng của chúng ta.

Tất cả phải đưa lên b n cân, để có thể nhận định, phán đoán tình hình một cách đúng đắn, xác định chính xác nhiệm vụ phải thực hiện, để lo thu xếp, huy động thực lực bên trong, tập họp lực lượng bên ngo i v b i binh bố trận như thế n o để thăng bằng trong keo vật mới nầy!?

Với đánh giá tình hình theo cách nhìn mới, có thể nói, sau một nửa thế kỷ phấn đấu đầy hy sinh gian khổ kể từ cách mạng tháng 8, bây giờ chúng ta mới cùng một lúc có được điều kiện bên trong tốt nhất v bối cảnh quốc tế bên ngo i thuận lợi nhất cho phép đặt ra được v thực hiện được dân gi u nước mạnh, xã hội công bằng v văn minh, đáp ứng được đòi hỏi phải vươn ra thế giới bên ngo i để tồn tại v phát triển, để lấy lại thời gian đã mất v đuổi kịp các nước chung quanh. Có thể nói, đất nước đang đứng trước cơ hội chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta.

Đảng ta lãnh sứ mệnh lịch sử trước dân tộc l không bỏ lỡ cơ hội nầy. Đây chính l nhiệm vụ của đại hội VIII. Cũng có thể nói rằng, rụt rè bỏ lỡ cơ hội nầy, sẽ l m thảm họa cho đất nước, đảng ta sẽ đứng trước nguy cơ bị tước quyền lãnh đạo - chỉ vì không đáp ứng được đòi hỏi phát triển của đất nước. Xin nhấn mạnh rằng sau gần 200 năm kể từ khi kinh tế thế giới đi v o thời đại công nghiệp hóa, dân tộc VN ta bây giờ mới có lại cơ hội như vậy. Chúng ta không được v không có quyền để bất kỳ vướng mắc n o ngăn cản nhân dân ta nắm lấy cơ hội nầy. Sự tồn vong của đất nước phải được xem xét trên tất cả.

2- Vấn đề "chệch hướng" hay không "chệch hướng"?

Đề t i nầy đang được thảo luận rất sôi n-i trong đảng v cả trong nước, chắc chắn còn phải mất nhiều công sức để đi tới những kết luận có sức thuyết phục hơn.

Về lý luận sẽ b n sau.

Về thực tiễn, phải chăng có thể căn cứ v o những tiêu chí cơ bản nhất sau đây để l m rõ định hướng XHCN, đó l :

1- Dân gi u, nước mạnh, xã hội công bằng v văn minh. 2- Phát triển gắn liền với giữ gìn độc lập chủ quyền v bản sắc văn hoá của dân tộc. 3- Phát triển gắn liền với phúc lợi xã hội v bảo vệ môi trường. 4- Xây dựng nh nước của dân, do dân v vì dân có hiệu lực. 5- Đảng CSVN lãnh đạo to n bộ quá trình phát triển nói trên của đất nước.

Một vấn đề rất khó ở đây l sự tách bạch đúng đắn giữa mục tiêu v phương tiện thực hiện mục tiêu. Có l m tốt được việc nầy, mới xác định rõ được chệch hướng hay không chệch hướng.

Ví dụ, nếu chúng ta cho rằng kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo l một tiêu chí cho định hướng xhcn, nhấn mạnh rằng đó l mục tiêu phấn đấu của chúng ta, của dân tộc ta, thì điều nầy ho n to n không đúng. Thực ra vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh chỉ l một trong nhiều điều kiện quan trọng, đồng thời cũng l một trong nhiều phương tiện quan trọng cần phải có để thực hiện được định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghệ thuật lãnh đạo đất nước ở đây l phải xử lý h i ho mối quan hệ giữa việc phát huy vai trò kinh tế quốc doanh v việc thúc đẩy các th nh phần kinh tế khác phát triển, với đích cuối cùng l bảo đảm thực hiện được 5 tiêu chí nói trên.

Chúng ta nhất trí rằng con đường xây dựng xã hội đi theo định hướng xhcn ở nước ta chưa có tiền lệ, chính vì lẽ nầy phải luôn tránh công thức hoá, phải bám lấy kết quả tổng thể trong việc thực hiện những tiêu chí lớn để soi rọi lại xem có chệch hướng hay không chệch hướng.

Ví dụ có đồng chí nói biểu hiệu của chệch hướng l quốc doanh không l m chủ được lưu thông phân phối, tư thương hầu như chi phối thương nghiệp. Một biểu hiệu khác của chệch hướng - cũng theo cách nhìn như vậy - l trong giao thông vận tải tỷ lệ xe tư nhân chiếm quá cao...

Cũng những sự việc nói trên, đúng ra phải được đánh giá ho n to n ngược lại.

Sự thật l đường lối đổi mới đã tạo ra được một cơ chế kinh tế cho phép huy động mọi tiềm năng trong xã hội, nhờ đó đã xử lý có thể nói khá th nh công vấn đề lưu thông h ng hoá v giao thông vận tải. Về phương diện nầy chúng ta đã th nh công rất xa so với thời kỳ còn cơ chế kinh tế bao cấp. Bây giờ h ng hoá đi v về hầu như mọi miền đất nước, nhân dân trong cả nước đi lại dễ d ng hơn trước nhiều lần. Cũng nhờ đó, đời sống được cải thiện rõ rệt, nền sản xuất h ng hoá tăng trưởng nhanh. Chúng ta thử hình dung sự phát triển nầy đã huy động được biết bao nguồn nhân lực nh n r-i trong xã hội, đã tạo biết bao công ăn việc l m mới cho người dân trong cả nước m khu vực kinh tế nh nước không thể lo xuể. Những năm trước khi thực hiện đổi mới, chúng ta đã có kinh nghiệm nếu không có sự phát triển nầy thì kinh tế tiêu điều v ách tắc như thế n o! Nếu coi sự phát triển nầy l chệch hướng, có nghĩa l chúng ta phải đem kinh tế quốc doanh ra đối lập lại với sự phát triển nầy, đối lập với tất cả những người lao động đang bỏ của v công sức để tạo ra sự phát triển năng động như hiện nay.

Đương nhiên tình hình lưu thông phân phối v giao thông vận tải hiện nay chưa phải thật ho n hảo. Song không thể giải quyết những vấn đề ta gọi l "tranh mua, tranh bán", vấn đề đầu cơ, tai nạn lưu thông... bằng cách mở rộng m ng lưới quốc doanh trong những lĩnh vực nầy. Đấy không phải l giải pháp. Trong những năm của cơ chế kinh tế cũ, quốc doanh hầu như nắm to n bộ các lĩnh vực nầy v chúng ta đã biết kết quả. Ng y nay không ít xí nghiệp, đơn vị quốc doanh l m ăn trái với pháp luật, số lượng phương tiện giao thông vận tải của quốc doanh - trong đó có xe của đơn vị quân đội - tham gia buôn lậu khá lớn... Vì vậy, giải pháp cho những vấn đề nầy phải tiếp tực ho n thiện thị trường, tăng cường chất lượng bộ máy nh nước trong quản lý kinh tế, kiện to n v tiếp tục phát triển các hệ thống t i chính, luật pháp, những chính sách ưu đãi, h- trợ đứng hướng..., chứ không phải giao cho quốc doanh "nắm" tất cả.

Cũng có ý kiến nói chệch hướng trong vấn đề hợp tác xã.

Cần phải nói thẳng thắn mô hình hợp tác xã cũ không thích ứng với sự phát triển kinh tế hộ v những đòi hỏi mới trong quá trình phát riển kinh tế hiện nay của đất nước. Kết thúc sự tồn tại của mô hình nầy trong lĩnh vực nông nghiệp v tiểu công nghệ l tất yếu. Thực ra kinh tế hộ trong nông nghiệp, thủy sản , những người sản xuất tiểu thủ công nghiệp v không ít những người buôn bán nhỏ, sản xuất nhỏ đang rất cần một loại hình hợp tác xã mới có thể h- trợ thiết thực cho họ. Khuyết điểm của chúng ta l chưa đáp ứng được đòi hỏi mới nầy. Trong khi đó các hộ kinh tế n y đang tự phát tổ chức với nhau những hình thức hợp tác thiên hình vạn trạng v ở những mức độ rất khác nhau, nơi th nh công, nơi thất bại v không ít những kinh nghiệm đáng được nghiên cứu cho việc xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới thích hợp. Khư khư giữ mô hình hợp tác xã cũ sẽ thất bại. (Vừa qua tôi đến thăm nông trường Sông Hậu. Thực chất đó không còn l một nông trường theo nghĩa xưa nay chúng ta vẫn hiểu. Đó chính l một mô hình hợp tác xã kiểu mới như chúng ta vẫn thường thấy ở các nước công nghiệp. Đây chính l mô hình cần được nghiên cứu).

Song nguy cơ chệch hướng đang ẩn náu trong nhiều hiện tượng kinh tế xã hội khác nhau chưa được chú ý xử lý thỏa đáng. Đó l trình trạng l m ăn trái pháp luật, tham nhũng, tiêu cực đang trở th nh "quốc nạn", bao gồm những thói xấu như cục bộ, cửa quyền, tính vô chính phủ, cắt cử, tiêu s i lãng phí v ăn cắp của công... Những hiện tượng nầy đang l m giảm hiệu lực pháp luật v các hệ thống kinh tế quản lý (vĩ mô hay vi mô) của nh nước, gây nhiều thiệt hại kinh tế nghiêm trọng, kể cả trong liên doanh với nước ngo i; kích thích kinh tế ngầm v các mafia, tăng thêm những căng thẳng trên các vấn đề như khoảng cách thu nhập, sự phân hoá v tệ nạn xã hội (đặc biệt những tệ nạn nghiện hút, cờ bạc, mãi dâm), vấn đề công bằng v công lý, v.v... Sẽ sai lầm, nếu đem tất cả những phát triển không l nh mạnh n y đổ l-i cho cơ chế kinh tế thị trường. Kết luận như vậy sẽ chỉ còn có cách l xoá bỏ cơ chế thị trường, một điều ai cũng thấy l vô lý, v những hiện tượng xấu sẽ không thể vì thế tự nhiên biến mất (đ nh rằng cơ chế thị trường v nền kinh tế nhiều th nh phần tự nó cũng đặt ra nhiều vấn đề mới phải xử lý).

Để những hiện tượng nầy tiếp tục phát triển, sẽ có nghĩa nh nước mất dần khả năng kiểm soát, sự trong sạch v vững mạnh của chế độ chính trị giảm sút, lòng dân phân tán, định hướng xhcn sẽ chỉ còn l khẩu hiệu trống r-ng. Chệch hướng v diễn biến ho bình sẽ có thêm mảnh đất m u mỡ để bung ra. Trên phương diện nầy, rõ r ng hậu quả của những yếu kém trong năng lực quản lý nh nước chưa được đánh giá đúng mức. Ch- n o chúng ta cũng có đảng viên, cán bộ, song tình trạng tiêu cực vẫn có xu hướng phát triển.

Đảng v các tổ chức cơ sở đảng, chính quyền các cấp, các đo n thể, các bộ, ng nh phải l m gì ?

Một vấn đề không thể tránh né l chúng ta thừa nhận sự phát triển của các th nh phần kinh tế ngo i quốc doanh đến mức độ n o để khỏi chệch hướng? Đề nghị cần trao đổi kỹ vấn đề nầy.

Chúng ta đang đứng trước đòi hỏi khách quan l nước ta phải gi u lên c ng nhanh c ng tốt, để có sức cạnh tranh v có lực thu hút mọi nguồn v o từ bên ngo i, để giữ gìn độc lập tự chủ trong mở rộng hợp tác v phát triển. Chúng ta phải ráo riết tăng mạnh cường độ tích tụ vốn để có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã từng kéo d i h ng trăm năm trong lịch sử các nước công nghiệp xuống còn v i ba thập kỹ như một số "con rồng" ở Châu Á đã thực hiện. Không l m được như vậy sẽ mất thời cơ v mất tất cả. Chính đấy l những đòi hỏi r ng buộc chúng ta trong khi xử lý vấn đề phát triển các th nh phần kinh tế.

Hơn thế nữa, chúng ta còn phải đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sao cho trong vòng mươi mười lăm năm tới chỉ còn trên dưới 1/3 lao động cả nước l m nông nghiệp, tỷ trọng công nghiệp trong GDP phải giảm xuống mức thấp trong quá trình tăng trưởng kinh tế. Không đạt được yêu cầu n y, sẽ tăng thêm nguy cơ bần cùng hoá (bởi vì trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp t i nguyên đất đai, rừng núi v ven biển đã được khai thác hầu như ở mức độ quá tải bằng công nghệ thủ công v lạc hậu), ho n to n không thể nói tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong mở rộng liên doanh với nước ngo i, phần góp vốn của phía ta hiện nay thường chỉ đạt 20-30% giá trị công trình, vì chưa l m tốt việc huy động các nguồn lực trong nước, phiá ta rất thiệt thòi v.v...

Như vậy phải chăng câu trả lời sẽ l : Để đáp ứng những đòi hỏi vô cùng bức xức của phát triển, chúng ta chủ trương trong khi đối xử bình đẳng với tất cả th nh phần kinh tế, chúng ta chấp nhận không đặt ra cho các th nh phần kinh tế bất kỳ giới hạn phát triển n o, miễn l sự phát triển ấy cân đối h i ho , ổn định, nằm trong khuôn khổ của lập pháp, nh nước kiểm soát được v đáp ứng tối đa những tiêu chí lớn chúng ta đã xác định cho định hướng xhcn?

Nếu chấp nhận đạo lý vừa trình b y trên, sẽ có nhiều vấn đề hệ trọng phải xem xét lại trong việc hoạch định đường lối v các chính sách. Có thể chính đạo lý nầy sẽ thống nhất ý chí to n dân tộc trước vận mệnh mới của đất nước, tạo ra động lực không gì khuất phục được cho một nước VN dân gi u nước mạnh, xã hội công bằng v văn minh, độc lập v bất khả xâm phạm đối với bất kỳ sức ép bên ngo i n o. Song nhằm đạt được mục tiêu nầy, năng lực quản lý nh nước, quản lý kinh tế xã hội trở th nh một trong những tiền đề quyết định - v đây l điều chính l điều chúng ta thiếu nhất. Xử lý th nh công yêu cầu nầy l nhiệm vụ chính trị rất quan trọng của đảng ta hiện nay.

Nh nước Cộng ho XHCN VN có phải ưu tiên phát triển th nh phần kinh tế quốc doanh không ?

Như đã trình b y, đảng ta lựa chọn quan điểm đối xử bình đẳng các th nh phần kinh tế. Lợi ích lâu d i của đất nước đòi hỏi phải quán triệt v kiên trì quan điểm n y. Trừ một số lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc phòng v phát triển cơ sở hạ tầng (bao gồm cả về mặt xã hội), không nên v không thể đặt vấn đề "ưu tiên" kinh tế quốc doanh, hay giao cho kinh tế quốc doanh nhiệm vụ "nắm" một thứ gì đó như chúng ta đã thường l m trong cơ chế quản lý cũ.

Nhưng kinh tế quốc doanh thực sự đang có nhiều vấn đề quan trọng khác chưa được quan tâm đúng mức.

Điều đáng lưu ý nhất l kinh tế quốc doanh nhìn chung chưa đem lại hậu quả mong muốn lớn nhất cho nền kinh tế quốc dân xứng đáng với vai trò, vị trí v vốn liếng nó nắm trong tay. Đối với chế độ chính trị của nước ta, kinh tế quốc doanh l lực lượng kinh tế quan trọng nhất trong việc thực hiện đường lối chủ trương kinh tế v phát triển đất nước của đảng. Chúng ta còn phải l m nhiều việc để cho kinh tế quốc doanh trở th nh đội quân chủ lực mở đường cho kinh tế nước ta đi lên, h- trợ cho các th nh phần kinh tế khác phát triển, l m ch- dựa v có khả năng hạn chế bởi rủi ro cho kinh tế cả nước, tạo ra những tập đo n mạnh trong cạnh tranh với bên ngo i. Cũng phải từ quan điểm vừa trình b y m xem xét, bố trí kinh tế quốc doanh v o đâu, l m việc gì, với phương thức n o có lợi nhất. Ngo i ra cần l m cho kinh tế quốc doanh trở th nh yếu tố năng động trong hệ thống điều h nh kinh tế vĩ mô của nh nước.

Sự thật l năng suất lao động v hiệu quả của từng đồng vốn trong kinh tế quốc doanh (ở đây không kể đến những đơn vị kinh tế phải l m công ích xã hội hoặc phát triển cơ sở hạ tầng) nhìn chung còn thấp so với số vốn của các th nh phần kinh tế khác trong xã hội. Tình trạng thất thoát v lợi dụng vốn quốc doanh còn ở mức nghiêm trọng. Hơn nữa, việc sắp xếp v cơ cấu lại kinh tế quốc doanh, cổ phần hoá, xây dựng các liên kết liên doanh còn rất chật vật, có nhiều sức tiêu cực chống lại. Ngo i ra chúng ta hiện nay mới chỉ quan tâm đến xử lý hiệu quả của các xí nghiệp, song chưa có sự quan tâm thoả đáng đến vấn đề chuyển đổi các xí nghiệp để huy động vốn quốc doanh tập trung v o những ng nh nghề có thể chi phối sự phát triển kinh tế của cả nước, việc sắp xếp lại v giải thể những xí nghiệp không có hiệu quả kinh tế đáng kể thực hiện chưa tốt nên chưa tạo ra chuyển biến mới.

Tóm lại để góp phần giữ được định hướng xhcn, đòi hỏi bức xúc l phải nâng cao tính hiệu quả của kinh tế quốc doanh, mhằm l m cho nó chiếm một vai trò chủ đạo trong thị trường nước ta chứ không phải l d nh cho nó quyền "nắm" thứ nầy thứ khác.

3- Nâng cao năng lực quản lý nh nước.

Đã có nhiều cuộc trao đổi về nh nước pháp quyền. Tôi không đi v o lý luận của vấn đề nầy, m muốn nhấn mạnh yêu cầu bức xúc phải nâng cao năng lực quản lý nh nước, với nhận thức cho rằng yếu kém hiện nay của chúng ta trong nhiệm vụ quản lý nh nước đang thách thức rất nghiêm trọng khả năng vươn lên của nước ta.

Trước hết sống v l m việc theo pháp luật trở th nh đòi hỏi ng y c ng bức thiết của cuộc sống v sự nghiệp phát triển đất nước ta.

Đòi hỏi tất yếu v không thể tranh cãi được n y đang l m cho chúng ta lo lắng. Bởi vì một mặt, sự phát triển luật pháp v năng lực thi h nh luật pháp chưa theo kịp đ phát triển của đất nước v xã hội ta hiện nay. Mặt khác, tình trạng sống v l m ăn trái với pháp luật chưa có xu thế giảm.

Có thể nói chúng ta đã l m rất nhiều việc để tiếp tục phát triển hệ thống luật pháp, kết hợp với tăng cường các tổ chức thi h nh luật pháp, nhưng kết quả chưa như mong đợi. Ngay bây giờ, tình trạng bất cập của bộ máy nh nước v những vấn đề nóng bỏng trong đời sống kinh tế xã hội đã ở mức độ báo động. An ninh kinh tế, an ninh chính trị v an ninh xã hội đều có nhiều vấn đề đáng lo ngại do buông lỏng quản lý nh nước. Chưa có thể nói chúng ta đã tạo ra một môi trường kinh tế xã hội thông suốt, minh bạch, rõ r ng cho từng người dân có thể an tâm l m ăn v được bảo hộ chu to n trong l m ăn. Chúng ta chưa có một môi trường như vậy cho sự quản lý có hiệu quả của nh nước. Giới đầu tư v kinh doanh nước ngo i mặc dù đánh giá rất cao sự ổn định chính trị v tiềm năng kinh tế của nước ta, nhưng còn e ngại rất nhiều về môi trường l m ăn ở nước ta. Không thay đổi căn bản tình hình nầy, ngay sự kiểm soát của nh nước ta đối với mọi quá trình diễn biến trong xã hội nước ta ng y c ng có nhiều hiện tượng "tuột tay", "chệch hướng".

Hãy thử mổ xẻ tình trạng tham nhũng, tình trạng buôn lậu, trốn thuế, tình trạng móc ngoặc ở trong nước hoặc với nước ngo i trong kinh tế, tình trạng chồng chéo ách tắc trong điều h nh v quản lý đất nước, rừng núi t i nguyên bị t n phá trong thời bình, môi trường tự nhiên bị xâm phạm nghiêm trọng, cơ sở hạ tầng nhiều nơi không được gìn giữ, tình trạng dân kêu oan khiếu nại... chúng ta sẽ có được những thước đo khả năng chính xác về mức độ báo động n y. Một trong những nguyên nhân chính l những yếu kém trong nhiệm vụ quản lý nh nước.

Phải chăng cho đến nay mọi cố gắng của chúng ta trên mặt trận nầy còn rất chấp vá, thiếu đồng bộ v chưa đụng chạm v o những khâu cơ bản nhất - nghĩa l chưa trúng v o những "nút" cần bấm để thay đổi hẳn tình thế? Xin nhắc lại rằng những năm trước đại hội VI v sau đó một ít, chúng ta loay hoay mãi trong việc ổn định giá cả v chống lạm phát nhưng không kết quả, phải chờ cho đến khi thiết lập được cơ chế kinh tế trên cơ sở thừa nhận giá trị thị trường chúng ta mới xoay chuyển được tình hình v đạt kết quả. Như vậy có việc phải đi tìm những cái "nút" để xử lý?

Nói một cách khái quát, để tăng cường hiệu quả quản lý nh nước, chúng ta phải cùng l m một lúc v trong cùng một tổng thể những chủ trương chính sách h i ho cả 3 việc lớn: kiện to n bộ máy nh nước, kiện to n hệ thống điều h nh v kiểm soát kinh tế vĩ mô, ho n thiện v phát triển thị trường. Nghĩa l việc tăng cường cơ sở quyền lực của pháp luật phải gắn liền với việc nâng cao khả năng điều h nh v việc tạo môi trường kinh tế xã hội thuận lợi cho sự hoạt động hữu hiệu của bộ máy nh nước.

Về kiện to n bộ máy nh nước.

Có thể nói rằng hệ thống pháp luật v bộ máy nh nước của chúng ta được chú ý cũng cố v phát triển, song hiệu lực của hệ thống bộ máy nh nước v năng lực của cán bộ viên chức còn nhiều mặt không đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ. Một hiện tượng rất nghiêm trọng khác l nhiều cơ quan thuộc bộ máy quản lý nh nước sa v o các công việc kinh doanh v những sự vụ của cơ chế "chủ quản", sao nhãng chức năng chủ yếu l quản lý nh nước trong lĩnh vực của mình.

Nói về hệ thống, điều quan trọng nhất l phải l m cho bộ máy nh nước vận h nh ho n to n trên cơ sở hiến pháp v pháp luật với những chức năng v kỹ năng ng y c ng ho n thiện, có quyền lực thực chất v hiệu lực mạnh trong to n bộ lãnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Đi v o thời bình xây dựng đất nước v khuyến khích sự năng động của các th nh phần kinh tế cũng như của từng th nh viên trong xã hội, c ng đòi hỏi phải có hệ thống nh nước như vậy, với yêu cầu phát huy được mọi tiềm năng, nhưng nh nước vẫn kiểm soát đầy đủ. Đã đến lúc bộ máy nh nước các ng nh v các cấp phải đoạn tuyệt với cơ chế "chủ quản" v với bất kỳ hoạt động kinh doanh n o, phải được cải cách để l m đúng chức năng quản lý nh nước. Phải xem đó l nội dung chủ yếu của nhiệm vụ cải cách h nh chính.

Chúng ta cần sớm khắc phục những ảnh hưởng còn lại của phương thức điều h nh đất nước trong thời chiến với những đặc điểm như: cơ chế chính ủy, quyền lực quyết định tại ch-, tính địa phương, cơ cấu bộ máy sắp xếp cán bộ theo yêu cầu chính trị, bộ máy của đảng song trùng v trên thực tế l có những việc đứng trên hoặc l m thay bộ máy chính quyền, cơ chế trách nhiệm không rõ r ng v sự yếu kém về nghiệp vụ do vận dụng nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách v.v...

Cũng có thể nói một cách khái quát, phải đẩy mạnh xây dựng nh nước pháp quyền với mục đích nâng cao hơn nữa năng lực quản lý nh nước của to n bộ hệ thống bộ máy quyền lực, đồng thời tạo mọi điều kiện cần thiết cho việc bảo đảm thực hiện hiến pháp, pháp luật v chủ trương chính sách của đảng. Yêu cầu nầy đòi hỏi phải nâng cao khả năng nghiệp vụ v phẩm chất chính trị của các cơ quan, đơn vị v đội ngũ cán bộ viên chức trong hệ thống bộ máy quyền lực nh nước ở trong tất cả các lĩnh vực lập pháp, h nh pháp v tư pháp. Hơn bao giờ hết phải nâng cao hơn nữa chất lượng thể chế hoá, chính huy hóa đối với bộ máy chính quyền, cơ chế l m việc v đội ngũ cán bộ viên chức nh nước. Đây l đòi hỏi tất yếu bảo đảm thực hiện mọi chủ trương chính sách của đảng trong quá trình phát triển ng y c ng cao của đất nước. Tình trạng hiện nay l không ít những chủ trương chính sách đúng đắn của đảng v luật lệ của nh nước không thi h nh được, nguyên nhân chính l thiếu yếu tố quyết định vừa nói trên.

Một hướng khác trong đẩy mạnh cải cách h nh chính l nên sớm từng bước thực hiện chế độ đ o tạo, bổ nhiệm, bãi chức đối với cán bộ viên chức trong hệ thống h nh pháp bao gồm cả những chức vụ chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, th nh phố, quận, huyện, phường, xã. Đồng thời cần tăng cường quyền lực v khả năng hoạt động hữu hiệu của các cơ quan dân cử - bao gồm quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp với nội dung: chú trọng tăng cường khả năng v quyền lực lập pháp của quốc hội, tăng cường quyền lực v khả năng giám sát của hội đồng nhân dân. Không nên nhầm lẫn coi hội đồng nhân dân l những cấp "lập pháp" địa phương dưới quốc hội. Cả nước chỉ có một cơ quan duy nhất có tính năng v quyền lực lập pháp l quốc hội.

Nếu lên một hồ sơ về tổ chức của đảng hiện nay đang xen v o hệ thống bộ máy nh nước, chúng ta sẽ thấy nhiều tầng, nhiều cấp chồng chéo, trên thực tế l l m giảm bớt sự lãnh đạo của đảng v hiệu lực của bộ máy nh nước.

Cần xác định rõ các tổ chức cơ sở đảng trong bộ máy nh nước nói trên (Quốc hội, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp) có nhiệm vụ chính trị h ng đầu l l m cho cơ quan của đảng bộ mình l m tròn chức năng quyền hạn nh nước được giao. Các tổ chức cơ sở đảng không l m thay, không quyết định thay. Các tổ chức cơ sở đảng vì vậy cần được đổi mới v tổ chức lại một cách khoa học, cần được kiện to n phù hợp với nhiệm vụ chính trị mới nầy. Công tác đảng cần l m tốt hơn nữa nhiệm vụ giáo dục, đ o tạo đội ngũ cán bộ viên chức để đưa v o những cương vị thích hợp thông qua quy chế đ o tạo, tuyển chọn bổ nhiệm, bãi miễn v sa thải rất nghiêm ngặt của hệ thống chính quyền.

Quan điểm cần thông suốt l hệ thống bộ máy quản lý nh nước mạnh, chủ trương chính sách của đảng mới được thực thi đầy đủ, v như vậy đảng mới mạnh. Đây còn l phương thức khắc phục tình trạng lộng quyền, coi thường pháp luật, mất dân chủ, mất đo n kết, bản vị cục bộ...khá phổ biến ở một số đảng bộ cơ sở hoặc một số cấp ủy.

Về kiện to n hệ thống điều h nh v kiểm soát kinh tế vĩ mô.

Điểm mới ở đây l coi nhiệm vụ nầy l một vế không thể thiếu được trong nâng cao chức năng quản lý nh nước. Bởi vì quyền lực của nh nước chúng ta sẽ không còn hiệu lực nếu như nh nước đó không có trong tay hệ thống điều h nh v kiểm soát kinh tế vĩ mô có hiệu quả. Có lẽ vì thiếu điều kiện nầy, việc quản lý nh nước của chúng ta còn nhiều sơ hở, vừa tăng thêm tính quan liêu đồng thời vừa kém hiệu quả.

Trong tình trạng phải vận dụng kinh tế thị trường, phát huy mọi th nh phần kinh tế trong xã hội v mở rộng kinh tế đối ngoại, luật pháp v các quy chế thường không đủ linh hoạt, không phát triển kịp hoặc không bao trùm hết được mọi vấn đề, lại c ng đòi hỏi phải kiện to n hệ thống điều h nh v kiểm soát kinh tế vĩ mô.

Yêu cầu trên đòi hỏi:

- Phải tích cực phát triển hệ thống các luật pháp trong đó gấp rút nhất l luật dân sự (đang soạn thảo) v luật thương mại.

- Phát triển v ho n thiện hệ thống t i chánh tiền tệ - bao gồm cải tổ lại hệ thống thuế v các sắc thuế, hệ thông kiểm toán, kế toán, mở mang thị trường t i chánh tiền tệ (hệ thống ngân h ng thương mại, các thị trường cổ phần, tín phiếu, chứng khoán...)

- Ho n thiện thị trường để tăng thêm khả năng l m chủ cơ chế thị trường.

Điều đáng lưu ý ở đây l đảng ta ít nhiều còn coi những nhiệm vụ nói trên như một loạt công tác sự nghiệp đơn thuần, nghĩa l chưa coi đó l nhiệm vụ chính trị phải quyết tâm thực hiện. Thậm chí còn có ý kiến coi đó l những vấn đề thuộc về kinh tế tư bản chủ nghĩa. Đồng thời cũng phải thẳng thắn nhận xét rằng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong các ng nh luật pháp, t i chính, tiền tệ v trong h ng ngũ quản lý kinh tế, quản lý xí nghiệp có những nhận thức v h nh động không đúng trong cơ chế kinh tế thị trường do nh nước ta quản lý.

Cần nhấn mạnh rằng muốn thực hiện phát triển kinh tế có định hướng, bắt buộc phải có hệ thống điều h nh v kiểm soát nầy, nền kinh tế phát triển theo định hướng xhcn c ng đòi hỏi như vậy. Nếu không, tính chất tự phát, vô chính phủ v những hệ quả xấu khác của kinh tế thị trường l không thể kiểm soát được.

Về ho n thiện v phát triển thị trường.

Đây cũng l một vấn đề nhấn mạnh v cần thực hiện gắn liền với quá trình tăng cường quản lý nh nước, nhằm tạo thêm một tiền đề kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng để thực thi mọi luật pháp v thể chế của nh nước.

Yêu cầu tối thượng của vấn đề nầy l cuối cùng mọi hoạt động kinh tế của bất kỳ ai trong xã hội nước ta đều chịu sự cọ sát, s ng lọc của một thị trường rõ r ng, l nh mạnh, được nh nước kiểm soát, dẫn dắt bằng pháp luật, bằng các chế t i v bằng các biện pháp khuyến khích. Một nền kinh tế mạnh đòi hỏi phải có một thị trường hạn chế được xuống mức thấp nhất các hiện tượng đầu cơ, cửa quyền, độc quyền, kinh tế ngầm, các ma-phi-a, s ng lọc các hoạt động kinh tế kém hiệu quả, cung cấp những tín nhiệm hữu ích cho mọi quyết định của từng th nh viên kinh tế trong xã hội, có khả năng huy động mạnh mẽ nguồn lực cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Với ý nghĩa nói trên, c ng kiên trì định hướng xhcn, c ng phải ho n thiện v phát triển thị trường, c ng phải đẩy mọi hoạt động kinh tế của to n xã hội ra thị trường, không thể có bất kỳ sự phân biệt đối xử n o (trừ một số hoạt động kinh tế phục vụ sự nghiệp, hạ tầng cơ sở, an ninh quốc phòng). Cũng vì lẽ nầy cần sớm xoá bỏ sự phân biệt hoặc sự hình th nh các loại hình như: kinh tế dân sự, kinh tế đo n thể, kinh tế đảng, kinh tế các lực lượng vũ trang v.v...

Không có một thị trường v một chính sách về thị trường như vậy, sự kiểm soát của nh nước sẽ kém hiệu quả, nguy cơ chệch hướng sẽ tăng lên, v kinh tế sẽ sớm đi v o trì trệ, ắch tắc.

Đương nhiên yêu cầu về thị trường nêu trên đòi hỏi phải có bộ máy h nh chính có năng lực, hệ thống pháp luật ng y c ng ho n thiện v hệ thống các chính sách điều ho điều tiết đủ sức duy trì sự phát triển cân bằng, ổn định bảo đảm phát triển phúc lợi xã hội. Mang danh l nh nước xhcn, nh nước ta c ng phải thực hiện tốt những đòi hỏi nầy.

Với tinh thần v nội dung vừa trình b y, chúng ta nên coi 3 khâu công tác nói trên (kiện to n bộ máy nh nước, kiện to n cơ chế điều h nh vĩ mô, phát triển thị trường) l một tổng thể hữu cơ của nhiệm vụ tăng cường năng lực quản lý nh nước.

4- Xây đựng đảng.

Có thể nói dự thảo báo cáo đánh giá khá đầy đủ những ưu điểm lớn trong nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng l xây đựng đảng. Cần nhấn mạnh bản lĩnh của đảng ta, trước hết thể hiện qua sự vững v ng trước những biến động sâu sắc trên thế giới trong hai thập kỷ vừa qua v những th nh tựu gi nh được trong sự nghiệp đổi mới. Cần khẳng định điều nầy để tự tin, để nâng cao hơn nữa ý chí cách mạng v tinh thần đổi mới.

Song chúng ta đang đứng trước thực tế l tính tiền phong chiến đấu của đảng viên v của các tổ chức cơ sở đảng có nhiều mặt giảm sút, nhiều tổ chức cơ sở đảng chỉ hoạt động hình thức, hoặc tê liệt, thoái hóa. Quan hệ giữa đảng v dân ng y c ng có nhiều vấn đề. Ch- n o cũng có đảng viên, song tình trạng bê bối, tiêu cực ở các ng nh, các địa phương khá phổ biến.

Những hiện tượng nầy đang thách thức trực tiếp vai trò lãnh đạo của đảng.

Đại hội VIII cần đem lại một động lực mới thực sự thúc đẩy sự chỉnh đốn v khả năng tự đổi mới của đảng. Bên cạnh việc rèn luyện ý chí cách mạng, cần đặc biệt phát huy dân chủ trong đảng, để đẩy mạnh đấu tranh chống những thoái hóa, để phát huy sức sống mới v trí tuệ mới của to n đảng, đặc biệt l để có cơ sở vững chắc cho sự thống nhất ý chí v h nh động trong to n đảng v trong mọi cấp ủy.

Dưới đây xin nêu lên một số vấn đề đáng lưu ý nhất trong nhiệm vụ xây dựng đảng.

a) Xây dựng đảng về đường lối

Có thể nói đây l nhiệm vụ h ng đầu. Có đường lối đúng sẽ có tất cả. Không nên tiếp tục cách suy nghĩ chỉ đơn thuần quy mọi nhiệm vụ, mọi mục tiêu không thực hiện được hoặc thực hiện không tốt cho việc thực hiện đường lối chưa tốt.

Hơn thế nữa, cách mạng VN đang chuyển sang một giai đoạn mới, diễn ra trong một bối cảnh quốc tế ho n to n thay đổi so với thời kỳ còn tồn tại hệ thống thế giới xhcn, đòi hỏi đảng ta bắt buộc phải đề ra đường lối mới thích hợp. Trước hết l dựa trên cơ sở nhận định tình hình mới, đảng ta cần xác định chính xác những nhiệm vụ phải thực hiện, tính toán việc huy động lực lượng, v tổ chức thực hiện, xác định những thách thức phải vượt qua.

Thực ra chúng ta đã bắt đầu công việc nầy v đề ra đường lối đổi mới. Sắp tới chúng ta phải tập trung nhiều công sức cho việc tạo ra động lực phát triển từ bên trong của đất nước.

Vì lẽ đó, đổi mới chỉ l bước đầu của quá trình xây dựng một đường lối mới phù hợp.

Trước mắt, có thể nói khái quát: mục tiêu chiến lược của chúng ta l thực hiện công nghiệp hoá đất nước theo định hướng xhcn, thực hiện dân gi u nước mạnh xã hội công bằng v văn minh.

Chúng ta phải thực hiện nhiệm vụ chiến lược ấy trong bối cảnh quốc tế không có sự tồn tại của hệ thống thế giới xhcn; nước ta phải cọ sát, đương đầu cạnh tranh với cả thế giới, nhưng đồng thời cũng có cơ hội mở rộng quan hệ kinh tế với cả thế giới, có điều kiện tạo ra tập họp lực lượng mới. Bên cạnh thách thức kinh tế rất gay gắt, nước ta phải đương đầu với những thách thức quân sự v chính trị có lúc rất nhậy cảm v tế nhị.

Có thể nói, đặc điểm nổi bật l nước ta hiện nay phải một mình đương đầu với tất cả, đồng thời cũng có khả năng tạo ra tập họp lực lượng bên ngo i ho n to n mới.

Để gi nh được thắng lợi, chúng ta phải huy động mức độ cao nhất sức mạnh của to n thể dân tộc ta v phải tập họp được lực lượng rộng rãi nhất trên trường quốc tế. Chỉ có như vậy nước ta mới tự bảo vệ được mình, tranh thủ được thời gian v khả năng sớm vươn lên th nh quốc gia gi u mạnh. Chỉ có như vậy, mới giữ được độc lập tự chủ, bảo vệ được to n vẹn lãnh thổ, thoát khỏi hiểm họa tụt hậu, bảo vệ được th nh quả cách mạng v chế độ xhcn.

Vì những lẽ trên, động lực để thực hiện nhiệm vụ chiến lược nầy l hun đúc tinh thần quật khởi dân tộc v thực hiện mạnh mẽ dân chủ. Điều nầy chẳng những không trái, m còn l tiền đề không thể thiếu được cho thực hiện định hướng xhcn ở nước ta. Đó chính l thực tiễn cách mạng VN trong bối cảnh quốc tế mới.

Bây giờ độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội l nói với nội dung như vậy. Bởi vì, không tạo ra được thực lực nầy, sẽ không còn độc lập tự chủ v cũng không có định hướng XHCN.

Trên chặng đường mới nầy của đất nước, hơn bao giờ hết l đảng cầm quyền, đảng ta cần giương cao ngọn cờ dân tộc v dân chủ. Đảng ta l lực lượng chính trị có đủ tư cách nhất v uy tín cao nhất để l m trọng trách nầy, nhất thiết không để ai nắm lấy. Đảng ta chẳng những phải phấn đấu vươn lên l m đội tiên phong của giai cấp, m còn phải trở th nh bộ phận tinh hoa nhất, tiêu biểu cho trí tuệ, nghị lực v phẩm chất cao quý của to n thể dân tộc VN ta bao gồm cả to n thể cộng đồng người VN ở nước ngo i đang hướng về tổ quốc.

Phải chăng đây chính l một tư tưởng lớn, l nội dung cốt lõi của nhiệm vụ xây đựng đảng m đại hội VIII cần l m rõ, l kim chỉ nam xây dựng đường lối v mọi chủ trương chính sách mới của đảng.

b) Xây dựng đảng về tổ chức

Có thể nói nhiệm vụ cách mạng VN chuyển sang giai đoạn phát triển mới, với những đặc điểm mới như đã trình b y trong những phân tích nêu trên. Song tổ chức của đảng về cơ cấu vẫn giữ như thời chiến. Đã đến lúc cần xem xét những gì có thể duy trì v nâng cao thêm, những gì cần cải tiến hay loại bỏ trong công tác xây dựng đảng về tổ chức cho phù hợp với những nhiệm vụ v đòi hỏi mới.

Ưu điểm cần phát huy l đảng ta có một hệ thống tổ chức cách mạng, chẳng những đáp ứng nhu cầu lãnh đạo thắng lợi trong chiến tranh, m còn đủ năng lực đưa đất nước v o thời kỳ đổi mới. Trên phương diện tổ chức, chúng ta cần nghiên cứu sâu, tìm hiểu những nguyên nhân v yếu tố gì đã giúp cho đảng ta chuyển mình được, đổi mới tư duy, đổi mới phương thức hoạt động, đem lại những th nh quả chẳng những tránh cho đất nước khỏi sụp đổ trong cuộc khủng hoảng ác liệt vừa qua của hệ thống thế giới xã hội chủ nghĩa, m còn mở ra triển vọng chưa từng có của sự nghiệp phát triển nước ta. Có thể nói, chúng ta chưa nghiêm túc l m tốt việc nghiên cứu, đúc kết những kinh nghiệm của vấn đề có ý nghĩa sống còn nầy.

- Một vấn đề bức xúc khác đang đạt ra l : trong tình hình đòi hỏi phải tăng cường nh nước pháp quyền (của dân, do dân v vì dân), mở rộng dân chủ để phát huy tối đa sự năng động của các th nh phần kinh tế trong cơ chế thị trường, đảng ta cần được đổi mới v tăng cường về mặt tổ chức như thế n o? Chúng ta chưa nghiên cứu sâu vấn đề nầy. Có lẽ không thể đơn thuần tiếp tục duy trì tổ chức v phương thức sinh hoạt các tổ chức cơ sở đảng như hiện nay, bởi vì đã xuất hiện tình trạng đảng hầu như không có mặt hoặc không thâm nhập sâu được v o nhiều hoạt động kinh tế xã hội mới phát triển; hoặc tác dụng kiểm tra nắm bắt của đảng đối với những hoạt động rất yếu nầy, chưa thỏa đáng. Hiện nay, trong nông nghiệp kinh tế hộ giữ vai trò chủ yếu, lực lượng kinh tế các th nh phần ngo i quốc doanh chiếm tới 60% GDP, cơ chế thị trường còn nhiều mảng nằm ngo i pháp luật, các hoạt động xã hội, văn hoá - l nh mạnh v không l nh mạnh, các hoạt động giao lưu với bên ngo i đang nở rộ... Vai trò v tác dụng thực chất của đảng đối với những phát triển n y như thế n o?

- Chúng ta khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng CSVN. Điều nầy đòi hỏi một mặt phải tăng cường khả năng lãnh đạo của đảng, mặt khác phải tạo ra được cơ cấu chính trị v môi trường xã hội đủ sức ngăn chặn xu thế quan liêu, độc đoán, mất dân chủ, xu thế xem thường v đứng trên pháp luật. Hơn thế nữa, vai trò lãnh đạo của đảng cần được tăng cường trên cơ sở mở rộng dân chủ trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá của to n xã hội. Như vậy tổ chức v phương thức sinh hoạt đảng cần phải được cải tiến như thế n o cho phù hợp? Mối quan hệ giữa đảng v nh nước, giữa đảng v các đo n thể nhân dân cần được thiết kế lại như thế n o?

Đảng ta l đảng cầm quyền với nghĩa lãnh đạo đất nước dựa trên quan điểm cách mạng l sự nghiệp của quần chúng, song nhất thiết không l m thay. Một đòi hỏi rất khó phải thực hiện l : đảng viên v các tổ chức cơ sở đảng phải đi đầu trong việc giữ gìn trật tự kỷ cương, nhưng lại phải biết phát huy sự năng động v khả năng sáng tạo của nhân dân theo định hướng của đảng. Đảng cần đặc biệt quan tâm nâng cao dân trí, giáo dục, phát huy v bảo vệ quyền công dân để phát huy sức mạnh của cả nước. Đó l sức mạnh của chính đảng ta, l con đường tiếp tục duy trì v tăng thêm sự chấp thuận tự nguyện của nhận thức sâu sắc nhất của to n dân đối với vai trò lãnh đạo của đảng ta m tình hình nhiệm vụ mới đòi hỏi, đồng thời l một trong những yếu tố quan trọng bảo vệ đảng.

- Chúng ta thảo luận nhiều về nguyên tắc "dân chủ tập trung", hoặc "tập trung dân chủ". Tôi đề nghị bỏ cách suy nghĩ rất công thức như vậy. Nên chăng khẳng định lại một cách không thể hiểu lầm như sau: Để huy động trí tuệ của to n đảng v bảo vệ sự trong sáng trong đảng, cần phải triệt để dân chủ; đồng thời để bảo đảm sức chiến đấu của đảng mọi đảng viên phải tuyệt đối tuân theo điều lệ v phục tùng các nghị quyết của đảng. Tổ chức v phương thức sinh hoạt đảng cần được đổi mới nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nầy. Trong thực tiển hiện nay, đảng ta đang đứng trước yêu cầu phải đẩy mạnh đấu tranh chống các hiện tượng vô tổ chức vô chính phủ, cực bộ bản vị (đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế), đồng thời nghiêm túc thực hiện những nguyên tắc dân chủ trong đảng.

Có thể nói công tác nghiên cứu đường lối chính sách, nghiên cứu tình hình v con đường phát triển của đất nước, công tác bồi dưỡng đảng viên, công tác tuyển chọn, bố trí cán bộ... của chúng ta hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao vai trò lãnh đạo của đảng. Hiện nay nếu nhìn v o lịch sử quá trình hình th nh sự nghiệp đổi mới, chưa thể nói đảng ta thực sự đi tiên phong về mặt tư duy, đang đ o tạo ra đủ v bố trí được lực lượng cán bộ xuất sắc theo kịp đòi hỏi của đất nước; cũng chưa thể nói trình độ tư tưởng, lý luận của tuyệt đại đa số đảng viên phù hợp với những đòi hỏi mới của nhiệm vụ cách mạng. Tiếp tục công tác đ o tạo v bố trí cán bộ như hiện nay còn tăng thêm nguy cơ cục bộ, địa phương chủ nghĩa v cắt cử, tăng thêm tính cơ hội dựa dẫm hoặc nguy cơ bè phái trong đảng, khó l m bộc lộ v đ o tạo nhân t i, khó tạo ra sinh lực mới cho những đảng bộ hoặc tổ chức cơ sở đảng yếu kém... Chúng ta phải nhìn thẳng v o những mặt còn thiếu sót để tự chỉnh đốn, tự vươn lên.

Có thể kết luận, trên con đường đi lên đầy gian khổ v thử thách của đất nước, phải chăng cái khó nhất hiện nay l tình trạng trình độ, phẩm chất cán bộ đảng viên chưa theo kịp sự phát triển của đất nước?

Tình trạng bất cập với đòi hỏi của nhiệm vụ l nguy cơ lớn đối với đảng. Cần gấp rút sắp xếp, cải tiến các ban, viện của đảng. Đặc biệt cần nhấn mạnh giáo dục cho đảng viên chủ nghĩa yêu nước với nội dung sớm l m cho đất nước gi u mạnh, cần nâng cao ý chí của đảng viên phấn đấu thực hiện các mục tiêu của đảng, trau dồi những tri thức mới m nhiệm vụ mới của đảng đòi hỏi.

Hơn bao giờ hết, nâng cao năng lực lãnh đạo v phẩm chất cách mạng của đảng, nâng cao năng lực quản lý nh nước của chúng ta l hai nhân tố quyết định nhất để nắm lấy thời cơ đang đến với đất nước.

Xin trình b y để các anh tham khảo.

Võ Văn Kiệt