|
Con tẻm con tem
Một hôm, trên con đường đi làm, ngang qua Bưu Điện Trung Tâm Thành Phố, tôi chợt nhớ là mình có một cái thư cần gửi. Thư đã bỏ bì dán kín, tem thì luôn luôn có sẵn trong cặp, thùng thư nằm ngay bên đường. Đáng lẽ chỉ cần le lưỡi liếm sơ sau lưng con tem, dán lên bì rồi bỏ vào thùng, chỉ mất chừng một phút là xong. Thế nhưng… làm gì có chuyện dễ dàng như thế. Bởi lẽ ở nước ta, con tem thư không có tráng lớp keo ở mặt sau. Muốn dán tem phải có hồ. Muốn có hồ phải vào bên trong Bưu Điện. Muốn vào bên trong phải gửi xe. Muốn gửi xe thì trong túi phải có bốn năm trăm đồng. Có khi phải mất nửa giờ để làm một việc cỏn con ấy. Có một cô bé học sinh, khóa xe bên đường chạy vào bỏ thư, khi ra thì xe đã mất, cô bé ôm mặt khóc ròng trông thật tội nghiệp. Tất cả chỉ vì ông Bưu Điện tiết kiệm một chút keo bé tẻo teo tráng sẵn sau lưng con tem. Tôi nhẩm tính: gửi một cái thư trong nước mất 100 đồng tem + 400 đồng tiền gửi xe, vị chi là 500 đồng. Giá người ta chịu khó tráng cho một chút keo ở sau lưng con tem rồi tính luôn tiền lớp keo ấy thì dù “chặt đẹp” thêm vài trăm đồng kể ra còn dễ chịu hơn.
Bưu Điện Thành Phố Hồ Chí Minh Là Một Trong những trung tâm giao dịch hiện đại mang bộ mặt của cả nước. Chính giữa tòa “Bưu Sảnh” là một bàn đá hoa, trên bàn có một cái thố đựng hồ dán tem. Ở một số nhà Bưu Điện khác thì đôi khi không có thố, người ta đựng hồ trong những dụng cụ tận dụng phế liệu nhà bếp như soong nhôm, chén bể, lon sữa, hộp cá, keo chao, v.v… Hồ được khuấy bằng bột gạo, theo kỹ thuật gia truyền của thợ mã, ở trong bếp bưng ra lục cục lòn hòn, hơi bốc nghi ngút.
Khi tôi vào trong Bưu Điện thì thấy hàng chục người xúm xít quanh chậu hồ. Người nào cũng chìa ngón tay trỏ chọc vào chậu, y như trẻ con chơi trò “chi chi chành chành”.
Vì gấp việc mà không thể lách mình chen vào đám đông, tôi bèn đứng sau lưng họ, chìa ngón tay trỏ, tìm khe hở thọc vào trong, móc đại một cái. Liền có một giọng nữ hét lên lanh lảnh “ Tay ải tay ai”. Hoảng quá, tôi rụt tay lại, chuồn đi thật lẹ. Dầu sao cũng đã móc được một cục hồ kha khá. Chỉ cần một chút xíu hồ để bôi vào con tem, còn thì tôi tri trét đại trên mặt bàn. Cũng như tôi, hầu hết mọi người đều tri trét lia lịa như một phản xạ của ngón tay, quên nghĩ rằng hành động thiếu văn minh đó sẽ làm bẩn mặt bàn và làm khổ những kẻ đến sau như thế nào.
Hôm đó kẻ đến sau tôi là một ông Liên Xô. Bất luận Liên Xô, Mỹ, Pháp hay Việt, đã vào Bưu Điện gửi thư thì người nào cũng có một ngón tay trỏ chìa ra như kiểu người họ Đoàn nước Đại Lý luyện môn võ công “Nhất Dương Chỉ”! Ông Liên Xô này đến điền vào chỗ tôi đứng ban nãy để dán tem. Dán xong ông ta còn cẩn thận vỗ mấy cái lên con tem cho chắc ăn. Ai ngờ, mặt bàn đã có sẵn hồ, bao thư của ông dính luôn xuống đó, gỡ ra được thì cái thư đã dơ dáy tèm lem. Ông lắc đầu, nhăn nhó rồi móc túi lấy khăn ra lau ngón tay.
Nhân đây, tôi muốn thông báo với bạn đọc một Tin Cần Biết: Trong TTC tháng vừa rồi, có mục bạn đọc “hưỡn” góp cười, một số bạn đọc đã gửi bài về hưởng ứng bằng tiểu phẩm nhắc lại một sáng kiến rất Việt Nam của dân thất nghiệp là đứng ở Bưu Điện le lưỡi cho người ta dán tem. Những bài ấy đều sai với thực tế. Một trong những lý do dễ hiểu là con tem Việt Nam ngày nay đã không có tráng keo thì dân thất nghiệp có le lưỡi ra cũng thất nghiệp. Câu chuyện tiếu lâm đó, may ra chỉ có thể đăng được ở mục “Nụ cười nước ngoài”. Những ai đang “hưỡn”, muốn đến phục vụ ở Bưu Điện Thành Phố thì đừng tính chuyện le lưỡi mà nên sắm một nùi giẻ ướt để lau hồ dính ngay ngón tay của du khách. Côn việc ấy không chừng có thể sống “phẻ re”, nhất là năm 1990, năm Du Lịch của thành phố.
Lại nói tiếp chuyện Con Tẻm Con Tem ở cơ quan tôi. Sáng hôm ấy, sau khi gửi xong cái thư, tôi đến sở trễ mất nửa giờ. Để xí xóa khuyết điểm đi trễ, tôi đem chuyện ở Bưu Điện ra kể rồi bình luận:
-- Con tem bây giờ thật là bất tiện.
Bạn tôi góp:
Mực xanh giấy trắng, en gắn con cò xanh Gửi vào thăm bạn, có tên anh trong này.
Ông già tôi phỏng theo đó, đáp lại:
Giấy xanh mực tím, anh liếm con tem Gửi ra xứ Huế, có tên em trên bì.
Cả phòng cười rần rần, bác Tư nói tiếp:
Bác Tư được anh em trong cơ quan tặng cho biệt hiệu là ông già “cách-to-đít-zuýt” – phiên âm tiếng Pháp là quatorze (14) và dix-huit (18) – một thành ngữ chỉ thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918). Ý nói bác Tư là ông già Cổ Lỗ Sĩ. Ông già Cổ Lỗ Sĩ đợi cho cả phòng dứt tiếng cười rồi tiếp tục bình luận.
-- Con tem mà không có tráng keo ở mặt sau, chẳng những là con tem lạc hậu về kỹ thuật mà nhiều khi còn bị coi là con tem giả, tem lậu.
Tôi liền phản đối:
Bác Tư lắc đầu:
Bác Tư chưa trả lời ngay, bác đi qua thư viện, lát sau, bê về một quyển sách đầy bụi. Đó là một quyển trong bộ Tự Điển tiếng Pháp cũng cổ lỗ sĩ như bác Tư vậy, vì trong đó chứa đựng toàn những kiến thức mang trình độ khoa học ở thế kỷ 19. Bác Tư lật đến chữ Timbre – poste (con tem), vừa đọc vừa dịch cho mọi người một đoạn như sau:
“Ở Pháp, con tem được phát hành bán cho dân chúng theo đạo luật ngày 24-8-19-848. Sau đó, được bổ sung thêm bằng đạo luật ngày 20-5-1854 quy định về những đặc điểm kỹ thuật và mỹ thuật của con tem. Con tem được biểu thị bằng những hình ảnh có giá trị qui ước ở mặt trước và tráng keo ở mặt sau.”
Do đó, trước đây nếu có con tem không dán keo ở mặt sau thì người ta nghi ngờ là tem giả. Còn con tem của mình bây giờ không phải là tem giả, nhưng kỹ thuật lạc hậu đến 135 năm, kể từ khi được người Pháp “khai hóa” bằng đạo luật 1854.
Tôi thấy cần bênh vực ông Bưu Điện một câu cho hợp lẽ công bằng:
Bác Tư mỉm cười hỏi lại:
Tôi cười xòa trả lời theo lối đẩy cây:
Nói xong, tôi vội đứng dậy đi vào toilette. Nguyên mấy ngón tay tôi lúc nãy bị dính hồ Bưu Điện, giờ hồ khô lại như lớp bánh tráng, ngứa ngáy khó chịu. Tôi vừa rửa ngón tay vừa nghĩ bụng:
Hoàng Thiếu Phủ (Trích Tuyển Tập Truyện CƯỜi. nhà xuất bản TRẺ, 1995) |