|
Người đi giữa Đô Thành Đứa ghẻ ruồi, đứa lác voi Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi... (Thơ Học Lạc)
Thuở trước ở vùng núi Ấn sông Trà có gia đình viên ngoại họ Đào làm nghề dệt chiếu cói, sinh được một trai đặt tên là Đào Anh Tử.
Thấy Anh Tử mặt mũi sáng sủa, Đào viên ngoại cho đi học chữ, có ý mong con mình bỏ nghề làm chiếu chuyển sang nghề làm quan. Đến năm lên mười. Anh Tử được xóa mù chữ thì lại chẳng may gặp ác tật, phải mù hai mắt.
Viên ngoại buồn lắm, tính cho Anh Tử học làm thầy bói là thích hợp nhất. Bèn dẫn cậu bé mù lên núi bái một vị pháp sư để học nghề “Lốc Cốc Tử”.
Vừa thấy Anh Tử, vị pháp sư đã khen nức nở:
– Quý nhân, quý tướng. Cậu bé này tuy mù nhưng sau này gặp thời, phú quý không biết đâu cho hết. Thiên hạ đến phải lác mắt cả đấy.
Từ đó, Anh Tử ở lại trên núi, dốc lòng học đạo. Trong vòng chưa đầy mười năm, phàm các thuật tử vi, đẩu số, nhâm cầm độn giáp, lắc xâm, xủ quẻ, vẽ bùa, bắt ấn... thảy đều tinh thông. Một hôm đánh bạo hỏi thầy:
– Như trình độ của đệ tử hiện nay, đã có thể xuống núi hành nghề được chưa?
Pháp sư gật đầu:
– Tạm được. Tiếc rằng còn một số pháp môn rất ăn khách như coi giò gà, chỉ tay, chữ ký, nốt ruồi, và bói bài Tây... nhưng ngươi bị nhãn tật nên vô duyên, không học được.
Anh Tử trả lời:
– Đệ tử thiết nghĩ, bí quyết nghề nghiệp của ta chủ yếu ở cái lưỡi chứ đâu phải ở đôi mắt. Thân chủ của ta vốn mê tín dị đoan, miễn khéo uốn ba tấc lưỡi đưa đẩy họ vào mê lộ âm dương, dẫu mù mắt cũng có thể lấy ngón tay mà tráo lá bài hoặc sờ nắn nốt ruồi... qua mặt họ không khó. Ai bảo rằng người mù không thể coi chỉ tay, coi chữ ký hoặc bói bài Tây? Hà hà... hà hà...
Pháp sư rùng mình im lặng một lúc rồi thở dài than:
– Con nói như thế, chứng tỏ trình độ tay nghề của con hiện đã cao hơn thầy cả một cái đầu. Đã vậy chẳng cần phải học thêm gì nữa. Mừng con đã đạt đạo.
Nói đoạn, dẫn Anh Tử đến làm lễ trước tượng Ma Y sư tổ, truyền cho ba món đạo cụ gồm: chiếc gậy nhôm có gắn lục lạc để băng qua đường – chiếc kiếng đeo mắt tròng đen tráng thủy và chiếc mu rùa có đựng mấy hột xí ngầu và bộ bài cào.
Lại đọc một bài kệ thay lời dặn dò lúc chia tay:
Gặp loạn thì quậy Gặp lừa thì dấy Gặp tiền thì lấy Gặp gái thì... “ấy” Bể bánh thì ... chạy
Anh Tử xuống núi thoạt đầu chuyên coi tướng số, lê gậy đi khắp mưới hai chỗ danh thắng của đất Quảng, từ Cổ Lũy Cô Thôn, La Hà Thạch Trận, Thiên Bút Phê Vân đến Thạch Bích Tà Dương… ... đâu cũng nức tiếng “dóc tổ”. Sau vài vụ bịp bợm, thấy nghề bói toán sắp bể mánh, mới chuyển thành dịch vụ bán vé số dạo. Gặp vận hên, trong một sấp vé số ế ẩm, có vé trúng độc đắc đến hàng trăm triệu.
Một bước nhẩy lên hàng triệu phú, Anh Tử bèn bỏ nghề cũ vào thành phố Saigon lập tổ hợp kinh doanh xuất khẩu lấy tên là CHICOEX (Chiếu cói xuất khẩu).
Nguyên thời bấy giờ, các dịch vụ xuất khẩu đang thịnh. Bất luận cái gì có chữ “EX” là thiên hạ nô nức góp vốn đầu tư. Chỉ trong một thời gian ngắn, CHICOEX huy động được hàng chục tỷ tiền mặt, lãi xuất cao, đúng kỳ hạn, làm ăn có vẻ nghiêm túc. Anh Tử bấy giờ đường đường là một vị giám đốc, có văn phòng, biệt thự, xe hơi, vệ sĩ và bồ nhí – quả là ông hoàng một cõi. Báo chí, truyền hình thấy một người mù mà làm nên sự nghiệp lớn, đua nhau lăng xê kiểu điển hình tiên tiến. CHICOEX càng phất lên như diều.
Nhưng cũng có người lo ngại nói:
– Bất quá cũng chỉ là trò “treo đầu dê bán thịt chó”, huy động vốn của người sau trả lãi cho người trước, không kém phần “phiêu lưu mạo hiểm”.
Một tờ báo ở Đô Thành thể theo lời yêu cầu của bạn đọc, cử phóng viên đến điều tra xem cung cách làm ăn của ông giám đốc mù ra sao.
Phóng viên (PV) hỏi:
– Sao quý công ty không chọn mặt hàng nào mà lại sản xuất chiếu?
Anh Tử (AT) đáp:
– Người Á Đông ta, coi chiếc chiếu rất trọng. Khi nào cũng phải lưu ý vấn đề chiếu trên chiếu dưới. Thời buổi này trên đầu có ô dù, dưới đít có chiếc chiếu, ngón tay đeo hột xoàn, đầu gối có hoàng kim thì bổn mạng vững như bàn thạch.
PV: – Xin lỗi, đồng chí giám đốc đã bị mù làm sao phân biệt được tiền thật, tiền giả?
AT:– Ngửi mà biết. Tiền của nhân dân lao động, cán bộ công nhân viên nghèo gửi vào thường là loại bạc nhỏ, có mùi mồ hôi nước mắt. Tiền bất minh của bọn nhà giàu có mùi tanh. Ngoài những mùi đó, là tiền giả.
PV: – Làm sao phân biệt được vàng thiệt hay vàng giả?
AT: – Dùng bàn tay thay cân tiểu ly, có thể biết được trọng lượng – Dùng hàm răng cắn thử có thể biết được tuổi vàng không cần khè lửa. Hơn nữa vàng thật thì nuốt vào bụng cả ký cũng không thấy đau.
PV: – Mẫu mã, màu sắc rất phức tạp, đồng chí làm sao giám định?
AT: – Dùng bồ nhí làm cố vấn mỹ thuật. Phàm những vật xanh xanh đỏ đỏ, hễ các cô đã thích thì còn ai dám chê?
PV: – Bồ nhí đâu mà có?
AT: – Có tiền mua tiên cũng được.
PV: – Chư tiên mỗi người một vẻ, làm sao biết rõ khuôn trong nét ngoài mà quyết định ngôi thứ, cân nhắc các chế độ chính sách lao động, tiền lương?
AT: – Sờ thì biết.
Phóng viên nghĩ thầm:
– Mình mở chong cả hai mắt mà làm không đủ ăn. Cha này mù mà sao làm giàu dễ quá. Đúng là thời buổi con lừa.
Bỗng thấy một cô “cố vấn” đưa tập hồ sơ vào trình ký. Giám đốc quơ tay tìm túi xách, rờ phéc–mơ–tuya lấy ra một bọc ny lông. Trong bọc đự ng con dấu tròn và hộp tam pông. Vẫn bằng động tác mò mẫm, ông rút cây bút bi nơi túi áo, ký tên, đóng dấu.
Phóng viên hỏi nhỏ cô cố vấn:
– Có khi nào ổng ký tên một đường đóng dấu một nẻo không?
Cô cố vấn khẽ suỵt một tiếng, lắc đầu.
Nhưng người mù rất thính tai. Nghe lọt câu hỏi đó, ông giám đốc lạnh lùng trả lời:
– Xin nhà báo và bà con cứ yên tâm! Tui mù thiệt nhưng chưa ký tên đóng dấu tầm bậy đâu. Kể ra còn đáng tin cậy hơn những người không mù những hễ thấy tư lợi thì nhắm mắt lại mà ký tên đóng dấu búa xua. Đó mới là cái gốc của sự bê bối. So với hạng người ấy thì Đào Anh Tử này chưa phải là người đui mù đệ nhất thiên hạ đâu! Nhà báo thử nghĩ lại mà xem tui nói có đúng không?
Nhà báo giật mình, toát mồ hôi, buột miệng khen:
– Chí lý! Chí lý!
Hoàng Thiếu Phủ |