|
Xóm giếng ngày xưa
“Cờ đèn kèn trống” là một thành ngữ chỉ hoạt động nặng về phô trương hình thức; sáo rỗng, vô bổ và cực kỳ lãng phí sức người, sức của; góp phần không nhỏ vào việc “làm nghèo đất nước”. Đây là một cái bệnh mãn tính của xã hội và hại thay, lại là một trong những thế mạnh hàng đầu của một số nơi trên đất nước ta. Truyền thuyết về Xóm Giếng ở quê tôi là một ví dụ: “Quê tôi là một vùng đất khô cằn, chó ăn đá, gà ăn muối, người thì rất coi trọng sự “ăn theo”. Nhưng mà ăn gì? Thì đây, câu trả lời nằm trong mấy câu đồng dao hòa bình của bọn trẻ con trong vùng: “Quê em trồng khoai lang, đào lên thấy khoai mì…” (nhại theo câu hát: “Quê em miền Trung du. Đồng quê lúa xanh rờn…”) Một hôm, có đồng chí cán bộ lãnh đạo về thăm quê nhà. Nghe trẻ hát, đồng chí lấy làm xót dạ, nói với tả hữu: – Quê ta nghèo vì thiếu nước. Có đủ nước canh tác thì quê hương ta sẽ trở nên giàu đẹp. Vậy nên chăng, ta thử thí nghiên cứu một công trình thủy lợi lớn, mở đầu cuộc “cách mạng xanh” trong toàn tỉnh. Ít lâu sau, câu nói đó đi vào Nghị Quyết và trở nên Luận Chứng Kinh Tế Kỹ Thuật. Theo đề án được duyệt người ta sẽ đào một cái hồ lớn chứa nước mưa và hệ thống kinh mương dẫn nước đi tưới khắp các huyện, xã trong tỉnh. Để hình dung tầm cỡ vĩ đại của kế hoạch “thủy lợi” này, các công trình sư thường thuyết minh với giọng đầy tự hào rằng: “Nếu hồ chứa không may bị vỡ thì hơn một tỉ mét khối nước tràn ra, đủ sức cuốn phăng toàn bộ làng mạc của huyện nhà và một số huyện của các tỉnh bạn”. Buổi lễ ra quân đầu tiên được chuẩn bị hàng tháng, cực kỳ chu đáo. Thoạt tiên, xe cơ giới phá núi, mở đường và dọn một mặt bằng rộng thênh thang làm Quảng Trường. Rồi sân khấu ngoài trời, hội trường và cổng chào mọc lên. Cứ mỗi ngã ba, ngã tư lại dựng thêm những “cổng chào phụ”. Mỗi cổng chào đều có câu khẩu hiệu: KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO (Câu khẩu hiệu này trích từ lời kêu gọi của Bác Hồ trong thời kỳ giặc Mỹ leo thang chiến tranh. Nay bất kỳ trường hợp nào cũng có thể làm khẩu hiệu, dĩ nhiên, không ai dám nghị luận để có thể bị hiểu là thiếu quyết tâm là theo lời Bác). Hàng trăm nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ, họa sĩ được mời đến ăn ở dài hạn để thâm nhập thực tế. Các đoàn làm phim truyện, phim tài liệu, phim truyền hình, phim vidéo cassette cũng tích cực bấm máy, hứa hẹn những bộ phim nhiều tập. Rồi ngày hội ra quân trọng thể đã đến. Hàng vạn khách mời từ trung ương đến tỉnh, huyện xã tấp nập kéo về khai hội. Ban tổ chức còn mời các đoàn ca khúc chính trị, kịch nói, kịch câm, cải lương, tuồng chèo, aérobic… đến phục vụ quan khách. Xe lớn, xe con nối đuôi nhau ngổn ngang gò đống. Tất cả các loại xe cày, xe ủi, xe dập bụi, xe chữa lửa đều được điều ra hiện trường. Lại mượn thêm những đội xe của các đơn vị bạn. Tất cả xe cộ này được lệnh đổ đầy xăng dầu rồi cứ chạy qua chạy lại trước mặt quan khách gọi là “biểu dương khí thế ra quân” của công trường. Buổi lễ chính thức kéo dài suốt buổi sáng với hàng chục bài diễn văn. Buổi trưa, tất cả khách quan được mời dùng cơm ở công trường. Bữa cơm khá thịnh soạn. Đồ ăn, thức uống được đặt trước từ thành phố, do các công ty ăn uống, công ty rượu bia và công ty du lịch cử người đến phục vụ tại chỗ. Ban ngày, cờ xí rợp trời. Ban đêm, đèn điện sáng lòa, ca nhạc vang lừng. Sáng đến nỗi loài dơi, loài cú đang ăn đêm, tưởng là trời sáng, rủ nhau tìm chỗ ngủ cả. Sau lễ ra quân, núi rừng lại rơi vào một “sự im lặng đáng sợ”. Hỏi ra bao nhiêu kinh phí, vật tư, xăng dầu dành cho kế hoạch thi công của giai đoạn I đều đã dốc hết ra phục vụ ngày “hội ra quân”. Bao nhiêu xe máy mang nhãn hiệu Kubota, Hino, Volvo… không có nhiên liệu, nằm phơi ngoài bãi, “thi gan cùng tuế nguyệt”. Trong khi chờ duyệt kinh phí để tiếp tục, công nhân tạm thời chuyển sang lao động sản xuất, chủ yếu trồng cây lương thực ngắn ngày, lại tích cực phát huy truyền thống: “Quê em trồng khoai lang…” Giữa lúc ấy, bỗng có tin: Đồng chí lãnh đạo đã thôi giữ chức lãnh đạo. Thế là đề án “Thủy Lợi” mất hẳn “ô dù”, có nguy cơ bị đình chỉ. Trước tình hình đó, ban chỉ huy công trình linh động chuyển sang phương án II. Thay vì “Làm Thủy Lợi Lớn”, nay chỉ làm một hồ chứa nhỏ hơn, vừa đủ phục vụ các xã ở huyện nhà. Lực lượng cơ giới được điều đi phục vụ “lễ ra quân” ở các công trình trọng điểm khác. Từ đây, công việc chủ yếu làm bằng sức lao động giản đơn của con người. Phóng viên đài, báo,văn nghệ sĩ lại được mời đến tuyên truyền cho công trường “đại thủ công” của huyện. Lần ra quân đợt II cũng đầy đủ khí thế của diễn văn, khẩu hiệu, cổng chào và cuốc xẻng. Kinh phí làm thủy lợi thêm hao hụt. Cuối cùng, huyện đề nghị xã tiếp quản mặt bằng, nghiên cứu đào một cái ao cá rô phi, thay cho phương án “thủy lợi”. Trong khi xã chưa nghiên cứu xong phương án “làm ao cá” thì một số dân lưu linh lưu địa, thấy vùng lòng hồ đã dọn dẹp sẵn, rủ nhau kéo tới cất lều dựng lán, hình thành một xã tân lập. Ngay ở chỗ trung tâm của công trình Thủy Lợi, nơi đặt cột mốc gọi là trái tim của lòng hồ, dân xã hè nhau đào một cái giếng. Lại trồng một cây đa lâm vồ bên bờ giếng để lấy bóng mát. Khu trung tâm lòng hồ sau này được gọi là khu Xóm Giếng. Mấy chục năm sau, cây đa lâm vồ trở thành cây đa cổ thụ. Xóm Giếng ngày một sầm uất. Các cụ già trong xã thường ngồi dưới gốc cây đa bên bờ giếng kể cho con cháu nghe những truyền thuyết về Xóm Giếng ngày xưa: – “Giếng này nước sâu và mát rượi, đủ sức cung cấp cho toàn xã. Chẳng thế mà ngày xưa người ta đã tính đào ở đây một cái hồ chứa một tỷ mét khối nước. Thuở ấy Xóm Giếng vui lắm, ngày nào cũng CỜ ĐÈN KÈN TRỐNG”. Đêm đêm, dưới ánh trăng, dân Xóm Giếng vẫn còn văng vẳng nghe khúc hát đồng dao truyền thống của lũ trẻ: “Quê em trồng khoai lang, đào lên thấy khoai mì…”. Hoàng Thiếu Phủ |